Showing posts with label Putin. Show all posts
Showing posts with label Putin. Show all posts

Sunday, March 13, 2022

Chế độ tân phong kiến ở Nga

 Chế độ phong kiến mới giải trình


Neo-Feudalism Explained (American Interest, March-April 2011)

Vladislav L. Inozemtsev



Nhiều chuyên gia phương Tây ngày nay phát hoạ Nga như là một quốc gia đang lùi theo đường xoắn ốc về chế độ độc tài, chậm rãi (hoặc không phải là quá chậm rãi) đi theo con đường của Liên Xô mà chế độ độc tài của nó sụp đổ dưới áp lực ngày càng tăng từ một xã hội dân sự đang nổi lên.  Ý kiến phổ biến quy sự quay vòng trở lại chế độ độc tài này cho bản chất của nhóm chính trị chủ chốt (elite) hiện tại của Nga.  Các thành viên của nhóm này (như lập luận của nhiều nhà phân tích phương Tây, kể cả Ian Bremmer) xuất thân một cách không tương xứng từ cái gọi là siloviye structury (cиловые структуры – cấu trúc quyền lực), đó là cơ quan thực thi pháp luật và các cục an ninh có nguồn gốc là các cơ quan mật vụ và quân đội từ thời Liên Xô.  Các giả định này kết hợp nhau cho ra cái đang cân bằng chỉ là một biểu hiện khá lạc quan về triển vọng trung tới dài hạn của Nga: Hoặc là xã hội dân sự Nga sẽ tỉnh dậy trở lại và cứu vãn ngày tàn, như nó được cho là đã làm trong các năm 1989-1991, hoặc nhóm chủ chốt hiện tại sẽ già đi và rời khỏi sân khấu. Dù theo hướng nào, thay đổi tích cực đang ló dạng ở chân trời.


Thật không may, tất cả các giả định này là sai. Nước Nga hiện tại không phải là một ứng viên để trở thành một Liên Xô phiên bản 2.0.  Nó là một quốc gia trong đó công dân có quyền truy cập không hạn chế thông tin, sỏ hữu tài sản riêng, tự do rời khỏi hay trở về nước, và phát triển doanh nghiệp tư nhân tất cả các loại. Tất nhiên, những hạn chế nghiêm trọng trong lĩnh vực chính trị vẫn được giữ nguyên, và đất nước này, như chính Tổng thống Dmitry Medvedev mới đây cho biết, "chỉ tới một mức độ nhất định, chứ chưa hoàn toàn" đáp ứng các tiêu chuẩn dân chủ.


Rõ ràng, điều sắp xếp này − tự do kinh tế đi đôi với hạn chế chính trị  − không làm hài lòng tất cả mọi người. Đối với cách nghĩ thông thường của người Mĩ, điều đó cho thấy một cái gì đó phải bị hi sinh.  Điều này cũng là sai.  Đúng là có một số người Nga có nói lên sự không hài lòng với chế độ hiện hành và sự lạm dụng quyền lực lan tràn ở các cơ quan cảnh sát, các quan chức địa phương và các đầu sỏ chính trị gắn liền với bộ máy quan liêu. Tuy nhiên, hệ thống vẫn có vẻ vững bền một cách cơ bản.  Sức mạnh của nó bắt nguồn từ một nguyên tắc cơ bản: để cho các đối tượng giải quyết các vấn đề của họ một cách riêng lẻ sẽ dễ dàng hơn là thách thức các định chế quốc gia một cách tập thể.  Bởi vì những gì mà người phương Tây gọi là tham nhũng không phải là một tai họa của hệ thống nhưng lại là nguyên tắc cơ bản cho hoạt động bình thường của nó. Tham nhũng ở Nga là một dạng chất bôi trơn trong giao dịch khi không có bất kì một cơ chế luật định hợp pháp và được chấp nhận chung thay thế.  Các giao dịch này gộp chung lại lột tả một hình thức phong kiến mới.   Điều này không quá kinh ngạc với nhận thức lịch sử, bởi vì ít hay nhiều đó là giai đoạn mà sự phát triển kinh tế - xã hội Nga đã phải đạt tới khi nó bị đông cứng trong hơn bảy mươi năm thống trị của cộng sản. Bây giờ nó đang tan.


Hệ thống vẫn hoạt động nhưng theo cách riêng của mình.  Được xây dựng dưới thời Vladimir Putin,  "quyền lực theo chiều dọc" ở Nga cho ra một cơ chế chuyển đổi tương đối đơn giản giữa quyền lực và tiền bạc. Ở mỗi  bậc của hệ thống phân cấp này một mức độ nhất định hối lộ và chủ nghĩa địa phương ăn chia (clientelist parochialism) không chỉ được bỏ qua mà còn được ngầm chấp nhận để đổi lấy lòng trung thành vô điều kiện và dành một phần lấy được cho cấp trên của mình.  Hệ thống này dựa trên sự tự do kinh tế của các công dân, nhưng những hạn chế cẩn trọng về chính trị trên các quyền tự do này tạo ra sự giàu có của những kẻ hưởng lợi lớn nhất. Có hàng loạt các sàn và trần cho các hạn chế về tự do, do đó, nó là một chế độ phong kiến với nhiều tầng bậc hơn so với loại phong kiến cũ.  Tuy nhiên, về cơ bản nó hoạt động theo cùng một cách: kẻ yếu dâng tiền "lên", và kẻ mạnh bảo hộ "xuống."


Hệ thống này của Nga không thể tồn tại nếu không có các quyền tự do kinh tế, và đó là lí do tại sao sẽ không có hệ thống thứ hai nẩy ra từ Liên Xô cũ.  Tuy nhiên, hệ thống này hết sức lo sợ các quyền tự do chính trị, các quyền này không phù hợp với quan điểm phong kiến của nó.  Do đó, nước Nga sẽ không thể nào sớm giống như bất kì quốc gia nào ở Tây Âu hoặc Bắc Mĩ.  Nó sẽ không sụp đổ, và nó sẽ không phát triển một cách triệt để.  Nó chỉ đơn giản là nó. Và hi vọng gì cho tương lai sẽ giống như chuyện châm biếm Stalin rằng chân trời là một nơi xa xôi sẽ tiếp tục lùi xa đi khi bạn tiến tới nó.


Trong thời đại này, ngay cả một hệ thống ổn định, cứ cho là như vậy, cũng cần tiến về phía trước chỉ để ở lại tại chỗ.  Vì vậy nhiều người tin rằng sư bình thường của Nga hiện nay không thể chịu đựng được lâu. Tổng thống Nga Dmitry Medvedev, người chân thành kêu gọi hiện đại hoá trong những ngày này, cho chúng ta một trong các trường hợp hiếm hoi về một đánh giá đầy đủ các mối đe dọa hiện tại. Ông dường như hiểu rằng các yếu tố đảm bảo sự ổn định của Nga không có khả năng hà hơi tiếp sức vào tinh thần sáng tạo cần để tồn tại trong thời kì hỗn loạn.  Nhưng với cái bóng của Putin lơ lửng bên trên, Medvedev không  thể thuyết phục cả nhóm thân cận bên trong của bộ máy hành chính lẫn công chúng nói chung rằng các mối đe dọa mà ông đã xác định là có thật và nguy hiểm.  Không có sự ủng hộ của họ, ông không có gì và không có nơi nào để lãnh đạo.


Trong bất kì trường hợp nào, Medvedev sẽ là sai lầm nếu nghĩ rằng hệ thống này không thể giữ được ổn định lâu dài, thậm chí nếu ông ta đúng khi thấy rằng nó không bao giờ có thể phát triển.  Nước Nga không phải là một chế độ độc tài nhưng là một quốc gia tương đối tự do, ở đó chế độ hiện hành cai trị theo sự đồng thuận hơn là đàn áp, và ở đó dường như không có mối đe dọa nghiêm trọng đối với chế độ.  Một hệ thống không phình trên quy mô lớn vừa đủ thích hợp với các công dân Nga so với những gì họ cho là những lựa chọn thay thế có sẵn.  Nếu bảo với họ rằng hệ thống có thể sụp đổ thì họ sẽ không hoảng loạn như người ta tưởng.  Như nhà sử học Joseph Tainter từng ghi nhận, "Những gì mà  những nhà quan sát thấy như là sự suy giảm. . . không nhất thiết là như vậy đối với phần lớn dân chúng [đối với họ] sự sụp đổ vốn không phải là  một thảm họa, mà là một quá trình tiết kiệm hợp lí cũng có thể đem lợi ích cho phần lớn dân chúng."  Suy cho cùng, ngay cả trong thời phong kiến, lãnh chúa đôi khi cũng thất bại và nông dân tham gia trong việc tái phân bố tự phát của cải.


Thậm chí còn ít liên quan đến tương lai của Nga là ý tưởng cho rằng các quan chức KGB thời Xô Viết chịu trách nhiệm về những thiếu sót của hệ thống chính trị Nga hiện tại.  Những người ủng hộ quan điểm này đã bỏ qua hai sự kiện.


Trước hết, họ quên rằng chế độ chính trị gần như độc tài:”siêu tổng thống " của Nga xuất hiện trong giai đoạn" dân chủ "giữa những năm 1990, khi Boris Yeltsin, nguyên Tổng thống lúc đó, dùng sức mạnh giải tán Quốc hội hợp pháp và thúc ép thông qua một hiến pháp mới theo đó các quyền hạn của Tổng thống không được cân bằng bởi bất kì hạn chế nào. Thật vậy, tình trạng của ông giống như Fuhrer (lãnh tụ) của nước Đức như được xác định bởi Ermächtigungsgesetz (đạo luật uỷ quyền) 23 tháng 3 năm 1933.  Sau đó, nhóm thân cận của Yeltsin  dàn dựng chiến thắng của ông trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996.  Điều đó đã làm đất nước này đi chệch khỏi con đường tự nhiên về xen kẽ quyền lực giữa các chính trị gia tự do và xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên dường như đã dẫn Đông Âu đến sự phát triển thường khoắc khoải nhưng thành công của nó trong những năm 1990 và những năm 2000. Từ đó trở đi, ý tưởng rằng "không có một thay thế" cho nhà lãnh đạo hiện tại hoặc cho người kế tục được ông lựa chọn đã trở thành một phần có tính sống còn trong chính trị Nga.  Nó chẳng có dính dáng một chút gì tới những dấu tích phân nhiệm của KGB.


