Showing posts with label tranh chấp biển Đông. Show all posts
Showing posts with label tranh chấp biển Đông. Show all posts

Monday, August 17, 2015

Bill Hayton - BIỂN ĐÔNG (Lời mở đầu)

Bản đồ

(Ba bản đồ đầu do người dịch vẽ lại trên Google Earth dựa theo ba bản đồ trong bản gốc Tiếng Anh, các thông tin chính thức của các bên liên quan và bản đồ trung tuyến của marineregions.org)



SCSBillHayton.JPG

Bản đồ Biển Đông thể hiện các yêu sách của các bên (ĐLB của TQ, lục giác của Philippines, hình gần như chữ nhật của Brunei, các đường 200nm của Việt Nam, Malaysia, Philippines, đường 350nm của Việt Nam) và một số biên giới biển đã thoả thuận (ở Vịnh Bắc Bộ và phần phía Nam của Biển Đông) cùng các trung tuyến với giả định các bên đều có cùng hiệu lực (đường xanh nhạt, nhỏ nét)




ParacelsBillHayton.JPG
Bản đồ quần đảo Hoàng Sa vẽ từ Google Earth cho thấy 2 nhóm đảo An Vĩnh (với vị trí một số đảo thể hiện bằng màu xanh nhạt) và nhóm Trăng Khuyết hay Lưỡi Liềm (với vị trí một số đảo thể hiện bằng màu đỏ gạch)
SpratlysBillHayton.JPG
Bản đồ quẩn đảo Trường Sa vẽ từ Google Earth cho thấy một số vị trí chiếm đóng của các bên: VN (hường), TQ (đỏ), Đài Loan (đỏ gạch), Malaysia (xanh nhạt), Philippines (xanh).


TheoryEquidisLineCol.jpg

Các yêu sách biển và EEZ hiện có từ các đảo lớn nhất (với các trung tuyến) và đường biên lãnh hải 12 nm từ các đảo đá (chỉnh từ bản đồ của I Made Andi Arsana of the Dept. of Geodetic and Geomatic Engineering, Faculty of Engineering, Gadjah Mada University, Indonesia)
Các chấm xanh là lãnh hải 12 nm của các thể địa lí có khả năng thoả mản tiêu chuẩn đảo
---------------------------------------------------


Lời mở đầu

(Introdution)


Một ngày trong tương lai, từ đảo Luzon của Philippines hai chiếc tàu tàu đánh cá có thể ra đi hướng về phía Tây trong vùng biển rộng. Họ sẽ trên đường tới một đảo san hô từng có lần được đặt tên theo tên cảng họ vừa rời đi, Bajo de Masingloc. Hơn 300 năm qua đảo san hô này có rất nhiều tên. Người Tây Ban Nha cũng gọi nó là Bãi cạn Maroona, người Anh gọi nó là Bãi cạn Scarborough, Quốc dân đảng Trung Quốc đặt tên cho nó Rạn đá Min'zhu (Dân chủ) , Cộng sản Trung Quốc đổi tên thành Hoàng Nham (Đá [màu] Vàng) -và gần đây nhất và ít phù hợp nhất, người Philippines yêu nước cho nó cái tên mới là Bãi cạn Panatag (Tĩnh Lặng). Khi họ đến nơi, đoàn người trên tàu sẽ thấy rất ít: chỉ đỉnh của một ngọn núi nổi lên từ đáy biển 4.000 mét bên dưới. Một tháp đá duy nhất đá đứng một mình giữa Biển Đông.

Nếu nó chỉ thấp hơn 3 mét, ngọn núi sẽ không đáng chú ý ngoài sự nguy hiểm nó sẽ gây ra cho tàu bè qua lại. Nhưng ngay cả lúc triều cao một vài mỏm đá vẫn chọc lên khỏi mặt nước, mỗi mỏm chỉ vừa đủ lớn để đứng lên trên. Và vì định nghĩa chính thức của đảo là ‘một khu đất hình thành tự nhiên có nước bao quanh, nằm trên mặt nước khi triều cao’, những mỏm đá vài mét tạo nên cả một sự khác biệt.[1] Quyền sở hữu được công nhận đối với một đảo cho chủ sở hữu các quyền đối với biển, với cá bơi lội xung quanh nó và các khoáng sản có thể nằm trên hoặc dưới đáy biển. Gần đây hơn, quyền sở hữu còn có ý nghĩa nhiều hơn nữa. Đối với một số người, nó đã trở thành sự khác biệt giữa niềm tự hào và nỗi nhục , giữa đia vị cường quốc và cũng nước tầm thường. Chính vì vậy mà vào ngày này trong tương lai hai chiếc tàu đánh cá đang cố gắng để đi tới đó.

Vào ngày giả định này, hai tàu đó đang chở những người Philippines đang vẫy cờ: đại biểu Quốc hội, cựu sĩ quan quân đội và người từng biểu tình trên đường phố. Dưới bóng đêm che phủ họ cố gắng len qua một tàu Cảnh sát biển Trung Quốc: ở đó để chỉ ngăn chặn một cuộc xâm nhập như thế. Họ gần như đạt được điều mình muốn. Trong khi tàu Trung Quốc đang tuần tra ở phía xa của đảo san hô họ lách nhanh tới lối vào đầm phá. Đó là một động tác nguy hiểm. Lối vào rộng 350 mét, nhưng các dòng chảy và sóng đẩy con tàu gần như nằm lên trên rạn đá. Ngay lúc đang đến gần họ nghe thấy một tiếng súng và đêm được sáng lên bởi một pháo sáng trên đầu. Một chiếc ca nô đang chuồi về phía họ với tốc độ cao và một loa tay gào to một cảnh báo bằng tiếng Anh: ‘Đây là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa xưa. Các vị phải rời khỏi khu vực này ngay lập tức. Rời ngay nếu không chúng tôi sẽ buộc phải có hành động.’ Nhưng người Philippines cứ tiếp tục: họ đang gần như ở bên trong đầm phá. Một cảnh báo tiếp: ‘Nếu không rời khỏi ngay lập tức, chúng tôi sẽ có hành động vũ trang đối với các vị. Hãy quay tàu trở lại’. Với chiếc đầu chỉ cách cửa đầm phá 10 mét, một phát súng nữa. Lần này không phải là pháo sáng. Đạn bay tung toé mặt nước.

Trên hai tàu đánh cá các ông gốcquân đội đang thúc giục thuyền trưởng tiếp tục đi tới. Họ đã bị bắn trước đó. Họ không phải bị đe dọa. Họ đã đi quá xa để phải bỏ cuộc bây giờ. Họ sẽ cắm các lá cờ của họ trên mảnh lãnh thổ này của Philippines. Một vụ cháy nổ ra trên boong. Một thủy thủ bị giết; một đại biểu quốc hội bị bắn trúng ở vai và hai nhà hoạt động khác bị thương nặng. Nhưng bây giờ hai chiếc tàu đang ở trong đầm phá - và người phe quân đội rút vũ khí cá nhân và bắn trả lại. Tàu cao tốc Trung Quốc lùi lại, nhưng con tàu mẹ đang chặn lối ra duy nhất của đầm phá. Hoảng loạn trên tàu bị đạn bắn thủng. Cứu cấp ban đầu được thực hiện và các trợ lí của Quốc hội sử dụng điện thoại vệ tinh để gọi điện cầu cứu và xin giúp đỡ. Phỏng vấn trực tiếp được đưa ra cho các phóng viên truyền hình không nói kịp thở. Tại Manila, đám đông vây quanh Bộ Quốc phòng và toà lãnh sự Trung Quốc, đòi hỏi hành động. Tại Bắc Kinh, đám đông khác ném đá vào toà đại sứ Philippines, chiến tranh trực tuyến bùng nổ, các trang web bị hack và tẩy xóa. Mọi người đều kêu gọi có hành động. Chính phủ Trung Quốc từ chối cho phép hai tàu đánh cá rời khỏi đầm phá, nói rằng hai tàu này đã tiến vào lãnh thổ của họ bất hợp pháp và phải bị xử lí theo pháp luật. Chính phủ Philippines đòi hỏi phả thả hai tàu này và tất cả mọi người trên tàu và phái tàu chiến lớn nhất, chiếc BRP Gregorio del Pilar, tới hiện trường.

