Showing posts with label HYDZ 8. Show all posts
Showing posts with label HYDZ 8. Show all posts

Sunday, October 13, 2019

THỬ BÀN VỀ VIỆC KIỆN GÌ, KIỆN NHƯ THẾ NÀO

 THỬ BÀN VỀ VIỆC KIỆN GÌ, KIỆN NHƯ THẾ NÀO NHÂN VỤ HYDZ-8
(Bài đăng trên TTCT ngày 13/10/2019 đã qua biên tập)


Gần 3 tháng nay tàu Địa chất biển 8 (HYDZ-8) của TQ ngang nhiên tiến hành khảo sát địa chấn trong khu vực gần bãi Tư Chính, tàu hải cảnh của TQ cũng nghênh ngang quấy phá các hoạt động thăm dò khảo sát dầu  khí của ta ở lô 06/01. Cả hai khu vực này đều nằm sâu bên trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) (xem bản đồ 1). Chính phủ VN đã có nhiều nỗ lực tìm cách giải quyết các vụ xâm phạm này qua đường ngoại giao ở nhiều cấp nhưng xem ra phía TQ vẫn càng lấn tới. Một cuộc chiến tranh trên biển để giải quyết vấn đề chắc chắn là không phù hợp với vị thế của đất nước, lòng yêu chuộng hoà bình của dân tộc và xu hướng quốc tế trong thời đại hiện nay. Do đó, có vẻ chỉ còn biện pháp pháp lí là phù hợp hơn cả: kiện TQ ra toà án quốc tế, điều mà chắc hẳn Chính phủ VN cũng có tính tới và chuẩn bị, và đông đảo công dân cũng đang mong mỏi. Tuy nhiên, có thể kiện gì và kiện như thế nào để giải quyết vấn đề theo đúng pháp luật quốc tế là điều cần xem xét.
Bản đồ 1: khu vực HYDZ-8 khảo sát và lô 06/01 nằm trọn trong EEZ/thềm lục địa của VN
Trước nhất, đúng là tàu khảo sát, tàu CSB và cả tàu dân quân biển của TQ xâm phạm EEZ của VN. Khu vực khảo sát này cách đảo Hải Nam từ 480 đến hơn 600 hải lí, cách quần đảo Hoàng Sa mà họ đang chiếm đóng và cũng tự cho là có EEZ, từ 350 đến 480 hải lí, cách đảo Ba Bình (đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa mà phán quyết ngày 1207/2016 của Toà Trọng tài (PCA) kết luận là không thể có EEZ mà chỉ có lãnh hải 12 hải lí) từ 170 đến 310 hải lí. Còn lô 06/01 cách những nơi đó còn xa hơn nữa: cách Hải Nam, Hoàng Sa, Ba Bình tương ứng 624-640, 495-520, 345-370 hải lí, Do đó. không thể viện dẫn quy định nào trong Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS) để nói hai khu vực này thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của TQ bởi vì lãnh hải, EEZ, thềm lục địa không thể vượt khỏi lãnh thổ đang có chủ quyền quá 12, 200 hay 350 hải lí, thậm chí không thể vượt quá trung tuyến tương ứng (có điều chỉnh gần đảo hơn theo nguyên tắc công bằng) khi có chồng lấn với bên khác. Lưu ý thêm rằng lô 06/01 cách bãi Tư Chính, một bãi ngầm với chỗ cạn nhất cách mặt biển 16 m,  khoảng 25 hải lí. Theo luật quốc tế thì bãi ngầm được xem là phần của đáy biển, không sở hữu được và do đó cũng không thể sinh ra quyền gì. Dù với thực tế như vừa nêu, TQ vẫn ngang ngược nói rằng các vùng biển mà tàu họ đang hoạt động phi pháp thuộc quyền tài phán của họ, cụ thể còn cho rằng họ có quyền chủ quyền và quyền tài phán ở bãi Tư Chính và các vùng biển liên quan. Do đó, để có thể kiện TQ về việc xâm phạm EEZ của VN thì trước nhất phải bác bỏ được lập luận này của họ, tức là phải xác lập đươc rằng khu vực đang bị xâm phạm thuộc về EEZ của chỉ riêng VN, không dính dáng gì đến các vùng biển của TQ. TQ đã kí kết và phê chuẩn UNCLOS nên xem như đã tự nguyện bị ràng buộc bởi các quy định của điều ước này trừ những quy định mà họ đã tuyên bố bảo lưu. Do đó, VN hoàn toàn có thể thực hiện việc kiện qua trong tài quốc tế như Philippines đã làm theo các thủ tục quy định trong mục 2 phần XV của UNCLOS, dù TQ có đồng ý hay không.
Nhưng cụ thể là những gì? Điều này phụ thuộc vào lập luận cụ thể của TQ.  Hiện nay TQ cố ý mập mờ, không đưa ra lí giải cụ thể nên chúng ta chỉ có thể suy đoán dựa trên các tuyến bố đã  biết và hành động của họ.  Tuyên bố mới đây ngày 18/9/2019 của Bộ ngoại giao TQ cho rằng đòi hỏi phi lí này là căn cứ theo luật và lịch sử. Các khu vực này, như đã phân tích ở trên, không thể dựa vào quy định nào trong luật quốc tế và UNCLOS để khẳng định rằng TQ có quyền gì ở đó, ngay cả khi giả định Trường Sa và Hoàng Sa thuộc về họ. Do đó, thứ luật mà họ nói chỉ có thể là luật của TQ hay luật quốc tế giải thích theo cách của TQ. Còn lịch sử mà họ dựa vào cũng chỉ là thứ lịch sử do họ thêu dệt. Sự thật lịch sử cho thấy TQ chưa bao giờ độc quyền trong việc sử dụng biển Đông hay thể hiện  bất cứ quyền gì, dù theo nghĩa lỏng lẻo nhất, trên biển này hay đặc biệt trên các khu vực họ đang xâm phạm, ngoại trừ những hành vì bắt nạt trong vài năm gần đây. Như vậy, có vẻ các suy đoán  do Greg Poling, giám đốc tổ chức Sáng kiến Minh bạch biến châu Á (AMTI), đưa ra trên twitter hôm 19/9/2019 mới phù hợp với thứ luật và thứ lịch sử đó. Theo Poling có thể có các khả năng sau:
- TQ cho rằng quần đảo Trường Sa mà họ nhận vơ là của họ, có lãnh hải, EEZ… như một thể thống nhất và vạch đường cơ sở chung để từ đó phóng ra các vùng biển này như đã làm với quần đảo Hoàng Sa, mặc dù luật lệ quốc tế và UNCLOS không cho phép như vậy và phán quyết của trọng tài khẳng định lại điều đó. 
- TQ gôm Tư Chính cùng các các bãi ngầm khác quanh đó vào quần đảo Trường Sa và cho rằng 'quần đảo' mở rộng như thế cũng có lãnh hải, EEZ… chung như thể thống nhất và cũng thưc hiện việc vẽ đường cơ sở chung và từ đó phóng ra lãnh hải, EEZ... như trong cách trên, dù luât lệ quốc tế và UNCLOS chỉ xem nhưng bãi ngầm như thế là phần của đáy biển không sở hữu và đói chủ quyền được.
- TQ vẫn đang dùng đường lưỡi bò (ĐLB) với  cái gọi là quyền lịch sử để đòi tất cả mọi thứ bên trong đường này, dù tránh đề cập tới nó trong các phát ngôn sau khi phán quyết của trọng tài  trong vụ kiện của Philippines năm 2016 khẳng định nó không có cơ ở trong luật lệ quốc tế và vô hiệu lực.