Thứ hai, họ quên rằng gốc gác phục vụ trong quân đội và ngành an ninh của phần lớn nhóm chủ chốt Nga không nằm trong và tự chúng không phải là những dấu hiệu của sự suy giảm dân chủ.  Nhiều người trong số những người vốn thuộc ngành an ninh là những người có năng lực và trung thực. Những người bên ngoài nước Nga đã quên rằng, trong nhiều thập kỉ quan trọng, nhóm chủ chốt trong KGB là nhóm tiến bộ nhất trong một Liên Xô đang rệu rã.  Vấn đề thực sự không phải là vấn đề do siloviki (силовики - ngành anh ninh) gây ra nhưng do "sự lựa chọn tiêu cực" −  cách mà cả những người dân chủ cũ lẫn đối thủ của họ thu nạp thành viên mới vào tầng lớp chủ chốt.


Hiện tượng Putin phản ánh thực tế rằng các nhà lãnh đạo Nga những năm 1990 thích một viên chức bình thường không có thành tích nào đáng chú ý trở thành Tổng thống mới hơn là, chẳng hạn, những người giàu kinh nghiệm nếu không nói là hoàn hảo như Yevgeny Primakov và Yuri Luzhkov, cả hai đều được nhiều người ưa chuộng vào lúc đó.  Sự nổi lên của Putin, người chỉ mới thăng tới cấp trung tá trong thời Xô Viết và sau này trở nên nổi tiếng chỉ do những vụ  tham nhũng của mình ở hội đồng thành phố St Petersburg, đã trở thành điển hình về sự lựa chọn nhân sự vào những năm 2000.  Các quan chức không hiệu quả, thậm chí những người kém năng lực hơn được tuyển dụng vào với số hàng trăm chiếm lấy những vị trí quan trọng trong các Bộ và các ủy ban, bằng lòng với hiểu biết rằng những người xoàng xĩnh như thế không thể đua tranh hoặc dời họ đi nơi khác. Kết quả là, việc quản lí nhà nước Nga ngày nay ít chịu ảnh hưởng xấu từ một chế độ độc tài kém năng lực hơn là từ một "đầu sỏ quyền lực.”


Một vài ví dụ cũng đủ để chứng minh vấn đề “lựa chọn tiêu cực" này.  Sergei Ivanov là một gián điệp chuyên nghiệp, được phái tới London công tác vào năm 1981.  Sau vài năm, ông ta đã được chuyển tới Phần Lan (không phải như một phần thưởng cho thành tích tuyệt vời như người ta có thể tưởng), và sau đó đến Kenya, nơi mà việc làm của ông ta tạo ra một sự xoá bỏ về mặt tổng thể những gì đã đạt được của mạng lưới tình báo Nga ở phía đông châu Phi.  Giờ đây, ông ta tự hào với vai trò là Phó Thủ tướng Chính phủ trong chính phủ của ông Putin.  Hoặc hãy xem Boris Gryzlov, một kĩ sư trước đây đã trở nên nổi tiếng nhờ phát minh ra bộ lọc được cho là có thể làm sạch nước do bất kì loại ô nhiễm nào, kể cả các hạt phóng xạ.  (Một điều tra của viện Hàn lâm Khoa học Nga về các bộ lọc này cho thấy sử dụng chúng chẳng có lợi lộc gì).  Năm 2001, ông ta được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, và năm 2003 ông được "bầu” làm Chủ tịch viện Duma (Ду́ма - hạ viện), nơi ông trở thành nổi tiếng với quan điểm cho rằng: "Duma không phải là nơi thích hợp cho các cuộc tranh luận."  Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hiện tại, Anatoly Serdyukov, là giám đốc của một cửa hàng đồ nội thất cho đến năm 2000 và hầu như không phân biệt nổi một tàu khu trục với một tàu kéo.  Và danh sách cứ thế tiếp tục ...


Các quan chức như vậy thường cố gắng để che giấu sự thiếu hiểu biết của họ bằng cách kiếm lấy học vị tiến sĩ hoặc giáo sư trong khi đang đương chức. Đối với người Mĩ thật khó mà tưởng tượng ra một điều như vậy, nhưng như Serdyukov, người có bằng tốt nghiệp đại học về kinh tế rồi thông qua một chương trình giáo dục từ xa vào năm 1994 kiếm được bằng tiến sĩ kinh tế vào năm 2000 và trở thành một giáo sư thực thụ vào năm 2006 trong khi đang giữ chức Bộ trưởng Thuế vụ Nga.  Ngày nay, có 71 giáo sư trong số 450 đại biểu Duma. (Không có giáo sư nào trong Hạ viện thứ 110 của Mĩ, và chỉ có ba trong Bundestag thứ 17 của Đức.)  Đặc điểm chủ yếu nhóm chủ chốt chính trị ở Nga hiện nay là một đặc điểm về sự dốt nát hoàn toàn dưới một vỏ bọc các bằng cấp khoa học, rắc rối nếu che đậy kém. Nước Nga sẽ là quá may mắn khi được đặt dưới chế độ cai trị mật vụ.


Tuy nhiên, như nó vẫn là, những kẻ không tên tuổi tiếp tục đến từ những nơi không ai biết đạt được những thành công chưa từng có và các vị trí cấp cao.  Tất cả những gì họ thực sự có năng lực để làm là ăn cắp công quỹ, nhận hối lộ và quỳ gối trước mặt các ông chủ gần như cũng không đủ năng lực như họ.  Cho đến nay nước Nga đã nâng hiện tượng lựa chọn tiêu cực lên một tầm cao vô hình. Sư kiện này, hơn bất kì cái gì khác, giải thích thành tích không dò được của nó và cho chúng ta một cơ sở nào đó để dự báo sự tiến triển của nó.



Những hệ quả

Rõ ràng, thành phần chính trị chủ chốt hiện tại của Nga kém năng lực một cách đột biến so với tầng lớp quan chức của Liên Xô cũ thường có, nhưng những dấu hiệu của sự phi-chuyên môn hoá của nó có thể được tìm thấy trong toàn xã hội. Ngày nay, chỉ có 14% những người tốt nghiệp từ các trường đại học Nga chuyên về kĩ thuật.  Ở Đức là 29%, và ở Trung Quốc gần 42%.  Do thiếu uy tín chuyên môn, các vi trí nghề nghiệp chủ yếu được sắp xếp qua các mối quan hệ cá nhân, còn kinh nghiệm và hiệu suất thực sự không quan trọng.  Giám đốc điều hành Gazprom, Alexei Miller, không có kinh nghiệm trong kinh doanh năng lượng khi ông ta được bổ nhiệm vào vị trí đứng đầu công ti. Ngay cả khi giá khí đốt tăng cao, sản lượng của Gazprom đã giảm từ 523,2 tỉ mét khối năm 2000 xuống 461,5 tỉ trong năm 2009. Giám đốc điều hành của Rosatom, cựu Thủ tướng Sergei Kirienko, không có kinh nghiệm trong lĩnh vực hạt nhân.  Chỉ có một trong 11 lò phản ứng hạt nhân mới mà ông hứa sẽ lắp đặt ở Nga khi được bổ nhiệm vào năm 2005 được đưa vào hoạt động.


Việc phi chuyên môn hoá nước đại của giới cao cấp Nga thực sự có nghĩa là gì?  Gần đây, nó có nghĩa là việc trở thành một quan chức suốt đời là cực kì phổ biến. Đó là chỗ làm ra tiền.


Việc phi-chuyên môn hoá  ở Nga trùng hợp với lưu lượng tiền mặt dồi dào đổ vào nền kinh tế Nga, phần lớn là do giá dầu tăng cao. Thu ngân sách liên bang đã tăng từ 1,2 nghìn tỉ rúp trong năm 2001 lên 8,2 nghìn tỉ rúp trong năm 2008, và đồng rúp đã tăng so với đồng đô la Mĩ từ 29,5 xuống 24,9 rúp mỗi một đô la. Điều này cho phép bộ máy quan liêu của Nga tăng thêm số lượng của cải, nó có thể chiếm đoạt thông qua hối lộ và các nguồn lợi không chính thức khác.  Theo ước tính thực hiện bởi chuyên gia Nga hàng đầu về nạn tham nhũng, Georgyi Satarov, tổng số tiền hối lộ trong nền kinh tế Nga tăng vọt từ $ 33 tỉ đến hơn $ 400 tỉ mỗi năm trong thời Putin cầm quyền.


Hai xu hướng sâu sắc theo sau tình trạng này. Xu hướng đầu là công việc trong bộ máy chính phủ đã trở nên ngày càng hấp dẫn đối với những người trẻ tuổi không nằm trong số tốt nhất và nhanh nhạy nhất của Nga.  Độ tuổi trung bình của một đại tá cảnh sát ở Nga bây giờ là 42; trong những năm cuối cùng của thời Liên Xô cũ là 57.  Độ tuổi trung bình của một sĩ quan cảnh sát thuế vụ nhỏ hơn 33. Trong số các sinh viên tốt nghiệp của một trong các trường đại học Tây hoá nhất ở Moscow là Trường Kinh tế, 88 trong số 109 sinh viên ghi danh vào các khóa học do tôi giảng dạy trong năm 2008 mơ ước về một nghề nghiệp trong bộ máy hành chính.  Điều này có nghĩa là giai cấp cầm quyền Nga rất có khả năng ngày càng trở nên bảo thủ hơn vì nó trở nên trẻ hơn và có được học vấn nhiều hơn.  Điều này bác bỏ hoàn toàn ý niệm phổ biến trong các học giả nước ngoài, cho rằng sự lão hóa của thế hệ các nhà lãnh đạo có kinh nghiệm thực tiễn chính trị thời Liên Xô cũ có thể mở đường cho các nhà lãnh đạo trẻ hơn và phóng khoáng hơn lên nắm quyền.