Người Trung Quốc không lùi bước, vì vậy tàu Gregorio bắn một phát súng cảnh cáo. Không phản hồi. Lực lượng đặc biệt của hải quân Philippines được phái leo lên tàu Trung Quốc, đánh nhau bằng tay nổ ra trên đài chỉ huy, hơi cay được sử dụng và một người nào đó bắt đầu nổ súng. Sau đó, hai máy bay Trung Quốc cố ném bắn phá tàu Gregorio. Họ bắn trượt, nhưng đó là giọt nước tràn li: sau khi đã rút lực lượng đặc biệt về, Gregorio nả pháo vào tàu Trung Quốc, trúng gần đuôi tàu. Nó khập khiễng chạy đi và các nhà hoạt động Philippines thoát khỏi đầm phá và được chuyển lên tàu Gregorio để điều trị vết thuơng. Sự khiêu khích là quá mức chịu đựng của Bắc Kinh. Trong khi thế giới kêu gọi bình tĩnh và kiềm chế, một đội quân được phái đi khởi hành từ Tam Á, bộ chỉ huy hạm đội Nam Hải trên đảo Hải Nam.

Bảo hiểm hàng hải vượt khỏi trần, các chuyến tàu vận chuyển container bị hủy bỏ, các chuyển bay bị đổi lộ trình, các đường cung cấp chất bán dẫn bị gián đoạn và đúng vào lúc đó mạng lưới hậu cần bắt đầu tê liệt. Ngư dân ngưng đánh cá, chợ búa trống rỗng, công nhân đô thị bị đói, các nhà hoạt động trở nên giận dữ hơn, giá dầu tăng vọt, các chính trị gia hét to hơn, cảnh báo khốc liệt hơn: tất cả không có kết quả. Người Trung Quốc thực hiện cuộc đổ bộ đầu tiên lên Đảo Parola (Song Tử Đông), phía Bắc của quần đảo Trường Sa, hàng trăm km về phía Tây Bãi cạn Scarborough. Đơn vị trú đóng nhỏ nhoi  của Philippines chỉ có thể kháng cự chiếu lệ. Nhưng cách đó 3 km, lực lượng Việt Nam đóng trên Đảo Song Tử Tây trang bị tốt hơn và xem hành động này là một mối đe dọa chết sống. Với pháo và tên lửa trên bờ họ nhắm vào hạm đội Trung Quốc. Cả hai bên đều gọi không quân yểm trợ.

Cuộc giao tranh lan ra khắp tất cả các đảo khác trong Quần đảo Trường Sa - đổ bộ được thực hiện trên các rạn san hô và các bãi cát trên một khu vực rộng lớn của đại dương. Washington lặp đi lặp lại các đe dọa về lợi ích quốc gia sống còn về tự do trên biển. Mĩ chuyển các nhóm tàu sân bay vào khu vực; các tàu ‘làm dáng’từ các nước khác tham gia cùng họ trong một màn phô diễn về quyết tâm quốc tế. Cuộc đối đầu giữa tàu Trung Quốc và Mĩ ngày càng trở nên ngày càng căng thẳng: có va chạm trên biển và tàu ngầm chơi trò mèo vờn chuột dưới sóng biển. Tàu chiến của Nhật Bản được lệnh hộ tống tàu chở dầu. Trong thời đại hậu Fukushima công nghiệp điện của nước này cứ 6 giờ cần một tàu chở dầu cặp bến để giữ cho điện luôn chạy trên lưới. Chính phủ Ấn Độ đề nghị trợ giúp cho đối tác chiến lược Việt Nam, tăng mức được thua thậm chí cao hơn. Và sau đó một người nào đó ở Delhi xác định rằng đây là thời điểm tốt nhất để giành lại lãnh thổ đã mất ở Himalaya ...

Đó chỉ là một kịch bản và thậm chí khi tôi viết điều này thì nhiều người tốt đang cố sức tìm những cách để ngăn chặn nó không bao giờ diễn ra. Nhưng cũng có những lực lượng đẩy Châu Á theo hướng ngược lại. Cạnh tranh kinh tế, logic của siêu cường và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đang làm tăng nguy cơ hội xung đột. Biển Đông là nơi đầu tiên mà tham vọng của Trung Quốc đã đến mặt đối mặt với quyết tâm chiến lược của Mĩ. Hàng chục tay chơi khác, từ các nước vừa cho tới các chính trị gia nhỏ nhen, đang tìm cách thủ lợi từ cuộc đối đầu diễn ra. Lợi ích đang được đánh giá và các liên minh được hình thành và chỉnh đổi: quan hệ đối tác chiến lược, các hiệp ước phòng thủ hỗ tuơng - một mạng lưới các cam kết ràng buộc thế giới với tương lai của khu vực này. Điều gì xảy ra nếu có ai đó bắn một hoàng tử? (vụ hoàng tử  Áo – Hung Franz Ferdinand bị ám sát ngày 28 tháng 6 năm 1914 được coi là ngòi nổ của Thế chiến thứ nhất - ND)


**********

Để hiểu được tầm quan trọng của Biển Đông với thế giới rộng lớn hơn, hãy bay từ Sân bay Changi của Singapore vào một ngày trời trong và, khi bạn lên cao, nhìn xuống mặt nước bên dưới. Hàng trăm tàu thuyền, từ những chiếc tàu đánh cá nhỏ nhất cho đến các tàu vận tảthô lớn nhất, lắp đầy các tuyến đường thuỷ: tàu kéo, tàu đánh cá, tàu container, tàu chở xe, tàu hàng chuyển tải mọi thứ của cuộc sống hiện đại. Dầu hướng về phía Đông tạo năng lượng cho các nền kinh tế khổng lồ ở đầu kia của Biển Đông: Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Về phía Tây là các dòng sản phẩm đủ loại từ các xưởng của thế giới: phần cứng và phần mềm, mũ nón, giày dép. Dự đoán tốt nhất cho thấy hơn một nửa thương mại đường biển của thế giới đi qua Eo biển Malacca, cùng với một nửa lượng khí thiên nhiên hóa lỏng và một phần ba lượng dầu thô của thế giới. Nếu tàu thuyền ngừng chuyển động thì không bao lâu đèn điện ở một số nơi trên thế giới sẽ bắt đầu tắt đi.

Biển Đông vừa là điểm tựa của thương mại thế giới và một lò lửa xung đột. Có những trận chiến vào năm 1974 và 1988 và đã có hàng chục cuộc đối đầu bạo lực kể từ đó. Hoa Kì đã can dự vào từ đầu và Ấn Độ đã bắt đầu có quan tâm. Khu vực này đáng được chúng ta chú ý tuy nhiên, ngoài một nhóm nhỏ các học giả, các chuyên gia được trả lương và những kẻ đam mê khác, nó rất ít được hiểu rõ. Phần lớn trong số những chân lí được chấp nhận về các tranh chấp, được lặp đi lặp lại trong hầu hết các phương tiện truyền thông, thì hoặc là không đúng sự thật hoặc chưa được chứng minh. Biển Đông không phải giàu tài nguyên dầu và khí đốt một cách đặc biệt, các căn cứ quân sự trên các đảo tranh chấp không có tính ‘chiến lược’ một cách đặc biệt vì hầu như tất cả đều có thể bị phá hủy với một phát tên lửa duy nhất, các tranh chấp lãnh thổ liên quan đến 6 quốc gia, không phải 5, vì Indonesia cũng bị ảnh hưởng mặc dù họ giả vờ không liên quan và các ‘yêu sách lịch sử’ của các bên tranh chấp thật ra chỉ là mới đây.