Có thể thấy các suy đoán trên dựa vào luật và lịch sử ‘kiểu TQ’. Đường cơ sở chung trong hai cách đầu có thể suy từ tuyên bố của TQ ngày 15/5/1996 về đường cơ sở và lãnh hải, trong đó có xác định đường cơ sở thẳng cho quần đảo Hoàng Sa như một nhóm, và cho biết sẽ xác định đường cơ sở thẳng cho các nhóm đảo khác sau. Nhận xét mới đây của PGS Douglas Guilfoyle, chủ trì nhóm nghiên cứu an ninh biển ĐH NSW Australia, củng cố thêm suy đoán này. Theo Guilfoyle, từ sau phán quyết của trọng tài 2016 TQ “đã quay trở lại phiên bản về lập luận ‘quần đảo xa bờ’ mà họ từ bỏ trước đây trong các cuộc đàm phán UNCLOS, một lập luận được Hội Luật Quốc tế TQ hồi sinh trong bài ‘nghiên cứu có phê phán’ về phán quyết của trọng tài vụ Philippines kiện Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc khẳng định rằng họ có thể gộp nhiều thể địa lí biển khác nhau nhập thành ‘quần đảo, bao chúng trong đường cơ sở thẳng và từ đó phóng ra EEZ”. Còn đường cơ sở lạ lùng bao cả các bãi ngầm để tính lãnh hải, EEZ… cũng có thể suy từ Tuyên bố về lãnh hải của TQ ngày 04/09/1958. Tuyên bố này có nói tới việc vẽ đường cơ sở cho cả Macclesfield, môt bãi ngầm mà TQ gọi là “quần đảo” Trung Sa có chỗ cạn nhất cách mặt biển hơn 9 m!  Tuyên bố phê chuẩn UNCLOS ngày 7/6/1996 của TQ có thể dùng để suy đoán việc đòi EEZ tối đa rồi thương lượng phân giới sau. Tuyên bố đó có nói rằng “TQ được quyền hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên EEZ 200 hải lí và thềm lục địa”.
Bản đồ 2 cho thấy các EEZ mà TQ có thể đòi theo hai cách lí giải đầu từ  các kiểu đường cơ sở thẳng khác nhau mà nhóm của Poling nghiên cứu vẽ ra tháng 3/2019. Có thế thấy các EEZ này phủ kín hầu hết diện tích ĐLB và có nhiều phần vượt quá ĐLB.