Xu hướng thứ hai thậm chí còn rõ ràng hơn: tiền bạc ngày nay không những có thể được "trích ra" từ lĩnh vực phục vụ công cộng mà nó còn có thể mua các vị trí có ảnh hưởng trong nhóm chủ chốt quyền lực. Ví dụ, có hơn 49 "quan chức”  giàu triệu đô và 6 “quan chức” giàu tỉ đô ngồi trong viện Duma, và 28 “quan chức” triệu đô và 5 “quan chức”  tỉ đô trong Hội đồng Liên bang.  Ngược lại, trong 15 nước EU đầu tiên chưa từng có một triệu hay tỉ phú nào ngoài tỉ phú Silvio Berlusconi thắng được một ghế trong quốc hội.  Bởi vì viện Duma và Hội đồng Liên bang gồm các đại biểu do điện Kremlin chọn lựa, người ta chẳng cần phải căng óc để tưởng tượng những tay siêu giàu kiếm được các vị trí này bằng cách nào.  Họ dâng tiền “lên" với cả bổng lộc lẫn lòng trung thành, rồi họ được bảo hộ "xuống" − một dấu hiệu của trao đổi xã hội phong kiến.  Trong lúc đó, đa số các bộ trưởng Nga đang cố gắng thuyết phục các công dân bình thường rằng thu nhập trung bình chính thức của họ ít hơn $ 100.000 một năm.  Dù có ai tin họ hay không, không có Bộ trưởng nào mắc nợ hoặc Thống đốc nào bị phá sản ở đất nước này hiện nay.


Người ta có thể thấy hai hướng phát triển thú vị trong chính trị Nga và công việc làm ăn phát sinh từ tất cả những điều này. Hướng đầu tiên là một sự chuyển đổi đều đặn bất kì doanh nghiệp thành công nào thành lập ở Nga kể từ năm 2000 thành một doanh nghiệp bán gia đình. Trong một xã hội thiếu vắng sâu đậm lòng tin xã hội, ai mà bạn có thể tin tưởng được nếu không phải là gia đình của riêng bạn?  Chế độ gia trưởng cũng thể chế hoá như chế độ phong kiến, và, như mọi lúc, chúng hỗ trợ nhau.


Mọi người đều biết rằng những lô đất tốt nhất tại Moscow đều nằm dưới sự kiểm soát vững chắc bởi doanh nhân giàu có nhất trong nước, Yelena Baturina, người đã kết hôn với cựu Thị trưởng Moscow Yury Luzhkov kể từ năm 1991.  Điều này cũng có thể nói về nước Cộng hoà Bashkortostan, Ural Rakhimov, con trai của Tổng thống phục vụ lâu năm Murtaza Rakhimov, nắm quyền kiểm soát dầu và kinh doanh xăng dầu. Vợ của cựu Bộ trưởng Y tế và Phát triển Xã hội Mikhail Zurabov sở hữu nhiều công ti chịu trách nhiệm mua các loại dược phẩm mà sau đó được phân phát miễn phí cho những người nghèo. Đa số dược phẩm được nhà nước mua với giá cao gấp từ 3 tới 5 lần giá thị trường. Người nghèo đã được phục vụ, nhưng kẻ giàu trở nên giàu đậm hơn nhiều trong quá trình này. Có một ví dụ nào tốt hơn về việc ăn nên làm ra khi làm điều tốt theo kiểu Nga không?


Toàn bộ các gia đình đang xâm nhập vào dịch vụ của chính phủ.  Ví dụ, hãy nhìn thêm trường hợp Anatoly Serdyukov, Bộ trưởng Quốc phòng trong chính phủ đứng đầu bởi cha vợ mình, Viktor Zubkov; hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế và Phát triển xã hội hiên nay, Tatyana Golikova là vợ của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Nga Victor Khristenko.  Có những câu chuyện còn màu sắc hơn về việc thiết lập các "triều đại cầm quyền" trong các nước cộng hòa "dân tộc".  Tại Chechnya, Ramzan Kadyrov, 29 tuổi là người kế tục trên thực tế cha mình là Akhmat, ông này bị ám sát vào năm 2004.  Dagestan kể từ tháng Hai 2010 đã nằm dưới sự cai trị của Magomedsalam Magomedov, con trai của Magomedali Magomedov, thủ lĩnh của Dagestan những năm 1983-2006. Những khuôn mẫu này được lặp đi lặp lại ở tất cả các cấp chính quyền.


Nhưng có lẽ đã đủ với những câu chuyện.  Như một người nào đó đã nói, số nhiều của các giai thoại không phải là dữ liệu.  Điều quan trọng hơn nhiều là giới chủ chốt Nga thực sự cai trị quốc gia.  Họ làm điều đó trong khi làm việc với quy tắc luật pháp thể chế hoá khả thi tối thiểu, các vụ sửa đổi luật pháp không dứt và một giả định thường trực về miễn nhiễm của quan chức.  Đã có năm cuộc bầu cử quốc hội được tổ chức tại Nga kể từ ngày "độc lập" với Liên bang Xô viết − mỗi cuộc bầu cử đều diễn ra theo những quy định sửa đổi.  Viện Duma phê chuẩn gần 400 luật mới mỗi năm, nhiều gấp sáu lần Quốc hội Mĩ.  Khi đại biểu không bận rộn thông qua luật mới thì họ đi sửa đổi những luật hiện có.  Về mặt này, cũng không ổn định như những điều có vẻ như ở Washington gần đây, liệu một doanh nhân người Mĩ bình thường có thể tưởng tượng nổi một luật về thuế trong đó một điều khoản quan trọng mới được thêm vào hoặc một điều khoản cũ bị sửa đổi mỗi hai tuần hay không?


Một số luật được thông qua và một số quy định được áp đặt đơn thuần chỉ để hủy diệt một doanh nghiệp cụ thể hoặc buộc chủ sở hữu phải chuyển công ti của họ cho các ông chủ mới.  Cảnh sát thuế hoặc công tố viên cáo buộc doanh nhân có một số hành vi sai trái, buộc họ phải bán doanh nghiệp hoặc đơn giản là chạy trốn khỏi đất nước là việc diễn ra phổ biến.  Sau đó, các luật sư “nhiều kinh nghiệm hơn " dễ dàng tìm thấy nguyên nhân để tranh cãi lại các quyết định của Toà án hoặc quyết định của chính phủ, từ đó mở cửa lại doanh nghiệp cho các chủ sở hữu mới.  Tương tự như vậy, nếu một doanh nhân bị phát giác phạm tội trốn thuế, vi phạm hải quan, ông ta có thể bị truy tố, nhưng người ở Sở thuế hoặc Hải quan đã kí vào tờ kê khai thuế của ông ta vẫn được miễn tố. Trong trường hợp trốn thuế nổi tiếng nhất ở Nga, Mikhail Khodorkovsky và Platon Lebedev đều đã bị kết án tù vào năm 2005 vì đã không đóng thuế đúng hạn trong các năm 2000-2003.  Không viên chức thuế vụ nào cho là có nhiệm vụ kiểm tra tờ khai thuế bị cáo buộc sai lầm của họ đã bị trừng phạt.  Tội của Khodorkovsky và Lebedev không phải là gian lận về thuế mà là tội đang tìm cách vượt quá trần (ceiling) quy định của họ trong hệ thống tầng bậc của chủ nghĩa phong kiến.



Ai sẽ đến kế tiếp?

Như vậy nước Nga ngày nay là  một kiểu "nhà nước công ti" trong đó chính trị chỉ là một loại hình kinh doanh.  Các vấn đề chính trị được giải quyết như thể chúng là các vấn đề thương mại, và các vấn đề thương mại như thể chúng là vấn đề chính trị.  Mục tiêu quan trọng nhất của giới chủ chốt là bảo tồn một hệ thống cho phép những kẻ không có năng lực nắm quyền kiểm soát của cải của đất nước.  Việc hi vọng rằng thay đổi sẽ đến khi giai cấp cầm quyền hiện nay nghỉ hưu và những người mới thay thế họ là vô vọng.


Như vậy,nhà nước Nga sẽ thừa kế loại lãnh đạo nào?  Kinh nghiệm của thập kỉ qua cho thấy rằng thậm chí nếu hệ thống hiện tại là dễ bị tổn thương đối với nhiều áp lực bên ngoài thì các nhóm xã hội có chỗ dựa đủ rộng rãi trong nước được hưởng lợi từ hệ thống này sẽ giữ cho nó được tiếp tục. Từ trước tới giờ, nhiều người dường như sẵn sàng tham gia các nhóm này để được chia phần "của họ" với sự hi sinh, nỗ lực và rủi ro tối thiểu.  Trong những điều kiện như vậy, có nhiều cách khác nhau để thu nạp các thành viên mới vào giới chủ chốt hiện tại mà không có bất kì thách thức đáng kể nào cho quyền lực của nó.


Nhiều lính mới sẽ đến từ các trường cao đẳng và đại học Nga.  Dưới đây là một số xu hướng đứng hàng đầu gần đây.  Đầu tiên, giáo dục đại học Nga ngày nay tập trung không cân xứng vào khoa học xã hội.  Điều này tự nó không phải là điều xấu, nhưng các cán bộ giảng dạy đã lỗi thời và không xứng hợp, vì vậy chất lượng của nghiên cứu rất thấp.  Đôi khi các giáo sư và trợ giáo chỉ đơn giản cung cấp cho sinh viên tầm nhìn riêng của họ về tình hình, và những quan điểm này thường có tính ý thức hệ hoặc những biểu hiện của lòng trung thành với giai cấp cầm quyền.


