Showing posts with label Công hàm Phạm Văn Đồng. Show all posts
Showing posts with label Công hàm Phạm Văn Đồng. Show all posts

Thursday, August 28, 2014

Tranh chấp biển Đông: Vẫn không có bằng chứng lịch sử cho tuyên bố của Trung Quốc

Tranh chấp biển Đông: Vẫn không có bằng chứng lịch sử cho tuyên bố của Trung Quốc

South China Sea Disputes: Still No Evidence of Historical Chinese Claim

Bill Hayton
RSIS (26/8/2014)

Tóm tắt

Mặc dù Trung Quốc khẳng định có các yêu sách lịch sử đối với nhiều phần của biển Đông, lập luận gần đây của một số nhà bình luận lặp lại một số những hiểu lầm thường được tin là đúng về các tranh chấp biển Đông và không đưa ra được bằng chứng hậu thuẫn các yêu sách của Trung Quốc.
  

Bình luận

Tiến sĩ Li Dexia (Lí Đức Hà) và ông Tan Keng Tat đã đáp lại việc tôi kêu gọi những người ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông hãy cung cấp chứng cứ có thể kiểm chứng được hậu thuẫn cho lập luận của họ (Bình luận trên RSIS ngày 3/7/2014). Tuy nhiên trả lời của họ cho thấy nhiệm vụ này có vẻ khó khăn tới dường nào. Họ không thể chứng minh Trung Quốc đã có đưa ra yêu sách đối với bất kì đảo cụ thể nào trước năm 1909, và không có bất kì một khẳng định nào của họ có chứng cứ có thể kiểm chứng được. Một số khẳng định có thể chứng minh được là không thật.

Đâu là bằng chứng cho thấy đã có quan chức thời tiền hiện đại của Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền với bất kì thể địa lí nào ở biển Đông? Không có bằng chứng nàocho thấy Zheng He (Trịnh Hoà) hay đô đốc nhà Minh nào khác đã làm như vậy. Điều này cũng đúng với đội quân viễn chinh Mông Cổ một thế kỉ trước đó. Khoảng 500 năm trước, người đi biển thường cho tàu thuyền chạy ven bờ biển này để tránh nguy hiểm của các rạn san hô chưa được ghi nhận vốn nằm ở trung tâm của nó. Nếu hai tác giả này biết có tài liệu hay bằng chứng nào khác chứng minh điều ngược lại thì đây chính là lúc để công bố các tài liệu tham khảo chính xác đó.

Mơ hồ vẫn còn đó

Chắc chắn có nhiều bản văn xưa của Trung Quốc có nói đến các 'đảo' nhưng vẫn còn mơ hồ ở mức cùng cực, không liên quan đến những vùng đất cụ thể và không đưa ra được bằng chứng nào về khám phá hay tuyên bố chủ quyền. Một số là các báo cáo theo các thông tin do người nước ngoài tới Trung Quốc đưa ra, một số khác đề cập đến những chỗ bí ẩn gần lối vào địa ngục và một số khác nữa lại là bản sao các bản đồ châu Âu.

Tiến sĩ Li và ông Tan đưa ra một số điểm cụ thể khác. Tôi cần phải lần lượt bàn tới từng điểm một.

Hai tác giả này đã không thuyết phục được tôi rằng cái tên ‘Xisha’ (Tây Sa) – chỉ quần đảo Hoàng Sa đã xuất hiện trong các tài liệu của Trung Quốc trước cái tên ‘West Sand’ (Cát Tây) xuất hiện trên bản đồ phương Tây. Tôi trong tư thế sẵn sàng chấp nhận rằng người châu Âu đã tiếp nhận các tên địa phương dùng cho các thể địa lí nhưng trong trường hợp này, tôi tin rằng điều ngược lại đã xảy ra. Tôi sẵn sàng chấp nhận bị chứng minh là sai - nhưng chỉ khi đưa ra được bằng chứng.

Khẳng định rằng công ước năm 1887 giữa Pháp và Trung Quốc quy quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc hiển nhiên là không đúng sự thật. Công ước (kí kết tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887) chỉ liên quan cụ thể tới khu vực Đông Dương mà thực dân Pháp gọi là "Tonkin" (Bắc Kì) - phần cực bắc của vùng đất bây giờ là Việt Nam.