Bản đồ 2: EEZ mà TQ muốn đòi theo cách của họ (theo Poling)

- dạng (khả năng) 1 hay 2: đòi EEZ đầy đủ từ 'nguyên nhóm đảo" kể cả bãi ngầm, tuân thủ một phần hay phớt lờ các hạn chế về đường cơ sở quy định trong UNCLOS (như mỗi đoạn của nó không quá 100 hải lí…)

- dạng 3 hay 4: đòi EEZ tối đa từ 'nguyên nhóm đảo nổi kể cả các bãi triều thấp lân cận hay được biển thành đảo nhân tạo như Vành Khăn, tuân thủ một phần hay phớt lờ các hạn chế về đường cơ sở quy định trong UNCLOS

Việc TQ duy trì yêu sách ĐLB, dù không nói rõ ra, có thể suy đoán từ các hành động hiếp đáp ngư dân, cấm đánh cá đơn phương, các hành động quấy nhiễu của tàu hải cảnh và tàu khảo sát của TQ sâu trong EEZ hay ở những khu vực biển mà các EEZ theo hai cách suy đoán đầu không phủ tới của các nước ven biển Đông từ sau phán quyết 2016. Đặc biệt, điều 14  luật về EEZ và thềm lục địa ngày 26/6/1998 của TQ cùng các tuyên bố có nói tới quyền lịch sử sau phán quyết 2016 cũng cho thấy suy đoán cuối về yêu sách ĐLB vẫn cần xét tới.

Hiện nay, như đã nói, TQ vẫn mập mờ, không nêu cụ thể họ dựa vào điều gì để yêu sách như thế nên có nhiều khả năng họ áp dụng cả ba cách nêu trên để khi bị đuối lí cách này thì còn viện tới cách kia (theo kiểu 'lọt sàng còn nia', như có học giả của họ có lần giải thích qua khái niệm 'bảo hiểm kép'). Lưu ý thêm rằng, Hội Luật quốc tế của TQ, trong thư ngày 19/9/2019 trả lời thư mở của Hội luật quốc tế Việt Nam ngày 24/8/2019, có vẻ cũng gần như lí giải theo các cách nêu trên. Họ cũng đề cập tới quyền lịch sử, coi quần đảo Trường Sa là một thể thống nhất với đường cơ sở chung, có nội thuỷ, lãnh hải, EEZ, thềm lục địa…  Hội này là một tổ chức ngoại vi trong hệ thống nhà nước TQ nên ý kiến của họ có thể xem như một lí giải bán chính thức của TQ. Do đó, nội dung kiện có lẽ phải bao gồm tất cả điều trên, tức là phải nhờ trọng tài xác nhận lại ĐLB là vô hiệu lực, quần đảo Trường Sa không thể coi là một thể thống nhất để đòi lãnh hải, EEZ … và không được phép vẽ đường cơ sở chung để làm điều đó, không có thể địa lí nào trong quần đảo này có EEZ, thể địa lí ngầm như bãi Tư Chính thì không thể đòi sở hữu, và cũng không thể coi những điều đó là trường hợp riêng ngoài quy định của UNCLOS. Đó cũng là những nội dung mà toà hoàn toàn có thể thụ lí và xử được vì chỉ liên quan tới các quy định của UNCLOS ngoài nhưng điều TQ bảo lưu.
Những nội dung này nói chung gần giống và có phần lăp lại các nội dung trong vụ kiện của Philippines nhưng e rằng chúng ta phải lặp lại vì theo UNCLOS “mọi quyết định [của toà/trọng tài] chỉ có hiệu lực ràng buộc giữa các bên tranh chấp  và trong vụ tranh chấp cụ thể đó” (điều 296.2). Phán quyết trọng tài trong vụ kiện của Philippines cũng tuân đúng theo quy định này. Chẳng hạn về ĐLB, phán quyết nêu rõ “giữa Philippines và TQ với nhau, các yêu sách của TQ đối với các quyền lịch sử, hoặc các quyền chủ quyền hay quyền tài phán khác, liên quan đến các khu vực biển của biển Đông nằm bên trong phần tương ứng của ‘đường 9 đoạn’ là trái với UNCLOS và không có hiệu lực pháp lí do vượt quá các giới hạn về địa lí và cốt yếu của các quyền lợi biển của Trung Quốc được có theo UNCLOS…”

Ngoài những nội dung trên, chúng ta có thể tranh thủ nhờ trọng tài khẳng định những nội dung tương tự cho quần đảo Hoàng Sa với lí do họ đã hà hiếp ngư dân VN, quấy rối việc thăm dò, khảo sát dầu khí trong EEZ của ta gần quần đảo này mà các biện pháp giải quyết qua đường ngoại giao như tham vấn, trao đổi... vẫn không có kết quả. Ở đây, cũng có thể thêm nội dung nhờ trọng tài khẳng định quyền đánh cá của ngư dân ta trong ngư trường truyền thống Hoàng Sa (lẫn Trường Sa).
Tóm lại, nếu được tòa xác nhận những nội dung trên và bất chấp chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa thuộc về ai thì các khoảnh biển mà hai quần đảo này được có theo luật lệ quốc tế, đặc biệt là UNCLOS chỉ là những đốm xanh (lãnh hải của các đảo nổi) tương ứng trong bản đồ 3. Do đó, EEZ của VN (phần tô tím trên bđ 3) chồng lấn không đáng kể các khoảnh biển đó, chủ yếu tại lãnh hải của một vài đảo nổi mà thôi. Như vậy, ngay cả giả định Trường Sa và Hoàng Sa thuộc TQ, thì tuyên bố của họ rằng khu vực HYDZ-8 khảo sát hay lô 06/01 thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của họ là hoàn toàn sai trái (xem bản đồ 4).