Phần lớn các tài liệu quan trọng về Biển Đông - ít nhất là trong Tiếng Anh - có thể truy nguồn các tài liệu tham khảo ban đầu của chúng từ hai công trình học thuật phương Tây: bài viết năm 1976 của nhà sử học người Đức, Dieter Heinzig, mang tên ‘Disputed Islands in the South China Sea’ (Các đảo tranh chấp ở Biển Đông), và cuốn sách năm 1982 của các nhà địa lí Mĩ Marwyn Samuels, Contest for The South China Sea (Cuộc thi thố giành Biển Đông). Chúng là những mảnh công trình tiên phong và ấn tượng, mang lại nhiều hiểu biết cần thiết về chủ đề này. Nhưng lịch sử mà cả hai cuốn sách kể lại dựa phần lớn vào các bài báo đăng trên các tạp chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi họ xâm lược Quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974. Một đã được công bố trong ấn bản tháng 3 năm 1974 của Nguyệt san thập niên 70 (Ch'i-shi nien -tai yüeh-k’an [Thất thập niên đại nguyệt san]) và hai trong ấn bản tháng 5 năm 1974 của Minh Báo (Ming Pao). Những bài báo này rõ ràng là không phải là những mảng học thuật trung tính: chúng có ý định biện minh cho cuộc xâm lược. Không thể trách Heinzig và Samuels về việc này. Có rất ít các tài liệu khác có thể tham khảo vào thời điểm đó.

Tuy nhiên, bằng cách dựa vào các công trình lúc đầu (và các công trình dựa trên những công trình này), quá nhiều học giả và nhà bình luận, trên thực tế, vẫn còn cho phép ba bài báo Trung Quốc này đóng khung toàn bộ cuộc tranh luận về Biển Đông, 40 năm sau khi chúng được công bố. Kiến thức về lịch sử và tình hình hiện tại về Biển Đông đã tăng lên nhanh chóng kể từ đó, cho phép các nhà nghiên cứu phải xem xét lại các điều chắc chắc cũ. Có quá nhiều loại tài liệu mới này đang nằm chờ đuợc đọc trong tạp chí khoa học. Tôi hi vọng rằng bằng cách đưa một số trong công trình đó vào tầm chú ý rộng rãi hơn, cuốn sách này sẽ góp phần vào việc thay đổi các điều kiện của cuộc tranh luận.

Có nhiều thứ hơn nữa vể Biển Đông hơn là tranh cãi có vẻ thuộc loại Lilliput (vặt vãnh) đối với các mỏm đá cằn cỗi. Nhiều nền văn hóa bí ẩn thịnh rồi suy xung quanh bờ biển của nó, những kẻ xâm lược đến rồi đi, những cơn gió thương mại và chiến tranh đã kết nối trực tiếp Biển Đông với số phận của các đế quốc xa xôi trong nhiều thế kỉ. Lịch sử của nó cũng là một lịch sử toàn cầu. Tương lai của nó phải là một mối quan tâm toàn cầu. Trong thời đại của chúng ta, những gì xảy ra ở Biển Đông sẽ xác định tương lai. Việc trỗi dậy của Trung Quốc sẽ dẫn tới tranh chấp giữa các siêu cường hay không? Liệu các lãnh đạo Trung Quốc có ý định chơi theo luật chơi quốc tế hoặc thách thức chúng? Liệu Hoa Kì có ý chí để giữ vững lập trường của mình? Các nước Đông Nam Á sẽ được hay thua từ cuộc thi thố siêu cường? Việc săn lùng hydrocarbon đã và đang ảnh hưởng đến xung đột như thế nào? Trên tất cả, có thể làm gì để ngăn chặn chiến tranh nổ ra? Các nguồn tài nguyên của Biển Đông có thể chia sẻ công bằng cho hàng trăm triệu người dân, chủ yếu là người nghèo sống xung quanh bờ của nó theo cách nào? Mời đọc tiếp.


Yangon, Myanmar tháng 12 năm 2013





[1] Công ước Liên HIệp Quốc về Luật Biển, Điều 121.


_____________________________________________________________________

Thursday, August 28, 2014

Tranh chấp biển Đông: Vẫn không có bằng chứng lịch sử cho tuyên bố của Trung Quốc

Tranh chấp biển Đông: Vẫn không có bằng chứng lịch sử cho tuyên bố của Trung Quốc

South China Sea Disputes: Still No Evidence of Historical Chinese Claim

Bill Hayton
RSIS (26/8/2014)

Tóm tắt

Mặc dù Trung Quốc khẳng định có các yêu sách lịch sử đối với nhiều phần của biển Đông, lập luận gần đây của một số nhà bình luận lặp lại một số những hiểu lầm thường được tin là đúng về các tranh chấp biển Đông và không đưa ra được bằng chứng hậu thuẫn các yêu sách của Trung Quốc.
  

Bình luận

Tiến sĩ Li Dexia (Lí Đức Hà) và ông Tan Keng Tat đã đáp lại việc tôi kêu gọi những người ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông hãy cung cấp chứng cứ có thể kiểm chứng được hậu thuẫn cho lập luận của họ (Bình luận trên RSIS ngày 3/7/2014). Tuy nhiên trả lời của họ cho thấy nhiệm vụ này có vẻ khó khăn tới dường nào. Họ không thể chứng minh Trung Quốc đã có đưa ra yêu sách đối với bất kì đảo cụ thể nào trước năm 1909, và không có bất kì một khẳng định nào của họ có chứng cứ có thể kiểm chứng được. Một số khẳng định có thể chứng minh được là không thật.

Đâu là bằng chứng cho thấy đã có quan chức thời tiền hiện đại của Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền với bất kì thể địa lí nào ở biển Đông? Không có bằng chứng nàocho thấy Zheng He (Trịnh Hoà) hay đô đốc nhà Minh nào khác đã làm như vậy. Điều này cũng đúng với đội quân viễn chinh Mông Cổ một thế kỉ trước đó. Khoảng 500 năm trước, người đi biển thường cho tàu thuyền chạy ven bờ biển này để tránh nguy hiểm của các rạn san hô chưa được ghi nhận vốn nằm ở trung tâm của nó. Nếu hai tác giả này biết có tài liệu hay bằng chứng nào khác chứng minh điều ngược lại thì đây chính là lúc để công bố các tài liệu tham khảo chính xác đó.

Mơ hồ vẫn còn đó

Chắc chắn có nhiều bản văn xưa của Trung Quốc có nói đến các 'đảo' nhưng vẫn còn mơ hồ ở mức cùng cực, không liên quan đến những vùng đất cụ thể và không đưa ra được bằng chứng nào về khám phá hay tuyên bố chủ quyền. Một số là các báo cáo theo các thông tin do người nước ngoài tới Trung Quốc đưa ra, một số khác đề cập đến những chỗ bí ẩn gần lối vào địa ngục và một số khác nữa lại là bản sao các bản đồ châu Âu.

Tiến sĩ Li và ông Tan đưa ra một số điểm cụ thể khác. Tôi cần phải lần lượt bàn tới từng điểm một.

Hai tác giả này đã không thuyết phục được tôi rằng cái tên ‘Xisha’ (Tây Sa) – chỉ quần đảo Hoàng Sa đã xuất hiện trong các tài liệu của Trung Quốc trước cái tên ‘West Sand’ (Cát Tây) xuất hiện trên bản đồ phương Tây. Tôi trong tư thế sẵn sàng chấp nhận rằng người châu Âu đã tiếp nhận các tên địa phương dùng cho các thể địa lí nhưng trong trường hợp này, tôi tin rằng điều ngược lại đã xảy ra. Tôi sẵn sàng chấp nhận bị chứng minh là sai - nhưng chỉ khi đưa ra được bằng chứng.

Khẳng định rằng công ước năm 1887 giữa Pháp và Trung Quốc quy quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc hiển nhiên là không đúng sự thật. Công ước (kí kết tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887) chỉ liên quan cụ thể tới khu vực Đông Dương mà thực dân Pháp gọi là "Tonkin" (Bắc Kì) - phần cực bắc của vùng đất bây giờ là Việt Nam.

"Kiến thức phổ thông” chứ không phải bằng chứng lịch sử

Tôi sẽ thích thú khi biết thêm về 'bia đá" do các quan chức Trung Quốc năm 1902 và do nhóm hải quân Trung Quốc được phái đến đảo Duy Mộng năm 1907 đặt ở quần đảo Hoàng Sa. Tôi đã tìm hiểu kĩ hai sự kiện này và không tìm ra bằng chứng vững chắc nào cho thấy chúng đã thực sự đã diễn ra. Tiến sĩ Li và ông Tan dựa vào nguồn thông tin gốc nào cho khẳng định này?