Hơn nữa, một số đại diện của lớp người này chưa bao giờ giảng dạy trước đây bây giờ trở thành chủ nhiệm khoa và chủ tịch các khoa và các ban mới được thành lập với số lượng đáng ngượng.  Trong các trường đại học tốt nhất của Nga, Đại học Quốc gia Lomonosov Moscow chỉ có 17 khoa khi tôi tốt nghiệp vào năm 1989.  Bây giờ có 39 khoa, và trong số những khoa mới bạn có thể tìm thấy như Khoa Chính trị thế giới, đứng đầu là đại biểu Duma Andrey Kokoshin, Khoa Hành chính, đứng đầu bởi Giám đốc Nhân viên mới của Chính phủ Vyacheslav Volodin, trường cao đẳng truyền hình, dưới sự chủ trì của nhà bình luận bảo thủ cực đoan Vitaly Tretiakov.  Dĩ nhiên, cả ba người này đều là viên chức đảng của Đảng nước Nga Thống nhất.  Nhân đây cũng nói thêm rằng Hiệu trưởng của trường đại học này là thành viên của Hội đồng đảng nước Nga Thống nhất khu vực Moscow.


Ngoài ra, hệ thống ghi danh đã thay đổi đột biến trong những năm gần đây. Thay vì các trường cao đẳng tổ chức các kì thi, hiện nay chỉ có một kì thi quốc gia thống nhất, cho phép ngay cả những người từ các tỉnh xa với điểm cao thường có xuất xứ không rõ ràng, được truy cập dễ dàng hơn các trường cao đẳng đô thị.  Những thanh niên này, hầu như đến từ giữa hư không và với một học vấn trung học rất yếu kém, phải đua tranh với các bạn đồng lứa ở các thành phố lớn có chuẩn bị tốt hơn nhiều.  Tất nhiên, ngay lập tức họ nhận ra rằng lòng trung thành chính trị có thể giúp họ trong cuộc đua tranh bất bình đẳng này, điều này dựng ra sàn diễn cho một hình thức khác của việc đổi trao phong kiến.


Ngày nay, cũng vậy, chỉ một tỉ lệ nhỏ sinh viên có thể sống nhờ vào tiền lương của cha mẹ. Phần lớn những người trẻ tuổi đều đi làm trong khi còn đi học, và họ thường làm việc trong các công ti mới của Nga tổ chức một cách thứ bậc theo phương Tây, với các truyền thống kỉ luật và hợp  lí hóa mọi chức năng (chưa nói đến một số lượng không thể tưởng tượng được thủ tục giấy tờ).  Chủ nghĩa cơ hội trong môi trường như vậy có thể có vẻ là quá trình hợp lí duy nhất.  Vì vậy, người tốt nghiệp từ một thành phố nhỏ ở xa xôi, được dạy bởi những người không chuyên nghiệp, ấn tượng sâu sắc với sự xa hoa đô thị, và  có làm việc một vài năm trong văn phòng của một công ti sản xuất thực tế hầu như không có gì, sẽ tự thấy mình là ứng viên tốt nhất có thể có cho ngành thấp nhất của giới chủ chốt Nga mới.  Với những người ở quê ra thành như thế được hệ thống "sản xuất" với số lượng lớn hàng năm, chế độ hiện hành có thể cảm thấy khá an toàn với nhận thức rằng nó có thể hấp thu hầu như tất cả những kẻ gây rối tiềm năng.


Một dự trữ nhân sự cho giới chủ chốt có thể bắt nguồn từ hàng ngũ các cơ quan “cưỡng chế” của Nga . (Chúng ta có thể gán cho các cơ quan này nhãn “thực thi pháp luật" chỉ theo nghĩa châm biếm).  Dưới thời Putin họ trở nên mạnh mẽ và được nhân bội lên.  Ngày nay, ở đất nước này có hơn 200.000 sĩ quan quân đội chuyên nghiệp đang thực hiện nhiệm vụ.  Khoảng 1,1 triệu binh sĩ phục vụ như các nhân viên của Bộ Nội vụ, hơn 300.000 phục vụ trong Cục An ninh Liên bang, khoảng 200.000 người làm việc trong các văn phòng công tố, và khoảng 150.000 khác trong các ủy ban điều tra khác nhau. Gần như cùng một số lượng như vậy làm cảnh sát thuế và hơn 100.000 phục vụ trong Hải quan và các Sở Di trú Liên bang.  Chúng tôi sẽ không đề cập đến các tổ chức nhỏ như Cục Quản  lí phòng, chống ma tuý và nhiều tổ chức khác nữa. Tổng cộng, hơn 3,4 triệu người − gần 12% lực lượng lao động nam hoạt động − làm việc trong các tổ chức gò theo các nguyên tắc tổ chức theo chiều dọc, sự phục tùng mù quáng và tham nhũng từ gốc rễ.


Những cơ quan này rất kém hiệu quả.  Không có sự sụt giảm về số lượng tội phạm ở Nga từ 2000 tới 2009, các cuộc tấn công khủng bố ở các thành phố Nga vẫn tiếp tục, và không quá 4% các loại ma tuý buôn bán ở Nga hoặc di chuyển qua lãnh thổ Nga bị ảnh sát chặn lại.  Vì vậy, các cơ quan này tìm cách che dấu trên quy mô lớn.  Hàng năm, FSB (ФСБ, Федеральная служба безопасности - cơ quan an ninh liêng bang) báo cáo trên hàng trăm vụ tấn công khủng bố bị ngăn chặn, nhưng các báo cáo này vẫn còn phân loại mật, vì vậy chúng ta không thể xác định hiệu quả thực sự của các dịch vụ an ninh.  Lưu ý rằng khoảng 89% của tất cả các trường hợp giết người và gây tổn hại nghiêm trọng đến cơ thể đã đưa đến các toà án, trong khi đối với các tội phạm kinh tế, tỉ lệ báo cáo theo số liệu thống kê chính thức chỉ là 9,8%.  Điều này cho thấy rằng phần nhiều trong các trường hợp này cuối cùng được giải quyết qua những hợp đồng tham nhũng "thân hữu" giữa cảnh sát và các nhà doanh nghiệp.  Số tiền trung bình hối lộ cho một cảnh sát giao thông hiện nay vào khoảng 2.000 rúp (khoảng $ 70).  Để có được một công việc như "người đang làm nhiệm vụ" như vậy thường phải trả tới $ 50.000 ngay cả ở thành phố thuộc tỉnh.  Thái độ phổ biến nhất của công chúng đối với cảnh sát là không tin cậy và căm ghét.  Ngay cả trong trường hợp nổi tiếng ở làng Kuschevskaya thuộc khu vực Krasnodar, nơi có 12 người bị đâm tìm thấy vào tháng 11 năm 2010 và một băng nhóm từng khủng bố và hãm hiếp người dân địa phương hơn mười năm, nhưng không ai gọi cảnh sát cầu cứu, vì một số cảnh sát và thậm chí một vài đại biểu đảng nước Nga Thống nhất nằm trong số những kẻ tình nghi là tội phạm.  Các cơ quan "cưỡng chế" được nhồi nhét với những người trẻ tuổi không xứng đáng nhưng đầy tham vọng, là nguồn kế cận mới của tầng lớp cầm quyền Nga.


Nguồn tự nhiên nhất của tầng lớp thống trị mới, như tôi đã gợi ra, là con cháu của tầng lớp hiện tại.  Các con trai và con gái của các quan chức đứng đầu tích cực len lỏi vào các cơ quan chính phủ, cũng như vào đội ngũ nhân viên của các tập đoàn lớn sở hữu nhà nước và do nhà nước kiểm soát.  Ví dụ, Dmitry Patrushev, con trai cả của Nikolay Patrushev, Giám đốc FSB từ 1999-2008, vào tháng 5 năm 2010, ở tuổi 32, được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành ngân hàng do nhà nước kiểm soát Rosselkhozbank, lớn thứ tư ở Nga.  Sergei Matvienko, con trai của Valentina Matvienko, Thống đốc St Petersburg, bây giờ là Chủ tịch của công ti VTB-Phát triển, chi nhánh bất động sản của Ngân hàng VTB thuộc sở hữu nhà nước, và là một trong những tỉ phú trẻ nhất Nga ở tuổi 37.  Sergei Ivanov, con trai của Phó Thủ tướng đã nói ở trên, chỉ mới 25 tuổi khi được bổ nhiệm làm phó chủ tịch của ngân hàng Gazprombank, chi nhánh tài chính của Gazprom, và cứ thế tiếp tục..  Người ta có thể chắc chắn rằng con cái của các quan chức hàng đầu của Nga hiện nay sẽ chiếm ít nhất một phần ba các vị trí quan trọng trong chính phủ và quản trị trong 10 đến 15 năm nữa. Và rõ ràng là không ai trong số họ sẽ có động cơ dù nhỏ nhất để thay đổi hệ thống.  Họ sẽ phản đối mạnh mẽ bất kì thay đổi nào để họ có thể làm lợi cho con cái mình.  Họ là những bá tước trong các chế độ phong kiến mới, và con cái của họ được sinh ra trong thái ấp.