Bản đồ 3: Nếu thắng kiện theo các nội dung đề xuất thì các khoảnh biển mà các đảo trên biển Đông có được theo luật biển chỉ là các đốm xanh chứ không như trong bản đồ 2.

(Lưu ý: EEZ hai bên đoạn từ cửa vịnh Bắc Bộ tới Hoàng Sa chồng lấn chưa phân định nên tạm vẽ theo trung tuyến)

Bản đồ 4ngay cả giả định Trường Sa và Hoàng Sa thuộc TQ, thì khu vực HYDZ-8 khảo sát hay lô 06/01 vẫn hoàn toàn nằm ngoài vùng biển hoh có quyền chủ quyền và quyền tài phán (các đốm xanh)

Tới đây có thể có câu hỏi sau: Do lập luận của TQ có dựa vào việc cho rằng họ có chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa (và Hoàng Sa), thế sao chúng ta không kiện thẳng họ về chủ quyền cho dứt điểm mọi thứ? Trong quan hệ  quốc tế, mỗi nước là một thực thể có chủ quyền, nên có quyền chọn cách giải quyết tranh chấp theo ý mình, toà chỉ xử được khi các bên liên quan tự nguyện chấp nhận cùng nhau ra toà (trực tiếp qua các tuyên bố đơn phương, qua các thoả thuận riêng, hoặc gián tiếp qua các điều ước quốc tế đã kí kết). TQ không là ngoại lệ và rất tiếc là họ đã tuyên bố chỉ chọn cách 'tham vấn hữu nghị' hay  đàm phán song phương để  giải quyết các tranh chấp liên quan đến chủ quyền (để họ có thể  ‘lấy thịt đè người’), không chấp nhận cách nhờ toà phân xử. Do đó, hiện nay việc kiện TQ về chủ quyền là bất khả, trừ khi họ có một chính phủ biết lẽ phải hơn rút lại tuyên bố đó. 
Từ đó, có thể nẩy ra câu hỏi: Đồng ý rằng không kiện được chủ quyền, thế sao gác vấn đề chủ quyền lại rồi kiện nhờ trọng tài xác định phân định ranh giới biển cho khu vực biển giữa VN và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa (và cả Hoàng Sa) sau cho tiện việc? Rất tiếc là cũng không thể kiện TQ về việc phân giới vì họ đã dựa vào điều 298 UNCLOS tuyên bố không chấp nhận các thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc liên quan tới phân giới biển từ 25/8/2006.
Cũng lưu ý rằng dù luật có quy định các điều liên quan đến kiện tụng nhưng những người soạn luât vẫn muốn các bên hạn chế việc giải quyết tranh chấp thông qua toà án. Do đó, trong luật có quy định nhiều điều kiện các bên phải thoả mãn trước khi đưa tranh chấp ra trước toà. Chẳng hạn, phải chứng minh đang có tranh chấp và các bên đã nổ lực hết mức đề giải quyết tranh chấp qua thương lượng, tham vấn ngoại giao... nhưng không đạt kết quả. Hơn nữa, việc kiện tụng cũng phải không bị ràng buộc bởi những thoả thuận mà các bên đã kí. 

Thực tế trên biển gần 3 tháng nay và thậm chí trước đó với lời qua tiếng lại của đôi bên nên sự tồn tại của tranh chấp gần như hiển nhiên, không khó chứng minh. Về việc thực hiện các biện pháp tiền kiện tụng thì có vẻ chính phủ VN cũng đã tiến hành đúng mức. Đối với việc  ràng buộc bở các thoả thuận đã có, TQ có phê phán rằng ta vi phạm các ràng buộc trong tuyên bố về cách ứng xử các bên  trên biển Đông năm 2002 (DOC) và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển 11/10/2011” của 2 nước. Đối với ràng buộc của DOC, Trọng tài vụ Philippines kiện TQ đã xác định rằng điểm 5 và toàn bộ lời lẽ trong DOC không hề có nội dung nào loại trừ việc tìm kiếm phương thức giải quyết tranh chấp khác ngoài tham vấn và thương lượng song phương. Thoả thuận 11/10/201 cũng gần tương tự như vậy, dù chưa qua soát xét của trọng tài, nhưng chắc sẽ có cùng kết luận.
Tóm lại, VN có thể kiện theo nội dung và cách thức gần như Philippines đã làm. Đặc biệt, trong vụ kiện của Philippines có nội dung về bãi Cỏ Rong, vốn là bãi ngầm cách mặt biển từ 9 đến 45 m trong EEZ của nước này, tình trạng rất tương tự với bãi Tư Chính của chúng ta. Philippines đã thắng thì cơ hội chúng ta thắng còn cao hơn nữa. Vấn đề cuối cùng là kiện vào lúc nào để vừa không lỡ cơ hội vừa tối ưu hóa kết quả và hạn chế các tác động xấu chắc chắn sẽ có của vụ kiện. Điều này tùy thuộc vào sự cân nhắc thiệt hơn của các cấp có trách nhiệm trên tinh thần mang lại điều tốt nhất cho đất nước và nhân dân.
(Bài viết được những ý kiến đóng góp quý báu của gs Phạm Quang Tuấn và ts Dương Danh Huy)