Càng nghiên cứu các yêu sách của Trung Quốc tôi càng thấy chúng được dựa trên những khẳng định thiếu dẫn chứng đã được lặp đi lặp lại trong nhiều thập kỉ thiếu việc kiểm tra có phê phán. Nhiều khẳng định như vậy đã trở thành một phần của ‘kiến thức phổ thông’ quốc tế về biển Đông. Các khẳng định đó nằm trong bài viết của Hungdah Chiu và Choon-ho Park mà hai tác giả có nói đến, trong bài viết năm 1976 ‘Disputed Islands in the South China Sea’ (Quần đảo tranh chấp ở biển Đông) của Dieter Heinzig, và cũng có trong cuốn sách của Marwyn Samuels năm 1982 ‘Contest for the South China Sea’ (Cuộc thi thố cho Biển Đông) mà sau đó nhiều học giả quốc tế đã dựa vào.

Các bài viết của Heinzig và Samuels thuộc dạng các công trình khai phá, đem lại nhiều hiểu biết cần thiết về chủ đề này. Tuy nhiên, nội dung các bài viết của cả hai phần lớn dựa vào các bài báo công bố trên các tạp chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi Trung Quốc chiếm đóng nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974. Một bài báođược công bố trong ấn bản tháng 3 năm 1974 của Nguyệt san thất thập niên đại (Ch'i-shi nien-tai Yueh-k'an) và hai bài báo trong ấn bản tháng 5 năm 1974 của tờ Minh Báo (Ming Pao). Những bài báo này rõ ràng không phải là những bài viết trung lập về học thuật: chúng được dùng để biện minh cho cuộc xâm lược đó.

Trích dẫn lọc lựa

Có ít ra hai trường hợp trong bài bình luận, hai tác giả trích dẫn một cách lọc lựa các tài liệu lịch sử. Trường hợp đầu tiên liên quan tới bức thư của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi cho đồng nhiệm Trung Quốc tháng 9 năm 1958 - để đáp ứng với 'Tuyên bố về Lãnh hải " của Bắc Kinh. Tuyên bố đó mở rộng lãnh hải mà Trung Quốc yêu sách ra đến 12 hải lí. Động thái này nhằm mục đích ngăn chặn việc tàu của Mĩ xen vào hậu thuẫn cho các đơn vị của Đài Loan trú đóng trên hai đảo Kim Môn (Jinmen) và Mã Tổ (Mazu), mà vào lúc đó đã bị quân đội Trung Quốc bắn pháo vào.

Phần thứ hai của Tuyên bố năm 1958 khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các thể địa lí của biển Đông. Toàn văn lá thư của Phạm Văn Đồng gửi cho Chu Ân Lai lờ đi phần thứ hai này dù tán đồng phần đầu. Câu văn trọn vẹn là "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc." Đúng là bức thư đó không bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc một cách minh bạch, nhưng nó cũng không chấp nhận [toàn bộ] tuyên bố này.

Hai tác giả cũng trích dẫn sai Tuyên bố Cairo ngày 27 tháng 11 năm 1943 như sau: "Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ khác mà nó đã lấy được bằng bạo lực và tham lam." Tuy nhiên, đó không phải là lời lẽ thật sự của Tuyên bố.

Câu văn thật sự là: "... Nhật Bản sẽ bị tước hết tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà nước này chiếm hữu hay chiếm đóng từ lúc mở đầu chiến tranh thế giới thứ I vào năm 1914, và rằng tất cả các vùng lãnh thổ mà Nhật Bản đã lấy cắp của Trung Quốc, như Mãn Châu, Đài Loan, và Bành Hồ, sẽ phải được trả lại cho Trung Hoa Dân Quốc. Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các lãnh thổ khác mà nó đã lấy được bằng bạo lực và tham lam."

Không có đề cập đến bất kì thể địa lí nào trong biển Đông, ngoại trừ Formosa (Đài Loan) và Bành Hồ và không nói gì về ‘sở hữu' của các vùng lãnh thổ khác mà Nhật Bản phải bị trục xuất.

Cần phải phân nhỏ thành các yêu sách cụ thể

 Việc tôi khẳng định rằng "Trung Quốc, Việt Nam và Philippines tuyên bố quyền sở hữu các nhóm đảo lớn như thể chúng là đơn vị duy nhất" là đúng theo thực tế.

Tôi chưa bao giờ nói Philippines yêu sách quần đảo Hoàng Sa hay Việt Nam yêu sách Pratas (TQ gọi là Đông Sa). Tuy nhiên cả hai nước này, giống như Trung Quốc, quả có yêu sách các nhóm đảo lớn như thể chúng là một đơn vị duy nhất.

Philippines yêu sách một nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà họ gọi là nhóm đảo Kalayaan và Việt Nam yêu sách trọn quần đảo Paracels với tên là ‘Hoàng Sa’ và trọn quần đảo Spratlys với tên là ‘Trường Sa’. Các tranh chấp biển Đông sẽ trở nên giải quyết dễ dàng hơn nếu các yêu sách lớn này được chia nhỏ thành các yêu sách cụ thể đối với các thể địa lí cụ thể, được hậu thuẫn với bằng chứng cụ thể.

Tôi không vẩy cờ [ủng hộ] các yêu sách của Việt Nam, Philippines, Pháp hay thậm chí của Anh đối với các thể địa lí trong biển Đông. Tôi chỉ đơn thuần chỉ ra rằng phía Trung Quốc đã không đưa ra được bằng chứng lịch sử thuyết phục cho các khẳng định của chính họ.

Chấn chỉnh tình trạng này đòi hỏi phải có bằng chứng về những hành động chủ quyền thực tế thể hiện bởi các đại diện của chính phủ. Tôi khẳng định rằng phía Trung Quốc không có hành động chủ quyền trước ngày 6 tháng 6 năm 1909 đối với trường hợp quần đảo Hoàng Sa và ngày 12 tháng 12 năm 1946 ở quần đảo Trường Sa.

(Xem thêm Quần đảo Hoàng Sa: Bằng chứng lịch sử phải được kiểm tra của cùng tác giả)

Tuesday, June 17, 2014

Giàn khoan 981 không nằm trong vùng biển Việt Nam?

Giàn khoan 981 không nằm trong vùng biển Việt Nam?

(Bài đã đăng trên Boxit Viet Nam ngày 17/06/2014 và trên Dân Luận ngày 18/06/2014)

Ngày 08/06/2014, trang web của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đăng bài “Giàn khoan 981 tiến hành hoạt động tác nghiệp: Hành vi khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc”[1] nhằm biện hộ cho hành động ngang ngược của mình đồng thời vu cáo Việt Nam trước công luận thế giới. Bài viết đó đưa ra nhiều luận điểm sai trái, nhưng trước mắt chúng tôi chỉ tập trung phân tích luận điểm chính trong mục III cho rằng khu vực đặt giàn khoan không thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa (CS) của VN.

Cụ thể là theo Bộ Ngoại giao TQ “Giữa quần đảo Tây Sa của Trung Quốc và bờ biển Việt Nam tồn tại vấn đề phân định ranh giới, cho đến thời điểm này, hai bên vẫn chưa phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tại vùng biển này. Hai bên đều có quyền đưa ra chủ trương về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Song, bất cứ phân định ranh giới theo nguyên tắc gì, vùng biển này đều không thể trở thành vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.”

Mặc dù Việt Nam có nhiều bằng chứng lịch sử và pháp lí để chứng minh chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa (mà TQ gọi là Tây Sa) nhưng để thấy lập luận của Bộ Ngoại giao TQ sai trái, bất chấp luật pháp và tập quán quốc tế đến mức nào tạm thời thử giả định quần đảo Hoàng Sa (HS) là của TQ như họ nói. Sau đó, thử xét việc phân giới giữa HS và bờ biển VN theo luật lệ quốc tế xem có đúng là dù “phân định ranh giới theo nguyên tắc gì, vùng biển này đều không thể trở thành vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam” hay không.

Cơ sở cho việc phân định sẽ là các điều khoản liên quan trong Công ước LHQ về luật biển (UNCLOS) mà cả TQ và VN đều là thành viên cũng như các án lệ quốc tế có liên quan.

Cơ sở từ UNCLOS là Điều 74 [83], đoạn 1 quy định:
“Việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế [thềm lục địa] giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng (người viết nhấn mạnh).”