Nguồn tuyển dụng ít rõ ràng nhất đến từ chiến lược mới được xây dựng về việc kết nạp các thành viên thuộc "tầng lớp trí thức" bị bỏ dở trong những năm 1990 và trong nửa đầu những năm 2000.  Cái gọi là cộng đồng chuyên gia, bao gồm các nhà kinh tế, các nhà khoa học xã hội, các sử gia và nhà báo, đã bị gãy đổ trong nhiều năm.  Phần lớn các nhà bình luận và các nhà nghiên cứu hàng đầu vẫn đứng ngoài các nhóm chuyên gia lớn được chế độ ủng hộ.  Tuy nhiên, vẫn có thể dễ dàng tuyển dụng một phần cộng đồng này vào nhiều chương trình và sáng kiến khác nhau thuộc các loại chính phủ kiểm soát nhẹ tay hơn.  Sự cám dỗ của cơ hội được trình bày quan điểm, xuất hiện trên truyền hình, tham dự các cuộc tụ họp chính thức và có thể truy cập vào các quỹ được phân phối bởi chính quyền trung ương hoặc địa phương có thể khó cưỡng lại nổi trong điều kiện thiếu thốn các lựa chọn thay thế. Từng bước một, tầng lớp thống trị có thể giảm bớt đi bất kì đối lập có thể có nào.


Còn những người tốt nhất và lanh lợi nhất của Nga thì sao? Ho có tương lai nào trong một nước Nga tân phong kiến? Trong những năm dưới thời Putin, hơn bao giờ hết các quan chức chính phủ đã làm cho giới trẻ tự do hết sức khó khăn để tham gia vào bất kì hình thức  hoạt động phản đối hợp pháp nào.  Không có đảng chính trị mới nào chính thức đăng kí tại Liên bang Nga kể từ đầu những năm 2000 (hai đảng đã đăng kí, Chỉ nước Nga [Just Russia]và Chính nghĩa [Right Cause], đại diện chỉ cho một phân bổ của các đảng nhỏ hơn tồn tại trước đó).  Muốn tổ chức một cuộc trưng cầu đòi hỏi phải thu thập được 2.000.000 chữ kí, và thậm chí nếu yêu cầu này được đáp ứng, hầu hết các chữ kí sẽ bị tuyên bố là vô hiệu. Không một hội đồng lập pháp địa phương nào mà không bị kiểm soát bởi Đảng nước Nga thống nhất.  Cùng lúc đó, chính phủ vẫn cho phép mọi người dân được rời khỏi đất nước một cách tự do.  Đây không phải là điều tình cờ.  Quy mô của dòng chảy các chuyên gia trẻ tuổi tài năng triển vọng nhất đổ ra khỏi nước Nga gần như không thể tin được.  Không biết được các con số chính xác, nhưng các ước tính cho thấy cao đến mức 40,000-45,000 mỗi năm, và có khoảng ba triệu công dân Nga ngày nay sống ở nước ngoài ở Liên minh châu Âu.


Dòng chảy này rõ ràng làm tăng “mật độ " số người xoàng xĩnh còn lại trong nước.  Tổng thống Medvedev nhận ra xu hướng này có thể trở nên nguy hiểm như thế nào và muốn ngăn chặn việc ra đi bằng cách thiết lập các trung tâm khoa học "xuyên biên giới" như Skolkovo, có thể phát triển thành một khu của Nga tương đương với Silicon Valley. Nỗ lực này có nhiều khả năng thất bại  − trước hết vì nhà chức trách Nga hiện nay cố gắng thu hút các học giả nước ngoài và những người Nga đã rời khỏi đất nước bằng cách đề nghị trả họ mức lương rất cao, không để ý đến thực tế rằng điều này cũng có thể thu hút cả những người coi khoa học như một hoạt động thương mại hơn là một nhiệm vụ cao quý.  Andre Geim, người đã được trao giải Nobel Vật  lí năm ngoái, đã cho biết rằng ông sẽ không bao giờ trở về Nga.  Đây là một dấu hiệu rất rõ ràng về những gì đang xảy ra với đất nước này.


Tất cả điều này dẫn đến hai kết luận liên quan.  Một mặt, Nga đã xây dựng nên một hệ thống trong đó việc thực thi quyền lực nhà nước đã trở thành một doanh nghiệp độc quyền.  Hệ thống này chủ yếu được điều khiển bởi các bạn bè và đồng nghiệp của người tạo ra nó là Vladimir Putin, và được vận hành một cách trung thành bởi những kẻ mới đến cần mẫn nhất nhưng với tài cán kém cỏi nhất.  Mọi doanh nghiệp quốc gia lớn đều có liên kết với các cơ quan liên bang hoặc bị chúng kiểm soát, còn các doanh nhân địa phương vẫn phải cố gắng mặc cả với bộ máy quan liêu khu vực.  Tất cả mọi của cải mới được làm ra trong những năm 2000 đều thuộc về bạn bè của Putin và những người đã giúp ông ta xây dựng “hệ thống dọc tiêu cực” này.  Vì vậy, trong những năm sắp tới, cạnh tranh bên trong giới chủ chốt sẽ giảm xuống, chất lượng quản trị sẽ tệ hại nhiều hơn nữa, và những gì còn lại của việc quản  lí hiệu quả sẽ sụp đổ.  Tuy nhiên, thay đổi các xu thế này vẫn sẽ là một bước hoàn toàn không hợp lí đối với tầng lớp chính trị này.


Cùng lúc đó, có một nhóm xã hội rất lớn muốn tham gia hệ thống này, chứ không phải chống đối nó (trái ngược với những năm cuối cùng của Liên Xô).  Điều này cũng giống như muốn tham gia vào chương trình Ponzi ở phía dưới đáy với hi vọng rằng người ta có thể không ở lại mãi phía dưới đáy, và rằng trong bất cứ trường hợp nào cũng sẽ  tốt hơn so với những người còn ở bên ngoài chương trình hoàn toàn.  Khi sự phi-chuyên nghiệp hoá trong chính chính phủ đi lên (cùng với "thương mại hóa" các dịch vụ nhà nước) sự cạnh tranh giữa những kẻ không chuyên nghiệp cũng sẽ tăng lên, vì nguồn cung cấp những kẻ như thế không bao giờ bị thiếu hụt.  Vì vậy, trong tương lai, nhóm chủ chốt cầm quyền ít cạnh tranh nội bộ hơn sẽ có thể cùng nhau lựa chọn bất kì một số lượng đàn em nào.


Nhóm chủ chốt Nga về cơ bản đã "băng đảng hoá" và tư nhân hóa một trong những nước giàu nhất thế giới.  Nó rất biết ơn vì đặc quyền này đến nỗi có thể nằng nì Putin quay trở lại điện Kremlin vào năm 2012 thêm 12 năm ảm đạm nữa.  Vào lúc đó, các nhóm những người trẻ phóng khoáng mà nhiều nhà phân tích phương Tây gắn hi vọng về sự thay đổi vào họ sẽ lớn lên.  Những người xoàng xĩnh trong số đó sẽ thành một phần của hệ thống.  Không chút nghi ngờ, hầu hết những người tốt nhất trong họ sẽ không còn cư trú ở Nga nữa.




Wednesday, September 10, 2014

Mối nguy sợ xung đột của Mĩ

Mối nguy sợ xung đột của Mĩ

(WSJ 5-9-14)

 (Gs Trần Hữu Dũng cho biết: Kagan có thể được xem là diều hâu "tân bảo thủ" nhưng tương đối ôn hòa hơn bọn John Bolton, Doug Feith, Bill Kristol...  Vợ Kagan là Victoria Nuland, phụ tá của [john] Kerry.  Nên đọc bài này, nó sẽ có ảnh hưởng!)

Mĩ ngày càng khao khát thoát khỏi các thực tế chiến tranh khắc nghiệt, nhưng như các sự kiện gần đây làm thấy rõ, quyền lực thô vẫn là một yếu tố quan trọng trong chính trị quốc tế



Trước hết, chính người châu Âu đã tìm cách thoát khỏi những thực tế quyền lực bi thảm nhuộm máu thế kỉ 20 của họ. Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, họ bắt đầu tự giải giáp trong niềm tin đầy hi vọng rằng vũ khí và các biện pháp quyền lực truyền thống không còn quan trọng. Một hệ thống pháp luật và các tổ chức quốc tế mới sẽ thay thế hệ thống quyền lực cũ; thế giới sẽ tự đi theo mô hình Liên minh châu Âu - còn nếu không thì Mĩ sẽ vẫn còn đó để cung cấp an ninh theo kiểu cũ.

Nhưng bây giờ, trong bối cảnh cuộc chiến tranh ở Iraq và ở Afghanistan, chính nước Mĩ có vẻ đang khao khát thoát khỏi gánh nặng quyền lực và trút bỏ các thực tế bi thảm về tồn tại của con người.

Ít ra cho đến các sự kiện xảy ra gần đây, đa số dân Mĩ (và các tầng lớp chính trị và trí thức Mĩ) dường như đã đi gần đến kết luận rằng không những cuộc chiến tranh đó là khủng khiếp mà nó còn không có hiệu quả trong thế giới hiện đại toàn cầu hoá của chúng ta. Fareed Zakaria thuộc CNN đã viết "Có một trật tự quốc tế đang phát triển với các chuẩn mực toàn cầu mới làm cho chiến tranh và chinh phục ngày càng hiếm đi", gần như chỉ ngay đêm trước ngày Nga xâm lược Ukraine và Nhà nước Hồi giáo dẩm bước trên khắp Syria và Iraq, vay mượn ý của Steven Pinker thuộc Đại học Harvard. Các sách lịch sử về Thế chiến I bán chạy nhất dạy rằng các nước không sẵn sàng đi đến chiến tranh nhưng chỉ "ngáy ngủ đi" vào chiến tranh do các tính toán sai lầm bi thảm hoặc do sự ngớ ngẩn quá mức.

Một phần tư thế kỉ qua, người Mĩ đã được cho biết rằng tận cùng của lịch sử nằm ở sự nhàm chán hơn là xung đột lớn, rằng các nước với các cửa hàng McDonald sẽ không bao giờ đánh nhau, rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và vũ khí hạt nhân làm chiến tranh giữa các cường quốc lớn ít có khả năng nếu không nói là không thể xảy ra. Gần đây bài thuốc này được kèm thêm với lời thần chú phù phiếm. "Không có giải pháp quân sự" là điệp khúc không dứt của các chính khách phương Tây liên quan đến các cuộc xung đột từ Syria đến Ukraina; quả thực, hành động quân sự chỉ làm cho vấn đề tồi tệ thêm. Nhà báo Moisés Naím trong một cuốn sách được đánh giá cao gần đây lập luận rằng quyền lực tự nó đã không còn như trước.