Thursday, August 1, 2019

Chuyện gì xảy ra ở biển Đông?


Những nét chính về tình hình căng thẳng ở biển Đông từ tháng 6 tới nay

 (Bản qua biên tập đăng trên TT cuối tuần 28/7/2019 hơi khác tí)


Có vẻ tình hình biển Đông căng thẳng trở lại khi tàu cá Yuemaobinyu 42212, bị nghi là tàu dân quân biển Trung Quốc (TQ), đâm chìm tàu cá Gemvir-1 của Philippines tại khu vực bãi Cỏ Rong trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines vào ngày 9/6/2019, bỏ mặc 22 ngư dân Philippines cố tìm cách tranh giành sự sống gưiữa biển khơi khi tàu họ chìm. Số ngư dân này sau đó được tàu cá TG-90983-TS của Việt Nam cứu giúp. Vụ này cho đến nay vẫn còn là vấn đề phức tạp trong quan hệ TQ-Philippines.

Thật ra, trước đó theo tổ chức Sáng kiến Minh bạch biển châu Á AMTI và nhiều nhà quan sát khác thì vào cuối tháng 5 cho đến cuối tháng 6 tàu cảnh sát biển (CSB) TQ 35111 có thể đã cùng với ít ra là tàu CSB46302 (phát hiện nhờ các tín hiệu AIS [hệ thống nhận dạng tự động] mà các tàu từ 300 tấn trở lên đòi hỏi phải phát đi) đã quấy phá quanh khu vực bãi Luconia trong EEZ của Malaysia. Các tàu này tìm cách không cho giàn khoan Sapura Esperanza được Malaysia cấp phép thực hiện hoạt động tại lô SK 308 trong vùng bãi này, cách bờ biển bang Sarawak khoảng 85 hải lí. Các tàu này cũng hù doạ hai tàu tiếp tế đi lại giữa mỏ này và bờ biển Malaysia. Vụ này do bị bưng bít kĩ truyền thông nên công chúng ít được biết. Và cuối cùng có vẻ TQ không đạt được kết quả như mong muốn vì có tin Sapura Esperanza vẫn tiếp tục công việc khoan sau vụ uy hiếp này của TQ.

Chuyện gì đang xảy ra ở Biển Đông - Ảnh 1.
Bản đồ 1: đường đi các tàu cho thấy tàu CSB 35111 quấy nhiễu giàn khoan Sapura Esperanza tại lô SK 350 trong EEZ của Malyasia từ 10 đến 27/6/2019 (nguồn: AMTI)

Tiếp đó, trong 5 ngày từ 29/6 đến 3/7 TQ cho tổ chức bắn đạn thật tại hai khu vực, một khu giữa biển Đông nằm ngoài EEZ của VN lẫn Philippines (nhưng có phần nằm trong thềm lục địa 350 hải lý của VN) và một khu trong EEZ của họ và có phần thuộc lãnh hải của đảo Phú Lâm của VN mà họ chiếm đóng từ 1956. TQ được cho là đã bắn thử 6 tên lửa chống hạm trong cuộc diển tập này và Đô đốc Philip Davidson, Chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ ở khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dươngđã phê phán hành động đó như là “gửi một thông điệp đe doạ tới Hoa Kỳ”.

Chuyện gì đang xảy ra ở Biển Đông - Ảnh 2.
Bản đồ 2: Hai khu vực tập trận có bắn tên lửa của TQ từ 29/6 đến 3/7/2019