Để đi đến một giải pháp công bằng theo quy định này phải xét đến nhiều yếu tố, điều kiện cụ thể liên quan đến độ dài và hình dạng bờ biển, vị trí và tính chất các đảo, vấn đề kinh tế-xã hội, an ninh, tài nguyên… Tập quán quốc tế và nhiều án lệ từ trước tới nay thường dùng độ dài bờ biển tương ứng làm tiêu chuẩn chính để kiểm tra và điều chỉnh cho tính công bằng. Theo đó, đường phân giới thường là trung tuyến [cách đều] có điều chỉnh theo tỉ lệ thích hợp dựa trên độ dài hai bờ biển tương ứng (tỉ lệ khoảng cách từ điểm trên đường phân giới tới điểm cơ sở của đảo và tới điểm cơ sở của bờ biển đất liền bằng tỉ lệ điều chỉnh) và sau đó có thể tinh chỉnh theo các yếu tố thích đáng khác hay đơn giản hoá cho dễ thực hiện. Do độ dài bờ biển đất liền nói chung lớn nhiều lần so với độ dài bờ biển các đảo nhỏ nên tỉ lệ này thường nghiêng về bờ biển đất liền.

Thông lệ quốc tế cho ta nhiều ví dụ về việc điều này (các đảo chỉ được cho một phần hiệu lực hoặc thậm chí không có được hiệu lực) trong các hiệp định phân giới biển giữa Indonesia và Singapore, Iran và Qatar, Bahrain và Saudi Arabia, Iran và the United Arab Emirates, Canada và Denmark (Greenland).[2] Đặc biệt, hiệp định phân giới vịnh Bắc Bộ năm 2000, chính TQ cũng thoả thuận với VN chỉ cho đảo Bạch Long Vĩ của VN một phần tư hiệu lực. (Xem H.1)

H.1: Đảo Bạch Long Vĩ được hưởng khoảng ¼ hiệu lực (tỉ lệ 15 hl:55hl ≈ 1:3,7)

Đối với các vụ đã đưa ra toà án quốc tế xảy ra trước UNCLOS hoặc trước khi UNCLOS có hiệu lực thì cũng cho ta nhiều ví dụ. Vụ Tunisia - Libya năm 1982 thì đảo Kerkennah (180 km², 15 000 dân) chỉ được cho một phần hiệu lực do có kích thước nhỏ so với bờ biển của Lybya. Vụ Libya - Malta năm 1985, đảo chính của Malta (122 km², 350 000 dân) cũng chỉ được cho nửa hiệu lực. Vụ Pháp - Anh năm 1977, trong 48 đảo/đá của quần đảo Scilly thì trọng tài chỉ cho 6 đảo có người ở phân nửa hiệu lực và đặc biệt là các đảo/đá nằm sai phía của trung tuyến không ảnh hưởng đến việc phân giới... Đặc biệt, vụ Nicaragua - Colombia sau khi UNCLOS có hiệu lực, mới được phân xử vào năm 2012 khá tương tự với trường hợp HS của VN thì Toà trọng tài dùng tỉ lệ 1:3[3] (xem H.2). Tuy nhiên, trước nhất lưu ý rằng trong vụ này quần đảo San Andrés, Providencia và Santa hoàn toàn thuộc Colombia, không có vấn đề tranh chấp chủ quyền. Hơn nữa, đó là một quần đảo lớn có diện tích đất tổng cộng khoảng 52,5 km² và cư dân tại chỗ hơn 75 ngàn người.[4] Dù vậy, chỉ các đảo lớn thoả đúng định nghĩa ở điều 121 UNCLOS như Providencia / Santa Catalina (18 km²), San Andrés (26 km²), Albuquerque mới được Toà trọng tài xem xét tới EEZ với tư cách từng đảo riêng. Các điểm cơ sở đều nằm trên các đảo này, không có điểm cơ sở nào trên các thể địa lí không phải là đảo theo nghĩa của UNCLOS như bãi Quitasueño hoặc đảo [đá] Serrana… Hoàn toàn không có đường cơ sở thẳng chung lạ lùng như TQ tự vẽ cho HS để làm cơ sở cho việc phân định ranh giới biển. Ngay cả trong vụ Qatar – Bahrain năm 2002, dù Bahrain trên thực tế là một quần đảo vốn được phép có đường cơ sở thẳng theo UNCLOS[5] nhưng toà vẫn không chấp nhập đường cơ sở thẳng nối các điểm ngoài cùng của các đảo đá của quần đảo. Lí do là vì Bahrain đã không đưa vào hồ sơ của mình.

Trong khi đó, HS có chủ quyền đang tranh chấp (thuộc VN nhưng đang bị TQ kiểm soát) chỉ gồm những đảo/ đá nhỏ rải rác với diện tích đất tổng cộng chỉ khoảng 7,75 km² (bé hơn quần đảo San Andrés, Providencia và Santa khoảng 7 lần) còn cư dân thì chỉ độ 1 000 người do TQ đưa tới để thể hiện chủ quyền như chính Tiêu Tiệp (Xiao Jie/肖捷), Thị trưởng Tam Sa thú nhận "Ở đây không có đất trồng trọt. Mục tiêu chính là để bảo vệ chủ quyền trên biển của đất nước chúng tôi."[6] Đặc biệt lưu ý rằng TQ không phải là nước quần đảo và trong quần đảo HS may ra chỉ có đảo Phú Lâm mới có thể là đảo không phải đảo đá theo điều 121 UNCLOS[7]. Như vậy, ngay cả khi giả định TQ có chủ quyền đối với HS là đúng thì so với những điều vừa trình bày, khó có thể có toà án quốc tế nào chấp nhận đường cơ sở thẳng mà TQ tự vẽ cho HS. Do đó, dù vị trí giàn khoan có gần với đường đó bao nhiêu cũng đều vô nghĩa.

H. 2: Đường phân giới (màu đỏ) giữa quần đảo San Andrés, Providencia và Santa và Nicaragua được điều chỉnh theo tỉ lệ 1:3 và được đơn giản hoá chứ không phải là trung tuyến [cách đều]
Hai đảo [đá] Quitasueño và Serrana chỉ được hưởng lãnh hải 12 hải lí

Nếu vận dụng luật pháp và thông lệ quốc tế như vừa trình bày vào từng đảo cụ thể thì cũng chẳng cải thiện thêm điều gì về giá trị của tuyên bố nói trên của TQ. Trước nhất, hãy xét đảo Tri Tôn là đảo gần giàn khoan nhất. Theo những nghiên cứu về địa pháp lí thì đảo Tri Tôn không thể là một đảo theo điều 121 UNCLOS mà chỉ là đảo đá. Do đó, nó chỉ có lãnh hải 12 hải lí, không được hưởng EEZ lẫn thềm lục địa . Do đó, dù giàn khoan 981 ở gần đảo Tri Tôn (17 hải lí và 25 hải lí), nó vẫn nằm ngoài vùng biển mà đảo này có thể được hưởng theo UNCLOS, tức là vẫn nằm trong EEZ của VN (xem H.3)
Ngoài đảo này ra, trong quần đảo HS chỉ có đảo Phú Lâm với diện tích khoảng 2,13 km² (tính luôn phần TQ mới mở rộng thêm) là có khả năng tạm coi là một đảo theo UNCLOS như đã nêu. Tuy nhiên, nếu chú ý tới tỉ lệ khoảng cách từ vị trí giàn khoan 981 tới bờ biển VN và tới đảo này là 103 hl:132 hl (≈1:1,3) và 88 hl:153 hl (≈1:1,74) thì hai tỉ lệ này quá lớn so với tỉ lệ 1:3 trong vụ Nicaragua và Colombia vừa nêu. Đặc biệt 2 tỉ lệ này cũng lớn hơn nhiều so tỉ lệ điều chỉnh 15 hl:55 hl (≈1:3.7)[8] dành cho đảo Bạch Long Vĩ (có diện tích tương đương với Phú Lâm và nhất là thoả mản chế độ đảo của theo điều 121 UNCLOS) mà VN và TQ đã thoả thuận năm 2000. [9] Ngoài ra, đáng lưu ý rằng đảo Phú Lâm không có nước ngọt, phải nhờ vào việc tích trữ nước mưa và nước ngọt đưa từ Hải Nam tới để sinh hoạt[10] cùng với điều kiện đất trồng thiếu thốn và cư dân tạm bợ như thị trưởng Tam Sa thú nhận như đã nêu. Do đó, khó có cơ sở để cho rằng nó có thể ‘duy trì được sự cư trú của con người và có đời sống kinh tế riêng’ để được hưởng quy chế đảo như quy định trong điều 121 UNCLOS như chúng ta giả định. Như vậy, khá chắn chắn để nói rằng theo UNCLOS, tập quán và các án lệ quốc tế thì chỗ TQ đặt giàn khoan 981 (trước và sau) đều nằm trong EEZ của VN.