Tổng thống Mĩ Barack Obama và Thủ tướng Anh David Cameron cúi đầu trong phút mặc niệm hôm thứ năm tại một hội nghị thượng đỉnh NATO ở xứ Wales. Reuters

Lịch sử có một cách trả lời cho các nhận định như vậy. Mong muốn thoát khỏi quyền lực chắc chắn không phải là mới mà từng là nguyện vọng liên tục của chủ nghĩa tự do thời Khai Sáng trong hơn hai thế kỉ.

Việc không thể xảy ra chiến tranh là điều thường thức trong những năm trước Thế chiến I, và nó đã trở thành điều thường thứcmột lần nữa, ít nhất là ở Anh và ở Mĩ, gần như chỉ một ngày sau khi chiến tranh kết thúc. Sau đó, cũng như bây giờ, người Mĩ và người Anh tự thân tin rằng mọi người đều cùng chia sẻ với họ sự mất ảo tưởng với chiến tranh. Họ tưởng tượng rằng vì chiến tranh thật khủng khiếp và phi lí, như cuộc Đại chiến vừa qua chắc chắn đã cho thấy điều đó, nên không có người lành mạnh nào sẽ chọn nó.

Chuyện gì xảy ra tiếp, khi thập niên 1920 hòa bình tuột dốc vào thập niên 1930 bạo lực và dã man, có thể là chỉ dẫn cho thời đại của chính chúng ta. Lúc đó, mong muốn tránh chiến tranh - kết hợp với việc đoan chắc rằng không một quốc gia nào có lí gì để có thể tìm kiếm nó - một cách logic và tự nhiên đã dẫn tới chính sách nhân nhượng.

Các nước đe dọa xâm lược, xét cho cùng, đều có những bất bình, như hầu hết các nước gân như luôn như thế. Họ là các cường quốc "không quyền lực” trong một thế giới bị chi phối bởi các nước Anglo-Saxon giàu có và hùng mạnh, và họ đòi hỏi một sự phân phối hàng hóa công bằng hơn. Trong trường hợp của Đức, sự bất bình về cách giải quyết trong hiệp ước hòa bình Versailles cháy âm ỉ vì nhiều lãnh thổ và dân số từng dưới sự kiểm soát của Đức đã bị lấy đi để đảm bảo an ninh cho các nước láng giềng của Đức. Trong trường hợp của Nhật Bản, cường quốc đảo với dân số vượt mức cần kiểm soát lục địa châu Á để tồn tại và phát triển thịnh vượng trong cuộc cạnh tranh với các cường quốc khác.

Vì vậy, các cường quốc tự do cố gắng lập luận với họ, để hiểu và thậm chí chấp nhận các bất bình của họ và tìm cách xoa dịu họ, ngay cả khi điều này có nghĩa là hi sinh những nước khác – chẳng hạn như Trung Quốc và Séc – cho họ cai trị. Đó dường như là một cái giá hợp lí, mặc dù có thể là đáng tiếc, để tránh một cuộc chiến tranh thảm khốc. Điều đó là chủ nghĩa hiện thực tế thập niên 1930.

Tuy nhiên, cuối cùng các cường quốc tự do đã khám phá ra rằng những bất bình của các cường quốc "không quyền lực” đi xa hơn những gì mà ngay cả đối thủ hào phóng nhất có thể đáp ứng. Điều bất bình cơ bản nhất, khi lộ ra, lại là bị buộc phải sống trong một thế giới được định hình bởi những nước khác-- là dân Đức hoặc Nhật trong một thế giới bị chi phối bởi dân Anglo-Saxon.

Để thoả mãn bất bình này sẽ đòi hỏi nhiều hơn là những điều chỉnh bên lề về lãnh thổ và kinh tế hoặc thậm chí là hi sinh một quốc gia nhỏ và yếu nơi này hay nơi khác. Nó sẽ đòi hỏi việc cho phép các cường quốc "không quyền lực” định hình lại trật tự chính trị và kinh tế quốc tế cho phù hợp với nhu cầu của họ. Hơn thế nữa, nó sẽ đòi hỏi việc để cho những cường quốc đó trở nên đủ mạnh để định đoạt các điều khoản của trật tự quốc tế - vì-nếu không thì làm thế nào họ có thể thoát khỏi áp bức bất công?

Cuối cùng, trở nên rõ ràng rằng nhiều thứ đã diễn ra vượt quá các đòi hỏi hợp lí cho công lí, ít nhất như đầu óc thời Khai Sáng hiểu thuật ngữ này. Hóa ra chính sách của những kẻ xâm lược là sản phẩm không những của các bất bình vật chất mà còn của những ham muốn vượt quá vật chất và lí lẽ đơn thuần.

Nhà độc tài Đức Adolf Hitler và Thủ tướng Anh Neville Chamberlain tại Munich vào năm 1938  In Collector / Getty Images
Các nhà lãnh đạo của họ, cùng với một số lượng lớn công chúng của họ, bác bỏ các khái niệm tự do về tiến bộ và lí trí. Thay vào đó họ lại xúc động bởi các khao khát lãng mạn về những vinh quang quá khứ hay trật tự quá khứ và từ khước các khái niệm Khai Sáng về hiện đại. Những nhà cai trị tham lam hay hoang tưởng của họ, hoặc chấp nhận một cách dị thường (trong trường hợp của Nhật) hay tích cực hoan nghênh (trong trường hợp của Đức) xung đột vũ trang như là trạng thái tự nhiên của các vấn đề con người.

Tới lúc mà tất cả những điều này đã trở thành rõ ràng không thể nhầm lẫn được đối với các cường quốc tự do, tới lúc mà họ nhận ra rằng họ đang đối phó với những người không nghĩ như họ đã làm, tới lúc mà họ nắm bắt được rằng không có gì khác mấy sự đầu hàng sẽ tránh được xung đột và rằng đưa cho kẻ xâm lược, ngay cả một phần của những gì họ yêu cầu - Mãn Châu, Đông Dương, Tiệp Khắc - chỉ làm họ mạnh lên chứ không làm họ thoả mãn, thì đã quá muộn để tránh chính cuộc chiến tranh thế giới mà Anh, Pháp, Mĩ và những nước khác đã cố gắng một cách tuyệt vọng để ngăn ngừa.

Kinh nghiệm cháy bỏng này - không chỉ Thế chiến II mà nỗ lực thất bại để thoả mãn những kẻ không thể thỏa mãn được – đã định hình chính sách của Mĩ trong thời kì sau chiến tranh. Đối với những thế hệ có chia sẻ kinh nghiệm này, nó áp đặt một cảm giác mới và khác của chủ nghĩa hiện thực về bản chất của con người và hệ thống quốc tế. Nhiều hi vọng cho một kỉ nguyên mới hòa bình được nung đúc.

Các lãnh đạo Mĩ và công chúng Mĩ nói chung liệu có chấp nhận trong hối tiếc thực tế quyền lực bi thảm và không thể tránh được này. Họ đã chấp nhận tư thế chủ nghĩa tự do vũ trang. Họ làm ra hàng ngàn loại vũ khí hủy diệt không thể tưởng tượng nổi. Họ triển khai hàng trăm ngàn binh sĩ ra nước ngoài, ở trung tâm châu Âu và dọc theo vành đai Đông Á, giữ vai trò răn đe trước việc xâm lược. Họ đã chiến đấu ở các vùng đất xa xôi, phần lớn chưa biết đến, đôi khi một cách ngu ngốc và đôi khi không hiệu quả nhưng luôn luôn với ý tưởng - gần như chắc chắn chính xác - rằng nếu không hành động chống lại kẻ xâm lược sẽ chỉ mời gọi xâm lược thêm nữa.

Nói chung, ngoại trừ cuộc đọ sức ngắn định mệnh dưới thời Tổng thống Richard Nixon và cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, họ không thích làm dịu bớt hoặc thậm chí thừa nhận những bất bình của những kẻ chống đối họ. (Tổng thống Harry Truman và Ngoại trưởng Dean Acheson, hai kiến trúc sư của chủ nghĩa tự do vũ trang, chẳng bao giờ quan tâm nhiều tới việc thương lượng với Liên Xô, trong khi Tổng thống Ronald Reagan chủ yếu chỉ quan tâm tới việc thương lượng về các điều khoản đầu hàng của họ.)

Đằng sau những hành động của các kiến trúc sư về ngăn chặn của Mĩ là niềm tin, dựa trên kinh nghiệm khó khăn, rằng không thể luôn luôn trông đợi những dân tộc khác trân quý những gì mà thế giới tự do trân quý -  thịnh vượng, nhân quyền hay thậm chí là hòa bình - và do đó thế giới tự do phải luôn cảnh giác, vũ trang tốt và chuẩn bị tốt chống lại các khuấy động tiếp theo của các thôi thúc phi tự do, vượt trội trở lại vốn là một đặc tính thường trực của nhân loại.

Thật dễ dàng để duy trì sự cảnh giác bi thảm này trong khi hệ tư tưởng cộng sản dựa trên đấu tranh, phi tự do ngự trị trên hơn một nửa lục địa Á-Âu  - và thật khó khăn để duy trì sự cảnh giác đó từ khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ dường như mở ra một kỉ nguyên mới của chủ nghĩa tự do phổ quát, và cuối cùng cùng với nó là viễn ảnh một nền hòa bình của Kant trong một thế giới chi phối bởi nền dân chủ.