Sau hai màn diễn trên là màn diễn mà chúng ta rất quan tâm. Cũng theo quan sát của AMIT và nhiều nhà quan sát khác, từ ngày 3/7 tàu khảo sát của TQ Haiyangdizhi 8 (HYDZ 8: Hải dương Địa chất 8) với sự hộ tống của các tàu cảnh sát biển, đặc biệt là tàu 37111, kể cả tàu khủng 3901 hơn 10 000 tấn, cùng với tàu cá dân quân và cả tàu hải quân TQ theo dõi từ xa, tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực trong bồn trũng Tư Chính –Vũng Mây và vẫn kéo dài cho tới hôm nay. Khu vực này nằm hoàn toàn trong EEZ của VN thuộc các lô 130- 133 và 153-157 của PetroVN và ứng với hai lô mà TQ gọi là RJ 03, RJ 27 cùng với một phần của lô YQX 18 và của lô WAB 21 (Vạn An Bắc 21). Ba lô đầu, cùng 5 lô khác cũng trong EEZ VN, từng được Tổng công ty dầu khí ngoài khơi CNOOC của TQ ngang ngược kêu mời đấu thầu năm 2012, nhưng chẳng ai tham dự. Còn lô WAB 21, TQ cũng đã liều lĩnh sang nhượng cho công ty Crestone của Mỹ với giá chỉ $50 000 hồi năm 1992, viện cớ nó nằm trong đường lưỡi bò (ĐLB) 11 đoạn do chính quyền Tưởng Giới Thạch đưa ra năm 1947. Sau nhiều lần sang nhượng tiếp cho đến năm 2008, công Harvest Natural Resources nắm quyền thuê nhượng lô này nhưng có vẻ không còn hoạt động (trong báo cáo của công ty này năm 2014 thấy có kê khai $2,9 triệu cho lô này vào năm 2012 nhưng là tài sản chưa xác minh). Cũng lưu ý rằng theo luật biển quốc tế thì các hoạt động nghiên cứu khoa học biển vẫn được phép thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của nước ven biển liên quan, tiến hành theo đúng dự án được chấp nhận, không được ảnh hưởng tới việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên... như quy định của điều 246 và những điều khác trong UNCLOS. Theo đó, rõ ràng TQ đã không tôn trọng luật lệ khi cho tiến hành việc khảo sát địa chấn này. Dĩ nhiên, với tình hình xâm phạm như vậy của TQ, phía VN đã phải cho lực lượng chấp pháp theo dõi và ngăn cản, Marine Traffic Trackers cho thấy có ít nhất hai tàu kiểm ngư KN 468 và KN 472 làm nhiệm vụ trong khu vực này.

Xin nói thêm rằng ĐLB 11 đoạn do chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đưa ra trong bối cảnh chính TQ lúc đó còn đang trong cuộc chiến tranh Quốc – Cộng, còn các nước ven biển Đông cũng chưa giành được độc lập và đặc biệt VN còn đang trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Do đó, ĐLB này hầu như chẳng được ai biết tới và có vẻ chính cả TQ cũng không nhớ tới (dù vào năm 1953 thủ tướng TQ Chu Ân Lai đã từng bỏ bớt 2 vạch trong vịnh Bắc Bộ của đường này để tỏ tình hữu nghị với VN!) cho tới khi Randall Thompson, người sáng lập công ty Crestone, gợi ý vào năm 1991. Lúc đó, có lẽ do tiềm lực kinh tế lẫn sức mạnh quân sự của TQ còn yếu và có vẻ họ cũng không thật tin tưởng lắm về giá trị  của cái ĐLB này, nhất là vì nó là di sản của phe đối nghịch, nên họ đã cho Crestone sang nhượng với mức hời như vậy. Sau này TQ chuyển nó thành ĐLB 9 đoạn (không thật trùng khớp với đường 11 đoạn, xem bản đồ 3 so sánh 2 ĐLB) và cũng chỉ mới công bố chính thức cho các nước biết trong hồ sơ gởi Uỷ ban ranh giới thềm lục địa LHQ phản đối hồ sơ xác định  EEZ và thềm lục địa của VN và Malaysia vào năm 2009. Từ đó trở đi TQ đã bám khắng vào ĐLB này để biện hộ cho các hành động sai trái của mình ở biển Đông, dù trong công hàm gởi LHQ lúc đó họ chẳng hề cho toạ độ các vạch cũng như ý nghĩa của ĐLB này là gì.

Chuyện gì đang xảy ra ở Biển Đông - Ảnh 4.
Bản đồ 3: ‘Lưỡi bò’ 9 vạch mơ hồtham lam hơn ‘lưỡi bò’ 11 vạch (tô thêm màu vàng)
[Hình 6 được tạo bằng cách chồng bản đồ 2009 lên trên bản đồ 1947]

Do thực tế có sự  thiếu thống nhất về cách gọi tên khu vực HYDZ 8 khảo sát, nên nhân đây cũng xin nói thêm cho rõ là khu vực HYDZ 8 mà khảo sát chỉ cách đảo Trường Sa của VN khoảng 18 hải lý (tính từ góc phải dưới của lô RJ 03,xem bản đồ 4) và cách bãi Tư Chính khoảng 50 hải lý và không có thể địa lý chìm hải nổi trong đó. Nhưng có lẽ do trong khu vực bồn trũng Tư Chính – Vũng Mây, bãi Tư Chính gần đó to nhất và dễ nhận ra nhất nên nhiều nguồn gọi nhầm là khu vực bãi Tư Chính.