H.3: tỉ lệ khoảng cách từ 981 đến Phú Lâm và đến bờ biển đất liền VN 88:153 (hay tới đảo Lí Sơn 88:141) khó cho phép giàn khoan nằm trong EEZ, nếu có của đảo Phú Lâm.

Theo phân tích trên, rõ ràng TQ đã hết sức hồ đồ khi nói rằng dù “phân định ranh giới theo nguyên tắc gì, vùng biển này đều không thể trở thành vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.” Họ đã hoàn toàn phớt lờ luật pháp, thông lệ quốc tế và ngay cả luật pháp của chính họ[11]. Nếu TQ tin chắc rằng câu phát biểu này là đúng thì hãy rút lại tuyên bố ngày 25/8/2006 vể việc không chấp nhận các thủ tục giải quyết tranh chấp theo quy định của điều 298 UNCLOS[12], gác vấn đề chủ quyền để giải quyết sau và cùng VN ra toà án quốc tế nhờ phân xử về hiệu lực của quần đảo HS để làm sáng tỏ ‘chính nghĩa’ của mình. Liệu TQ có dám thực hiện điều này không?

Phan Văn Song (CTV Quỹ NCBĐ)
Bài viết được sự góp ý của Dương Danh Huy (TV Quỹ NCBĐ)





[1] Xem BNG TQ http://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/zxxx_662805/t1163264.shtml (tiếng Anh) hoặc Tiếng hát hữu nghị http://vietnamese.cri.cn/481/2014/06/09/1s199588.htm (tiếng Việt)
[2] Xem Jayewardene, Hiran W. The Regime of Islands in International Law, Dordrecht: Martinus Nijhoff (1990).
[3] Tỉ lệ độ dài bờ biển tương ứng là 65 km:531 km ≈ 1:8,2. Các thể địa lí ở HS đều nhỏ hơn nhiều và chỉ có một số ít có thể được tính nên tỉ lệ bờ biển của HS với độ dài bờ biển VN tương ứng có nhiều khả năng cũng không chênh lệch lớn với tỉ lệ này.
[5] Theo điều 47 UNCLOS thì các quốc gia quần đảo như Philippines, Indonesia… có thể vẽ đường cơ sở thẳng cho quần đảo.
[6] Xem Geoff A. Dyer, “A line with nine dashes” http://www.viet-studies.info/kinhte/LineWithNineDashes_Dyer.htm,  bản dịch tiếng Việt ở đây: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7384
[7] Điều 121 Công ước LHQ về Luật biển quy định về Chế độ đảo như sau:
1.        Đảo (island) là một vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc xung quanh, nổi trên mặt nước khi triều cao.
2.        Ngoại trừ [trường hợp] như quy định trong điểm 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo được xác định theo đúng các quy định trong Công ước cho lãnh thổ đất liền khác.
3.         Đảo đá (rock) không thích hợp cho việc cư trú của con người và không có đời sống kinh tế riêng thì sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa..
[8] Theo các thông tin chính thức đảo Bạch Long Vĩ được 25% hiệu lực hay tỉ lệ điều chỉnh là 1:3 (có thể do đo đạc chưa thật chính xác hoặc muốn cho thấy rằng thoả thuận này là khá công bằng).
[9] Nếu dùng khoảng cách từ giàn khoan tới đảo Lí Sơn (như trong vụ Nicaragua và Colombia) thì các tỉ lệ có được còn lớn hơn nhiều nữa (103 hl:119 hl ≈ 1:1,15 và .88 hl:141 hl ≈  1:1,6).
[10] Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Woody_Island_(South_China_Sea) (phần Ecology and resources).
[11] Đoạn 3 Điều 2 của luật trong luật về EEZ và CS của TQ năm 1998 nêu: “Các yêu sách mâu thuẫn liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ được giải quyết, trên cơ sở luật pháp quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc công bằng (người viết nhấn mạnh), bởi một hiệp định phân định cho các khu vực yêu sách đó.”

Wednesday, June 19, 2013

Biển Đông: tranh chấp đang diễn tiến giữa Trung Quốc và các nước láng giềng


Biển Đông: tranh chấp đang diễn tiến giữa Trung Quốc và các nước láng giềng



Robert Beckman
Dịch: Nguyễn Trịnh Đôn, Phan Văn Song
Hiệu đính: Dương Danh Huy, Phạm Thanh Vân

(Bản dịch đã đăng trên Tuần Việt Nam tại http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2013-06-14-tranh-chap-dang-dien-tien-giua-trung-quoc-va-cac-nuoc-lang-gieng và tại http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2013-06-17-trung-quoc-van-co-tinh-nhap-nhang-)



Biển Đông được cho là có nguồn tài nguyên phong phú. Trong bối cảnh căng thẳng gia tăng trong khu vực, Robert Beckman xem xét lập trường của mỗi quốc gia có biển trong khuôn khổ của Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS).

Có một số nhóm đảo có tranh chấp ở biển Đông. Quần đảo Trường Sa là nguồn gốc gây căng thẳng cao nhất và thậm chí có thể là nguồn gốc gây ra xung đột. Quần đảo này nằm ở trung tâm biển Đông, phía bắc đảo Borneo (gồm Brunei Darussalam và hai bang phía đông của Malaysia là Sarawak và Sabah), phía đông của Việt Nam, phía tây của Philippines, và phía nam đảo Hải Nam của Trung Quốc. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đòi chủ quyền toàn bộ quần đảo Trường Sa , trong khi Malaysia và Philippines đòi chủ quyền một số đảo và các cấu trúc địa lí khác ở đó. Brunei đã thiết lập một vùng biển chồng lên một rạn đá phía Nam, nhưng không đưa ra bất kì tuyên bố chủ quyền chính thức nào.
Quần đảo Trường Sa gồm hơn 140 đảo nhỏ, đảo đá, rạn đá, bãi cát ngầm và bãi cát (một số hoàn toàn hoặc thỉnh thoảng nằm dưới mặt nước trong khi một số khác là luôn luôn ở trên mặt nước) trải rộng trên một diện tích hơn 410.000 km². Có ít hơn 40 cấu trúc địa lí là đảo – tức là khu vực đất hình thành tự nhiên có nước bao quanh và nằm trên mặt nước khi triều cao như quy định tại Điều 121 (1) của UNCLOS. Tổng diện tích đất của 13 đảo lớn nhất không tới 2 km². Các cấu trúc địa lí còn lại hoặc là nằm dưới mặt nước hoàn toàn, hoặc chỉ nằm trên mặt nước khi triều thấp.
Quần đảo Hoàng Sa nằm ở phần phía bắc của biển Đông, gần như cách đều bờ biển Việt Nam và Trung Quốc (Hải Nam). Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đều tuyên bố chủ quyền quần đảo này. Trung Quốc đã đẩy quân đội Nam Việt Nam khỏi quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực vào năm 1974, và đang một mình chiếm đóng quần đảo này. Trung Quốc phủ nhận có sự tranh chấp về quần đảo này, nhưng đó lại là một nguồn gây căng thẳng liên tục giữa Trung Quốc và Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa gồm khoảng 35 đảo nhỏ, bãi cát ngầm, bãi cát và rạn đá chiếm khoảng 15.000 km² diện tích đại dương. Đảo Phú Lâm, lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa, rộng 2,1 km², gần bằng diện tích đất toàn bộ các đảo của Trường Sa gộp lại. Đảo Phú Lâm là địa điểm của thành phố Tam Sa, một thành phố cấp quận đượcTrung Quốc thành lập hồi tháng 6 năm 2012 làm trung tâm hành chính cho yêu sách của họ ở biển Đông.
Rạn đá Scarborough nằm ở phần phía bắc của biển Đông giữa Philippines và quần đảo Hoàng Sa, và được Trung Quốc, Philippines và Đài Loan tuyên bố chủ quyền. Rạn đá Scarborough nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 130 km. Hầu hết rạn đá này, hoặc là hoàn toàn chìm trong nước, hoặc chỉ trên mặt nước khi triều thấp, nhưng nó có chứa một số mỏm đá nhỏ cao hơn mặt nước khi triều cao. Nó là một nguồn gây căng thẳng chính giữa Trung Quốc và Philippines từ khi Philippines bắt giữ ngư dân Trung Quốc hồi tháng 6 năm 2012.
Quần đảo Pratas nằm cách Hong Kong hơn 200 dặm về phía tây nam. Quần đảo này do Đài Loan chiếm đóng, và TQ cũng tuyên bố chủ quyền.
Bãi Macclesfield là một rạn đá ngầm to lớn hoàn toàn bị chìm dưới nước khi triều thấp, nằm giữa rạn đá Scarborough và quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền bãi này.