Một khoảng thời gian trong thập niên 1990, khi các thế hệ thuộc Thế chiến II và Chiến tranh lạnh lần đầu còn sống sót, những bài học cũ vẫn còn hướng dẫn chính sách. Tổng thống George H.W. Bush và cố vấn an ninh quốc gia Brent Scowcroft, phái nửa triệu quân Mĩ chiến đấu cách xa hàng ngàn dặm không có lí do nào khác hơn là để ngăn chặn sự xâm lược và khôi phục lại một vương quốc sa mạc đã bị người hàng xóm bạo ngược xâm chiếm . Kuwait không được hưởng đảm bảo an ninh với Mĩ; các giếng dầu trên vùng đất của họ đều sẽ sẵn cho phương Tây khai thác nếu được Iraq vận hành; và tiểu vương quốc 30 tuổi này dưới quyền cai trị của gia đình al-Sabah có đòi hỏi về địa vị quốc gia có chủ quyền ít hơn Ukraine ngày hôm nay. Tuy nhiên, như ông Bush sau này nhớ lại, "Tôi không muốn có nhân nhượng."

Tuy nhiên, hơn một thập kỉ sau đó một ít, Mĩ là một quốc gia đổi khác. Do những kinh nghiệm ở Iraq và Afghanistan, gợi cho thấy việc phái thậm chí chỉ vài ngàn binh sĩ đi đánh nhau ở bất kì nơi nào vì bất kì lí do nào là gần như không thể tưởng tượng được. Các thành viên hiếu chiến nhất của Quốc hội không còn cảm thấy an toàn để biện giải cho một cuộc tấn công trên thực địa Nhà nước Hồi giáo hay cho một sự hiện diện quân NATO tại Ukraine. Không có cuộc thảo luận nghiêm chỉnh nào về đảo ngược việc cắt giảm ngân sách quốc phòng, mặc dù các yêu cầu chiến lược bảo vệ các đồng minh của Mĩ tại châu Âu, châu Á và Trung Đông hiếm khi biểu hiện nhiều hơn bây giờ trong khi khả năng của Mĩ để làm như vậy hiếm khi bị nghi ngờ nhiều hơn bây giờ.

Nhưng dân Mĩ, tổng thống và các đại biểu do họ bầu đã chấp nhận cái khoảng cách giữa chiến lược và khả năng này mà không bình luận nhiều, ngoại trừ những người muốn từ bỏ chiến lược. Một lần nữa, điều đó như thể người Mĩ tin rằng việc họ mất ảo tưởng với việc sử dụng vũ lực theo một cách nào đó có nghĩa là vũ lực không còn là một yếu tố trong các vấn đề quốc tế.

Trong thập niên 1930, ảo tưởng này đã được Đức và Nhật xua tan, các nhà lãnh đạo và công chúng hai nước này tin tưởng rất nhiều vào lợi ích của sức mạnh quân sự. Ngày nay, khi Mĩ dường như tìm cách thoát khỏi quyền lực thì những nước khác đang bước tới, như thể có sắp xếp trước, để chứng minh quyền lực thô thực sự có thể có hiệu quả như thế nào.

Một lần nữa, họ là những người không bao giờ chấp nhận định nghĩa của thế giới tự do về tiến bộ và hiện đại và họ cũng không chia sẻ hệ thống tầng bậc về giá trị của họ. Họ không phải chủ yếu bị các vấn đề kinh tế lôi kéo. Họ chưa bao giờ đặt niềm tin vào sức mạnh của quyền lực mềm, không bao giờ tin rằng dư luận thế giới (dù bất bình tới mức nào) có thể ngăn chặn cuộc chinh phục thành công của một quân đội được xác định. Họ không nản lòng bởi các cửa hàng McDonald của họ. Họ vẫn tin vào các chân lí quyền lực cứng theo kiểu cũ, ở trong và ngoài nước. Và nếu họ không gặp phải một phản ứng quyền lực cứng đủ mạnh, họ sẽ chứng minh rằng, có chứ, có một cái điều như là một giải pháp quân sự.

Những nước sử dụng sức mạnh ngày càng tăng trong các phần khác của thế giới và những nước, giống như nước Nga độc tài của Vladimir Putin và Nhà nước Hồi giáo cuồng tín của Abu Bakr al-Baghdadi, có những bất bình của riêng mình sẽ nắm chắc bài học này. Trong thập 1930, khi mọi thứ bắt đầu xấu đi thì chúng trở nên tồi tệ rất nhanh. Cuộc xâm lược Mãn Châu của Nhật vào năm 1931 phô lộ cái vỏ rỗng đó là Hội Quốc-Liên - một bài học do Hitler và Mussolini gây ảnh hưởng trong bốn năm sau đó. Sau đó, những thành công quân sự của Đức ở châu Âu khiến Nhật bạo dạn hơn thực hiện bước chuyển ở Đông Á trên giả định không phải không hợp lí rằng Anh và Mĩ đã quá phân tâm và quá căng thẳng để phản ứng. Các cuộc tấn công liên tiếp của những kẻ xâm lược phi tự do, và những thất bại liên tiếp của các cường quốc tự do, do đó đã dẫn đến một loạt các tai ương.

Những ông bà thông thái của thời đại chúng ta khẳng định rằng lịch sử này là không thích đáng. Họ bảo chúng ta, khi họ không báo sự suy sụp không thể đảo ngược của Mĩ, rằng đối thủ của chúng ta quá yếu để đặt ra một mối đe dọa thực sự, ngay cả khi các đối thủ này giành được hết chiến thắng này đến chiến thắng khác. Họ lập luận Nga là một cường quốc đi xuống. Nhưng lúc đó, Nga đã đi xuống trong 400 năm. Có thể nào một cường quốc đang đi xuống mà không gây ra tàn phá? Liệu nó giúp cho chúng ta khi nhìn lại biết rằng Nhật thiếu sự giàu có và sức mạnh để giành chiến thắng trong chiến tranh mà họ khởi sự vào năm 1941?

Chúng ta hãy hi vọng rằng những ai kêu gọi bình tĩnh là đúng, nhưng rất khó để tránh ấn tượng rằng chúng ta đã có năm 1931 của mình rồi. Khi chúng ta tiến sâu hơn vào phiên bản thập niên 1930 của mình, giống như các thế hệ đi trước chúng ta có thể hoàn toàn bị sốc về mức độ nhanh chóng mà các thứ sụp đổ.

Kagan là thành viên cao cấp tại Viện Brookings và là tác giả của nhiều cuốn sách bao gồm "Of Paradise and Power" và gần đây nhất là cuốn "The World America made."

Friday, November 1, 2013

Cảnh báo về tài phiệt

BY CHRISTIAN CARYL
Foreign Policy (24/10/ 2013)

Những tay giàu có nhem nhúa đang trở thành những tên độc tài mới của thế kỉ 21 bằng cách nào.


Đầu tháng này, ngân hàng đầu tư tín dụng Thuỵ Sĩ (investment bank Credit Suisse) công bố khảo sát hàng năm về của cải toàn cầu. Báo cáo của ngân hàng đầy các phát hiện sáng tỏ, nhưngcó một phát hiện đã đặc biệt thu hút sự chú ý của tôi. Phát hiện đó liên quan tới việc phân bố tài sản ở Nga, ở đó, như báo cáo lưu ý, một nhúm  chỉ 110 người sở hữu một tỉ lệ khó tin là 35 % toàn bộ của cải của đất nước này. Đồng thời 93,7 % người Nga có tài sản trị giá $ 10 000 hoặc ít hơn.

Như báo cáo này lưu ý, điều này làm cho Nga thành nước có sự chênh lệch về tài sản lớn nhất trên thế giới. Người Mĩ, đang ngày càng lo ngại về sự bất bình đẳng sâu thêm ở đất nước của mình, có thể tìm kiếm sự an ủi từ kết luận u ám này. Thậm chí trong hoàn cảnh hiện tại, sự giàu có ở Hoa Kì vẫn còn trải ra đồng đều hơn nhiều so với sự chênh lệch đó (như so sánh này cho thấy). Sự việc đã có thể tồi tệ hơn, đúng không?

Vâng, có thể như thế. Nhưng tôi thấy có ít lí do để hân hoan. Nga chỉ là trường hợp cực đoan nhất của một xu hướng toàn cầu có khả năng tiêu biểu cho một trong những mối đe dọa lớn nhất mà nền dân chủ phải đối mặt ngày hôm nay: sự lan rộng của nền chính trị đầu sỏ.

Vấn đề không phải chỉ là một số người trong thế giới ngày nay giàu có một cách hoang đường. Vấn đề là sự giàu có không cân xứng đó ngày càng đi cùng với quyền lực không cân xứng. Nga, một lần nữa, cho ta một ví dụ điển hình của sự nguy hiểm này. Quay trở lại những năm 1990, một nhúm các trùm kinh doanh đi đêm với giới chính trị xoay xở để trục lợi từ mối quan hệ thân cận với điện Kremlin của Boris Yeltsin bằng cách lợi dụng việc tư nhân hóa công nghiệp đồ trang sức của đất nước - trên tất cả là trên các tài nguyên dầu mỏ to lớn của nó. Những tay trùm này đã không ngần ngại khai thác sức mạnh kinh tế của mình cho các mục đích chính trị. Họ tài trợ cho Yeltsin tái cử tổng thống vào năm 1996, kiểm soát việc bổ nhiệm quan chức cấp bộ, và khống chế các chính sách của chính phủ. Không ngạc nhiên là những doanh nhân kiêm chính trị gia này đã nhanh chóng được mệnh danh là các "đầu sỏ chính trị" ("Orligarchy (Đầu sỏ)" là tiếng Hy Lạp chỉ "chính phủ của số ít.”)