Bản đồ 4: khu vực khảo sát địa chấn của HYDZ 8 hoàn toàn nằm trong EEZ của VN (đường đi của HYDZ từ 3-28/7/2019 do PGS Ryan Martinson, trường Đại học Hải chiến Mỹ đưa lên Twitter)

Một màn diễn khác đồng thời với màn diễn này là tàu CSB 37111của TQ  sau màn quậy phá ở bãi Luconia trong EEZ Malaysia đã trở về đảo Hải Nam, có thể để được tiếp liệu, sau đó đã quay trở ngược xuống phía nam khu vực quanh lô 06-01 của PetroVN, cách bãi Tư Chính khoảng 40 hải lý. Từ ngày 16/7, 37111 thực hiện cùng kiểu cách như đã làm ở bãi Luconia cũng như chiến thuật TQ đã từng làm vào 7 năm 2017 và tháng 3 năm 2018 (đe doạ tại chỗ cùng các áp lực ngoại giao, kinh tế...) khiến Việt Nam phải hủy bỏ hợp đồng khoan dầu ở mỏ Cá Rồng Đỏ thuộc lô 07-03 gần đó với Repsol Tây Ban Nha. Lần này, 37111 và có thể cùng nhiều tàu khác, kể cả tàu cá của dân quân (nhưng có hệ thống phát tín hiệu AIS trên tàu bị cố ý tắt nên các áp dụng theo dõi đường đi [Marine Traffic Trackers] của tàu bè không phát hiện được] uy hiếp dàn khoan Hakuryu-5 của Nhật đang hợp đồng với công ty Nga Rosneft, được Việt Nam cấp phép, thực hiện việc khoan mỏ trong lô này đồng thời cũng hù doạ hai tàu tiếp tế cho dàn khoan này làSea Meadow 29 và Crest Argus 5.

Chuyện gì đang xảy ra ở Biển Đông - Ảnh 6.
Bản đồ 5: Đường đi các tàu cho thấy tàu 35111 quấy nhiễu dàn khoan Hakuyyu 5 và 2 tàu tiếp tế từ 16/6-10/7/2019 (nguồn: AMTI)

Màn diễn ngắn sau đó diễn ra ở về phía bắc, vào ngày 17/7 TQ cho tập trận bắn đạn thật phía đông khu vực quần đảo Hoàng Sa, cách mỏ Cá Voi Xanh trong lô 118 mà VN cho Exxon Mobil hợp đồng khoảng 90 hải lý. Nếu vận dụng phán quyết của Toà Trọng tài Thường trực (PCA) ngày 12/7/2016 vụ Philippines kiện TQ, thì phần chắc không có đảo nào trong quần đảo Hoàng Sa có thể có EEZ riêng và cả quẩn đảo này cũng không có quyền có lãnh hải và EZZ như một thể thống nhất. Do đó, EEZ của hai phía VN và TQ, theo thông lệ quốc tế, sẽ được chia theo trung tuyến. Theo đó, khu vực TQ cho tập bắn đạn thật nằm gần như hoàn toàn bên phía VN của trung tuyến, tức hoàn toàn trong EEZ mà theo luật lệ quốc tế phần chắc sẽ thuộc VN. Dù luật lệ quốc tế không cấm hoạt động diễn tập quận sự trong EEZ của nước khác, nhưng những hành động thế này, nhất là không cách quá xa mỏ dầu khí mà TQ từng ngăn cản dù ngay trong EEZ và rất gần bờ biển VN, rõ ràng mang tính đe doạ, hành động mà điều 301 UNCLOS khuyến nghị không nên làm.


Bản đồ 6: Khu vực bắn đạn thật của TQ ngày 17/7/2019 hoàn toàn trong EEZ của VN

Nếu quả đúng tàu Yuemaobinyu 42212 là của dân quân TQ cố ý đâm chìm tàu cá Philippines, thì từ đầu tháng 6 đến nay tất cả các vụ lộn xộn vừa nêu đều do TQ đơn phương gây ra làm tình hình biển Đông trở nên căng thẳng, đi ngược lại với các quy định về quy tắc ứng xử ở biển Đông DOC đã thoả thuận giữa TQ và các nước ASEAN cũng như các cam kết và hứa hẹn của lãnh đạo TQ với lãnh đạo các nước liên quan, đặc biệt là của TBT hai nước TQ và VN.