Tính thích đáng của UNCLOS

Vấn đề cơ bản ở biển Đông là vấn đề chủ quyền lãnh thổ, tức là, nước nào có chủ quyền đối với các đảo này và các vùng biển liền kề của chúng. UNCLOS không có quy định nào về việc xác định chủ quyền đối với các đảo ngoài khơi. Vì không có điều ước quốc tế nào chế định vấn đề chủ quyền, các quốc gia phải tìm kiếm hướng dẫn từ các quy tắc của luật tập quán quốc tế về việc thụ đắc và mất mát lãnh thổ. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ không thể giải quyết được trừ khi các quốc gia có tuyên bố chủ quyền đạt được thỏa thuận với nhau hoặc đồng ý đưa tranh chấp ra Tòa Công lí Quốc tế, Tòa án Quốc tế về Luật biển hoặc một tòa trọng tài quốc tế. Tuy nhiên, với sự nhạy cảm và phức tạp của các tranh chấp, điều này là khó có khả năng xảy ra.
UNCLOS là cực kì quan trọng đối với các tranh chấp ở biển Đông vì nó thiết lập một khuôn khổ pháp lí cho tất cả các hoạt động sử dụng đại dương, kể cả các yêu sách đối với không gian biển mà các quốc gia có thể đưa ra từ lãnh thổ đất liền của họ và từ các cấu trúc địa lí xa bờ. Tất cả các quốc gia có tuyên bố chủ quyền đối với các cấu trúc địa lí trong biển Đông đều là thành viên của UNCLOS, và đều có nghĩa vụ ràng buộc về mặt pháp lí để thực hiện các quy định của nó với thiện chí và phải chỉnh sửa luật pháp quốc gia cho phù hợp với các quyền và nghĩa vụ của họ theo UNCLOS.
UNCLOS có bốn loại quy định rất sát hợp với các tranh chấp ở biển Đông và chúng cho phép chúng ta đánh giá liệu các hành động của các quốc gia yêu sách có phù hợp với luật pháp quốc tế hay không. Thứ nhất, nó quy định về có thể đòi những vùng biển nào dựa vào đất liền của các quốc gia ven biển, và  về các quyền và quyền tài phán mà các quốc gia ven biển và các quốc gia khác được hưởng trong những vùng biển này. Thứ hai, nó quy định những cấu trúc địa lí ngoài khơi nào có thể đòi chủ quyền. Thứ ba, nó quy định về khả năng có thể đòi những vùng biển nào dựa trên các cấu trúc địa lí ở ngoài khơi, và các quyền và quyền tài phán mà các quốc gia được hưởng trong những vùng biển đó. Cuối cùng, nó thiết lập các quy tắc về cách phân định ranh giới trên biển trong những trường hợp có các yêu sách chồng lấn lên nhau.

Các vùng biển theo UNCLOS
Các quốc gia đều có chủ quyền trong lãnh hải 12 hải lí (nm) tiếp giáp với bờ biển của họ, với quyền đi qua của tàu tàu thuyền nước ngoài. Nguyên tắc chung là lãnh hải được tính từ ngấn thủy triều thấp dọc theo bờ biển, nhưng các quốc gia cũng được phép sử dụng đường cơ sở thẳng dọc theo bờ biển của họ trong một số trường hợp nhất định.
Các quốc gia ven biển có quyền đòi hưởng một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) vươn ra tới 200 hải lí từ cùng đường cơ sở được dùng để tính lãnh hải. Trong vùng đặc quyền kinh tế các nước ven biển có 'quyền chủ quyền' cho việc khảo sát và khai thác tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật trong nước cũng như các nguồn tài nguyên dưới đáy biển và lòng đất. Các quốc gia ven biển cũng có thẩm quyền quản trị việc thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế, cũng như thẩm quyền được quy định trong UNCLOS đối với việc nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển. Đồng thời, tất cả các nước khác đều có quyền tự do hàng hải và hàng không cũng như quyền đặt cáp ngầm và đường ống dẫn trong vùng đặc quyền kinh tế.
Các quốc gia ven biển cũng có quyền chủ quyền cho việc thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên của thềm lục địa tiếp giáp với bờ biển của họ. Thềm lục địa bao gồm đáy biển và lòng đất thuộc các khu vực dưới mặt biển mở rộng ra khỏi lãnh hải của quốc gia ven biển, dọc suốt sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của mình đến mép ngoài của rìa lục địa (tùy theo nó có đáp ứng một số tiêu chuẩn địa vật lí hay không), hoặc tới khoảng cách 200 hải lí từ đường cơ sở dùng để tính bề rộng của lãnh hải ở những  nơi mà mép ngoài của rìa lục địa nằm cách đường cơ sở dưới 200 hải lí này. Quốc gia ven biển muốn đòi hưởng thềm lục địa bên ngoài 200 hải lí phải cung cấp thông tin kĩ thuật cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS).

Khu vực biển từ các thể địa lí ngoài khơi
UNCLOS vạch ra các khác biệt quan trọng giữa các cấu trúc địa lí ngoài khơi như (1) đảo, (2) đảo đá, (3) cấu trúc lúc nổi lúc chìm [những cấu trúc cao hơn mức thủy triều thấp nhưng thấp hơn mức thủy triều cao], và (4) cấu trúc địa lí ngầm.
Các khác biệt này là rất quan trọng vì vì từ các dạng thể địa lí khác nhau có thể yêu sách được [hưởng] các khu vực biển khác nhau" (. Các yêu sách đối với không gian biển chỉ có thể xuất phát từ đường cơ sở được tính từ lãnh thổ đất nơi một quốc gia có chủ quyền. Điều này thường được mô tả như là nguyên tắc "đất thống trị biển". Nguyên tắc đã này có từ lâu và vẫn còn được các tòa án nêu ra và xác nhận nó.

Đảo, đảo đá
Lãnh thổ của một quốc gia bao gồm lãnh thổ đất liền cùng với các đảo thuộc chủ quyền. Nguyên tắc chung là tất cả các đảo được hưởng cùng các khu vực biển như lãnh thổ đất liền, có nghĩa là, một vùng lãnh hải, vùng EEZ và thềm lục địa. Các quy tắc về đường cơ sở áp dụng cho đất liền cũng dùng cho các đảo. Quy tắc thông thường là đường cơ sở là ngấn thủy triều thấp dọc theo bờ biển.
Tuy nhiên, có một ngoại lệ quan trọng đối với một số loại đảo. Điều 121 (3) của UNCLOS quy định rằng "đảo đá không duy trì được sự cư trú của con người hay đời sống kinh tế riêng thì sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Nói cách khác, đảo đá chỉ được hưởng lãnh hải.