Một người trong số họ, vừa mới mất, tay giảo hoạt Boris Berezovsky, đã đạo diễn một nhân viên KGB cũ trồi lên thành thủ tướng. Dù vậy, cuối cùng Vladimir Putin đã cho thấy sự biết ơn ít ỏi. Khi mà Putin trở nên vững vàng trên vị trí tổng thống, ông ta đã nhanh chóng thẳng tay cắt bỏ ảnh hưởng người bảo trợ xưa, buộc Berezvosky phải sống lưu vong. Putin cũng cắt giảm quyền lực của các ông trùm khác thời Yeltsin, (đáng để ý nhất là Mikhail Khodorkovsky, người mà hôm nay đánh dấu 10 năm ngồi tù trong một trại lao động), nhưng thay vào chỗ của họ ông ta đã dựng lên một nhóm các doanh nhân mới - nhiều người có quan hệ với các cơ quan an ninh Liên Xô cũ – được vận may nhờ vào ông ta. Một trong số họ là cựu nhân viên KGB tên Igor Sechin, người đứng đầu công ti dầu mỏ lớn nhất của đất nước, được một số người coi như là người có quyền lực mạnh thứ hai sau Putin. (Sechin là người bên trái trong các bức ảnh trên.)

Nhưng đây không phải là vấn đề duy nhất của Nga. Vì bây giờ đã trở nên rõ ràng, toàn cầu hóa và các lực lượng kinh tế mạnh mẽ mà nó tung ra đã trao sự giàu có và quyền lực chưa từng có cho một nhóm nhỏ nhoi chủ chốt mới. Gọi họ bằng tên gì tuỳ ý bạn: giai cấp siêu đẳng, bọn tài phiệt, giới "ưu tú toàn cầu." Cái mà họ minh họa là cách thức quan hệ giữa giàu có với quyền lực chính trị. Và đó là một vấn đề ngày càng gây phiền nhiễu cử tri nhiều nơi từ London tới Kuala Lumpur.

Đó là một thách thức mang nhiều hình thức khác nhau. Ở Trung Quốc, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản cầm quyền thường là con đường dễ dàng đi tới sự giàu có. Nhiều vụ bê bối chính trị hiện nay xoáy quanh những trò hề của đám “thái tự đảng” (con cháu của các quan chức cao cấp của đảng, những kẻ hiện thân sự pha trộn khác thường chủ nghĩa Mác-Lênin với chủ nghĩa tư bản bè phái của đất nước này) có nhiều ‘quan hệ’. Nhờ có việc đào bới đáng chú ý của các nhà báo dám làm trong những năm gần đây, chúng ta đã biết được một số điều đáng kinh ngạc về mức độ đặc quyền mà các đại gia đình của những người đáng chú ý như Chủ tịch Tập Cận Bình và cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Nhưng điều này hầu như không đến như là một bất ngờ. Khi bạn thấy rằng nước Cộng hòa nhân dân này do bảy uỷ viên Uỷ ban thường vụ Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản điều hành, bạn đang nói về một số lượng nhỏ nhoi các gia đình thực hiện việc kiểm soát không bị kiềm chế đối với một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trong một bối cảnh như vậy, quyền lực chính trị và kinh tế củng cố lẫn nhau chỉ là điều tự nhiên.

Tất nhiên, tình hình ở Trung Quốc là kết quả của một chương trình tự do hóa kinh tế lèo lái bởi một nhóm chủ chốt độc đoán. Ở các nước đã phát triển ở phương Tây tình hình khác biệt hơn. Số lượng đấu thủ nhiều hơn, sự giàu có và ảnh hưởng chính trị được phân phối rộng ra hơn. Nhưng điều đó có lẽ là chút an ủi cho, chẳng hạn, người Mỹ vốn nổi lên như những kẻ thua thiệt từ thời kỳ vàng son cuối cùng của đất nước. Bình đẳng kinh tế ở Hoa Kỳ tăng đều đặn trong ba thập niên đầu của thời kỳ sau Thế chiến II, nhưng dậm chân dừng lại giữa tình trạng ngưng trệ và cạnh tranh quốc tế gia tăng trong những năm 1970. Như nhà kinh tế học Joseph Stiglitz lưu ý trong một bài xã luận gần đây:

“Năm ngoái, 1 % người Mĩ lớp trên cùng đã mang về 22 % thu nhập quốc gia; 0,1 % lớp trên cùng mang về 11 %. 90% toàn bộ lợi tức thu nhập từ năm 2009 đều đi vào 1 % lớp trên cùng. Số liệu điều tra dân số công bố gần đây cho thấy thu nhập trung bình ở Mỹ đã không nhúc nhích trong gần một phần tư thế kỷ.”

Đồng thời, sự thả lỏng bất thường của luật pháp Hoa Kì về vận động hành lang và tài trợ cho các chiến dịch vận động đã cho phép giới thượng lưu giàu có nắm được sự khống chế to lớn đối với quy trình chính trị đó. Cho đến bây giờ, bất cứ ai có theo dõi nền chính trị Mĩ đều đã nghe những câu chuyện về các khoản tiền mặt to lớn do các trùm kinh doanh bảo thủ chi ra như Koch Brothers, thường ít được thảo luận hơn có lẽ, là các đảng viên Dân chủ giàu có, chẳng hạn như George Soros hay Tom Steyer, họ vui lòng tận dụng sự giàu có của họ để gây ảnh hưởng lên chính sách. Nhưng thậm chí còn ít nhìn thấy được là những công ty lớn và các hiệp hội công nghiệp có thể mua các nhà làm luật và sửa luật để nâng lằn vạch dưới cùng (giảm bỏ hạn chế) của chính họ lên.

Một nghiên cứu khoa học gần đây tính ra rằng 40 % các đóng góp cho vận động chính trị trong năm 2012 đến từ một phần trăm của một phần trăm hộ gia đình Mĩ. Con số này có thể phản ánh nhận thức ngày càng tăng của nhóm chủ chốt kinh tế mới về quyền lực chính trị của chính họ - không kể đến sự thờ ơ trong các thành phần khác của dân số, những người cảm thấy ngày càng tách rời khỏi sự tham gia có ý nghĩa. Sự xói mòn của các trung tâm quyền lực thay thế, chẳng hạn như các công đoàn, chắc chắn góp phần vào một cảm giác hoài nghi và buông xuôi tăng lên. Tất cả đều có tác dụng làm suy yếu tính hứa hẹn của hệ thống dân chủ của Mĩ. (Trong bối cảnh đó, không có gì lạ khi Tòa án Tối cao Hoa Kì lại một lần nữa cân nhắc những vấn đề về giới hạn đối với những đóng góp cá nhân cho các cuộc vận động chính trị.)

Kết quả là, Mĩ hiện đang trãi qua một cuộc thảo luận đáng chú ý về những nguyên nhân của sự bất bình đẳng mới này và những hậu quả chính trị của nó. Các tác giả từ George Packer tới Tyler Cowen đang khuấy động cuộc tranh luận sôi nổi về sự suy sụp nhận thức được về khế ước xã hội Mĩ. Cuốn sách mới của nhà kinh tế Angus Deaton, The Great Escape (xem đoạn trích của DemLab ở đây), bao gồm một đoạn trích đáng nhớ từ luật sư Louis Brandeis : "Nếu dân chủ trở thành chế độ tài phiệt, những người không giàu sẽ bị tước quyền bầu cử một cách hiệu quả."

Chúng ta có thể ngăn chặn xu hướng này không? Một vài người - như Cowen, tin rằng sự bất bình đẳng hiện nay phần lớn là việc vận hành của sự thay đổi công nghệ - thì hoài nghi. Những người khác nhấn mạnh rằng chúng ta có thể chống lại sự trôi dạt về phía chính phủ bởi nhóm nhỏ bằng những chính sách thông minh được thiết kế để san lấp sân chơi ngang bằng – trước hết trong giáo dục, cơ sở hạ tầng, và chăm sóc sức khỏe. Các biện pháp để hạn chế vai trò của đồng tiền trong chính trị có thể sẽ cũng không là một ý tưởng tồi (giả định chúng ta có thể tìm thấy một số biện pháp thực sự có tác động). Đối với những người vẫn tin vào tính ưu việt của thị trường, gói biện pháp này cũng có thể bao gồm các phương cách nhằm thúc đẩy cạnh tranh thực sự thay vào chỗ của phúc lợi công ti hiện nay cho các siêu công ti gắn kết với chính trị.

Điều này chắc chắn không có nghĩa là từ bỏ chủ nghĩa tư bản. Như các nhà kinh tế phát triển chỉ ra, toàn cầu hóa đã mang lại sự thịnh vượng tương đối tới nhiều người trên khắp thế giới, những người trước đây thậm chí không thể mơ tới điều đó. (Cho một khởi đầu, hãy nghĩ tới tất cả những nông dân Trung Quốc, những người mà bây giờ có thể lo đủ ba bữa ăn một ngày - điều không tưởng tượng nổi trước đây). Sức khỏe và các chỉ số phát triển tổng thể đã được cải thiện đáng kể trong 50 năm qua. Nhưng không điều nào trong số này xoá bỏ sự cần thiết phải đảm bảo rằng các lợi ích khác thường tích lũy cho các siêu sao ở lớp trên cùng không dẫn đến việc tướt quyền bầu cử phần còn lại trong chúng ta. Nếu trái đi, tương lai có vẻ tối tăm.

Nhưng những người giàu có thực sự sẽ từ bỏ quyền lực của họ có được một cách dễ dàng chăng? Mặc dù Vụ biểu tình chiếm Wall Street nhắm vào nhóm 1 % với đầy ý chí và nhiệt thành, tác động chính trị thực sự của nó được cho là gần như bằng không. Đã đến lúc các phong trào chính trị mới có thể kết hợp sức mạnh của các cá nhân và tập hợp các đáp ứng gắn kết nhau đối với sự tập trung ảnh hưởng ngày càng tăng mạnh bởi một số ít ở lớp trên cùng. Và thậm chí có cơ hội một số các tài phiệt giác ngộ hơn sẽ đưa ra những ý tưởng để nâng cao vị thế cho đa số. Bill Gates ở đâu khi bạn cần tới ông ta?