Chắc chắn như đã nêu, TQ sẽ dùng ĐLB để biện hộ cho hành động của mình. Như có nói qua ở trên đường này hoàn toàn vô lý và không có cơ sở. Nhân định của PCA ngày 12/7/2019 PCA hoàn toàn sat hựp với thức tế lịch sử như đã điể sơ qua ở trên : “dù trong lịch sử, những người đi biển, ngư dân từ Trung Quốc và các nước khác đã sử dụng các đảo tại Biển Đông nhưng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy về mặt lịch sử Trung Quốc đã chỉ một mình thực hiện việc kiểm soát vùng nước này cũng như tài nguyên tại đây”. Từ đó, PCA kết luận không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong “đường 9 đoạn” và bác bỏ hoàn toàn nó. Tuy nhiên, TQ dù là một thành viên UNCLOS, hơn nữa từng tham gia dự thảo UNCLOS, đã không tôn trọng phớt lờ phán quyết này. Đối với các vụ gần quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa, họ có thể viện lý do là các khu vực họ quậy phá nằm trong EEZ của hai quần đảo này mà theo lịch sử là của họ. Tuy nhiên, ngay cả khi các uần đảo này của chính họ, cũng theo phán quyết của PCA thì quần đảo Trường Sa không thể có EEZ như một thể thống nhất (điều chỉ có đối với các nước quần đảo như Philippines, Indonesia...), hơn nữa cũng không có đảo nào ờ Trường Sa đủ điều kiện để có EEZ riêng. Tình hình quần đảo Hoàng Sa phần chắc cũng tương tự như vậy dù chưa có phán quyết riêng cho nó. Như vậy viện dẫn pháp lý của TQ ở đây là không có giá trị. Hơn nữa, việc viện dẫn lịch sử của họ thật ra cũng thiếu cơ sở. TQ khẳng định rằng cha ông của họ đã từng khám phá, đặt tên, tới lui, khai thác hai quần đảo này trước nhất từ xa xưa. Sử sách các nước liên quan, tôn giáo, sách sữ của chính họ, khảo cổ biển... và cả thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Chẳng hạn, TQ nói tổ tiên họ từng lui tới các quần đảo này đàu tiên nhưng sách vở lại cho thấy nhiều nhà sư xưa kia của họ đi hành hương sang Ấn Độ như Pháp Hiển, Giả Đam, Nghĩa Tịnh..., hay các sứ giả Khang Thái, Chu Ứng thời Tam Quốc đi sứ Phù Nam... lại phải đi nhờ tàu buôn của người Ả Rập hay tàu thuyền của dân xứ nước Đông Dương chứ không dùng tàu thuyền của chính họ. Còn sử sách của họ thì mô tả đó là nơi không tàu thuyền nào dám đi tới vì sẽ không thể sống sót trở về hoặc một cách hoang đường hơn rằng đó là chỗ nước đổ xuống địa ngục, hay chỗ nước cạn với đá có nam châm mà thuyền đi ngang qua đinh đóng thuyền sẽ bị hút xuống!?... Khảo cổ biển cũng cho thấy trong thiên niên kỷ công nguyên đầu và trước đó hầu như không có xác tàu thuyền nào của TQ mà chỉ có xác tàu thuyền Ả Rập, các nước ven biển Đông... được tìm thấy trong biển Đông mà thôi. Với những chứng cứ như thế thì liệu tổ tiên họ có là người khám phá, lui tới, khai thác biển Đông và các đảo đầu tiên hay không. Đối với việc đặt tên trước, chỉ cần dỡ danh sách nêu tên các đảo ở biển Đông của họ trước đây sẽ thấy có rất nhiều ví dụ tên các đảo chỉ là phiên âm hay dịch các tên do người của phương Tây đặt trước, ví dụ như bãi ngầm Tăng Mẫu chỉ là phiên âm của James Shoal, đảo Phú Lâm chỉ là dịch từ Woody Island hay đá Linh Dương dịch tên Antilope Reef của Anh...

Cuối cùng trước các hành động ngang ngược như thế của TQ, hôm 19/7 người phát ngôn Bộ Ngoai giao Lê Thị Thu Hằng có nêu:"Duy trì trật tự, hòa bình, an ninh ở khu vực Biển Đông là lợi ích chung của các nước trong và ngoài khu vực cũng như cộng đồng quốc tế. Do đó, Việt Nam mong muốn các nước liên quan và cộng đồng quốc tế cùng nỗ lực đóng góp nhằm bảo vệ và duy trì lợi ích chung này". Đáp ứng lời kêu gọi này, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã nhấn mạnh “Mỹ kiên quyết phản đối mạnh mẽ các hành động cưỡng ép và bắt nạt được thực hiện bởi bất kỳ bên nào tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc nên ngừng ngay các thói bắt nạt nước khác và kiềm chế, tránh các hành động mang tính khiêu khích và gây bất ổn khu vực". Để xem TQ sẽ ứng xử như thế nào sau các phản ứng như thế này. Liệu họ có uốn nắn lại cách hành xử của mình trong tư cách một nước lớn biết giữ lời hứa, có trách nhiệm, tôn trọng luật lệ quốc tế, yêu chuông hoà bình như họ từng lớn tiếng rêu rao hay không.

Như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng xác nhận phía Việt Nam “đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau” như trao công hàm phản đối yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực, tức đã nổ lực hết sức để giải quyết vấn đề đầy đủ qua đường ngoại giao. Và nếu TQ cứ giữ nguyên thái độ, với tư cách nước nhỏ và đồng thời cũng thể hiện tinh thần yêu chuộng hoà bình và công lý, có vẻ VN không có phương cách nào khác để giải quyết cuộc đối đầu này ngoài việc đưa TQ ra Toà Trọng tài quốc tế theo quy định Phụ lục VII của UNCLOS mà VN hình như cũng đã có đủ điều kiện theo các ràng buộc của UNCLOS và các thoả ước đã ký có liên quan như vừa nêu.