Mặt bằng triều thấp và các thể địa lý ngầm
Mặt bằng triều thấp là những vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao quanh, nổi lên trên mặt nước khi thuỷ triều xuống nhưng nằm dưới mặt nước lúc thuỷ triều lên. Các vùng mặt bằng triều thấp không phải là đảo và không có lãnh hải riêng. Tuy nhiên, nếu nằm trong khoảng cách 12 hải lý của bất kỳ vùng lãnh thổ nào, kể cả các đảo, những vùng này có thể được dùng làm điểm đo đường cơ sở của vùng lãnh thổ đó [để tính bề rộng của lãnh hải].
Không quốc gia nào có quyền đòi chủ quyền trên một vùng mặt bằng triều thấp. Nếu một vùng mặt bằng triều thấp nằm trong lãnh hải của một quốc gia ven biển thì nó thuộc về chủ quyền của quốc gia đó, vì quốc gia ven biển đó có chủ quyền đối với đáy biển và tầng đất cái trong vùng lãnh hải của mình. Nếu vùng mặt bằng triều thấp nằm trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc trên thềm lục địa thì nó không thuộc về chủ quyền của quốc gia nào. Tuy nhiên quốc gia sở hữu vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa mà có chứa vùng mặt bằng triều thấp thì sẽ có quyền tài phán trên vùng mặt bằng triều thấp này.
Yêu sách đối với vùng biển của các nước thành viên ASEAN
Tất cả các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà có yêu sách về biển đều mới chỉ đòi một vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đo từ đường cơ sở dọc theo bờ biển thuộc đất liền, hoặc từ đường cơ sở quần đảo trong trường hợp của Philippines. Malaysia và Việt Nam đã yêu sách một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ đường cơ sở bờ biển thuộc đất liền của mỗi nước. Vào tháng 5/2009, Malaysia và Việt Nam cùng nhau đệ trình hồ sơ về thềm lục địa mở rộng ở phía nam Biển Đông lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) của Liên hiệp quốc. Việt Nam cũng nộp riêng một hồ sơ thềm lục địa mở rộng khác ở phía bắc Biển Đông cho CLCS. Trung Quốc và Philippines phản đối và yêu cầu CLCS không xem xét các hồ sơ này với lý do có tranh chấp ở các vùng biển này.
Vào năm 2009, Philippines cũng tiến hành các bước quan trọng trong việc làm rõ các yêu sách về biển của nước này bằng việc thông qua luật mới về đường cơ sở phù hợp với các điều khoản của UNCLOS về đường cơ sở quần đảo. Luật này gợi ý rằng Philippines muốn đòi một vùng đặc quyền kinh tế tính từ đường cơ sở quần đảo của mình. Trong luật này, các đảo ngoài khơi mà Philippines tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, bao gồm cả Bãi cạn Scarborough, đều sẽ được quản lý theo chế độ đảo trong Điều 121 của UNCLOS.
Những bước đi này của Malaysia, Philippines, và Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng trên ba khía cạnh. Một là, lần đầu tiên các bản đồ đính kèm trong hồ sơ đệ trình lên CLCS chỉ rõ giới hạn vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia và Việt Nam. Hai là, luật đường cơ sở mới của Philippines tạo điều kiện dễ dàng cho việc tính toán giới hạn vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này. Ba là, cả ba nước này chỉ tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế tính từ đất liền của họ. Các nước này không tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế từ bất kỳ một đảo ngoài khơi nào mà họ có tuyên bố chủ quyền.
Điều này cho thấy rằng ba nước ASEAN này (và có thể cả Brunei) có thể đang chuyển hướng sang việc thống nhất quan điểm đối với các thể địa lý ngoài khơi ở quần đảo Trường Sa. Nếu đúng như vậy thì các nước này có thể sẽ đưa ra các lập trường như sau. Một là, họ chỉ tuyên bố chủ quyền đối với các thể địa lý thoả mãn định nghĩa về đảo theo UNCLOS (tức là chỉ có một phần ba trong tổng số các thể địa lý ở quần đảo Trường Sa). Hai là, hầu hết các thể địa lý mà thỏa mãn định nghĩa về đảo thì lại là "những đảo đá không có khả năng duy trì việc định cư và hoạt động kinh tế của con người trên đó” và không được hưởng quy chế có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Ba là, ngay cả đối với các đảo lớn có thể được hưởng quy chế có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng thì chúng cũng chỉ nên cho chúng hưởng lãnh hải 12 hải lý để không gây hiệu ứng thiếu cân xứng lên việc phân định biển. Hệ quả thực tế của lập trường chung này là hầu hết các tài nguyên ở Biển Đông sẽ nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển. Các vùng biển tranh chấp sẽ chỉ giới hạn trong vùng lãnh hải 12 hải lý xung quanh các đảo tranh chấp.
Yêu sách của Trung Quốc
Trong khi Malaysia, Philippines, và Việt Nam dường như đang tiến hành các bước đưa yêu sách của họ phù hợp với UNCLOS thì chính sách của Trung Quốc về các yêu sách trên̉ Biển Đông vẫn là “cố tình nhập nhằng”. Trung Quốc vẫn không đáp lại việc các bên có liên quan liên tục  yêu cầu nước này làm rõ các tuyên bố chủ quyền và và yêu sách biển. Điều đáng lo ngại hơn là Trung Quốc dường như đang chuyển theo hướng khẳng định yêu sách biển không chỉ dựa trên UNCLOS mà còn dựa trên lịch sử. Điều này đặc biệt gây lo lắng cho các bên vì hầu hết các chuyên gia luật quốc tế đều đồng ý rằng không có cơ sở cho các yêu sách lịch sử như thế này trong UNCLOS và thông lệ quốc tế.
Một trong những vấn đề trong các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là không rõ nước này có tuyên bố chủ quyền trên các thể địa lý không thoả mãn định nghĩa về đảo của UNCLOS hay không. Ví dụ, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên Bãi Macclesfield mặc dù đây là bãi ngầm, nằm dưới mặt nước ngay cả lúc thuỷ triều xuống thấp. Theo luật quốc tế, các quốc gia chỉ có thể tuyên bố chủ quyền đối với các thể địa lý thoả mãn định nghĩa về đảo.
Trung Quốc có thể đưa các yêu sách biển của mình phù hợp với UNCLOS bằng cách chỉ tuyên bố chủ quyền đối với các thể địa lý thoả mãn định nghĩa về đảo và chỉ đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ các đảo lớn hơn. Trung Quốc có thể lập luận rằng các đảo phải được hưởng hiệu lực đảo đầy đủ, nhất là khi vùng đặc quyền kinh tế từ đảo nằm ở ngoài phạm vi vùng đặc quyền kinh tế đòi bởi các quốc gia ven biển tính từ đất liền của họ.
Điều gây tranh cãi chủ yếu trong yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông là phạm vi yêu sách không dựa trên các đảo đang tranh chấp mà dựa trên đường chín đoạn (hay đường chữ U) tai tiếng. Đường này được vẽ trong bản đồ ̉ kèm theo công hàm mà Trung Quốc gửi cho Tổng thư ký Liên hiệp quốc vào tháng 5/2009 để phản đối hồ sơ thềm lục địa mở rộng của Malaysia và Việt Nam.
Vấn đề gây quan ngại chủ yếu là hành động của Trung Quốc vào năm 2009 rõ ràng cho thấy nước này đang theo đuổi yêu sách ở Biển Đông theo ba mặt. Một là, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với các đảo và vùng nước lân cận, mà có thể được hiểu là lãnh hải. Hai là, Trung Quốc cho rằng các đảo này có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Ba là, Trung Quốc cũng đồng thời khẳng định các quyền, quyền tài phán và kiểm soát đối với các nguồn lợi dưới mặt nước và dưới đáy biển bên trong đường chín đoạn trên một dạng nào đó về các quyền lịch sử.
Tuân thủ luật hay xung đột
Các quốc gia khác cùng có yêu sách không thể chấp nhận lập trường của Trung Quốc rằng nước này có các quyền và quyền tài phán lịch sử đối với tài nguyên thiên nhiên dưới mặt nước và dưới đáy biển bên trong đường chín đoạn vì các yêu sách của Trung Quốc không hề có nền tảng dựa trên luật quốc tế. Do đó, nếu Trung Quốc vẫn không sẵn sàng làm cho các yêu sách về biển của họ phù hợp với UNCLOS, và giới hạn yêu sách của họ trong các vùng biển tính từ các đảo, thì nước này sẽ tiếp tục đi theo quỹ đạo pháp lý dẫn tới sự xung đột với các láng giềng ASEAN của họ.
Tác giả:
Robert Beckman là Giám đốc Trung tâm luật quốc tế, đồng thời là phó giáo sư Khoa luật, Đại học quốc gia Singapore.