"Kiến thức phổ thông” chứ không phải bằng chứng lịch sử

Tôi sẽ thích thú khi biết thêm về 'bia đá" do các quan chức Trung Quốc năm 1902 và do nhóm hải quân Trung Quốc được phái đến đảo Duy Mộng năm 1907 đặt ở quần đảo Hoàng Sa. Tôi đã tìm hiểu kĩ hai sự kiện này và không tìm ra bằng chứng vững chắc nào cho thấy chúng đã thực sự đã diễn ra. Tiến sĩ Li và ông Tan dựa vào nguồn thông tin gốc nào cho khẳng định này?

Càng nghiên cứu các yêu sách của Trung Quốc tôi càng thấy chúng được dựa trên những khẳng định thiếu dẫn chứng đã được lặp đi lặp lại trong nhiều thập kỉ thiếu việc kiểm tra có phê phán. Nhiều khẳng định như vậy đã trở thành một phần của ‘kiến thức phổ thông’ quốc tế về biển Đông. Các khẳng định đó nằm trong bài viết của Hungdah Chiu và Choon-ho Park mà hai tác giả có nói đến, trong bài viết năm 1976 ‘Disputed Islands in the South China Sea’ (Quần đảo tranh chấp ở biển Đông) của Dieter Heinzig, và cũng có trong cuốn sách của Marwyn Samuels năm 1982 ‘Contest for the South China Sea’ (Cuộc thi thố cho Biển Đông) mà sau đó nhiều học giả quốc tế đã dựa vào.

Các bài viết của Heinzig và Samuels thuộc dạng các công trình khai phá, đem lại nhiều hiểu biết cần thiết về chủ đề này. Tuy nhiên, nội dung các bài viết của cả hai phần lớn dựa vào các bài báo công bố trên các tạp chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi Trung Quốc chiếm đóng nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974. Một bài báođược công bố trong ấn bản tháng 3 năm 1974 của Nguyệt san thất thập niên đại (Ch'i-shi nien-tai Yueh-k'an) và hai bài báo trong ấn bản tháng 5 năm 1974 của tờ Minh Báo (Ming Pao). Những bài báo này rõ ràng không phải là những bài viết trung lập về học thuật: chúng được dùng để biện minh cho cuộc xâm lược đó.

Trích dẫn lọc lựa

Có ít ra hai trường hợp trong bài bình luận, hai tác giả trích dẫn một cách lọc lựa các tài liệu lịch sử. Trường hợp đầu tiên liên quan tới bức thư của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi cho đồng nhiệm Trung Quốc tháng 9 năm 1958 - để đáp ứng với 'Tuyên bố về Lãnh hải " của Bắc Kinh. Tuyên bố đó mở rộng lãnh hải mà Trung Quốc yêu sách ra đến 12 hải lí. Động thái này nhằm mục đích ngăn chặn việc tàu của Mĩ xen vào hậu thuẫn cho các đơn vị của Đài Loan trú đóng trên hai đảo Kim Môn (Jinmen) và Mã Tổ (Mazu), mà vào lúc đó đã bị quân đội Trung Quốc bắn pháo vào.

Phần thứ hai của Tuyên bố năm 1958 khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với các thể địa lí của biển Đông. Toàn văn lá thư của Phạm Văn Đồng gửi cho Chu Ân Lai lờ đi phần thứ hai này dù tán đồng phần đầu. Câu văn trọn vẹn là "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc." Đúng là bức thư đó không bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc một cách minh bạch, nhưng nó cũng không chấp nhận [toàn bộ] tuyên bố này.

Hai tác giả cũng trích dẫn sai Tuyên bố Cairo ngày 27 tháng 11 năm 1943 như sau: "Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ khác mà nó đã lấy được bằng bạo lực và tham lam." Tuy nhiên, đó không phải là lời lẽ thật sự của Tuyên bố.

Câu văn thật sự là: "... Nhật Bản sẽ bị tước hết tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà nước này chiếm hữu hay chiếm đóng từ lúc mở đầu chiến tranh thế giới thứ I vào năm 1914, và rằng tất cả các vùng lãnh thổ mà Nhật Bản đã lấy cắp của Trung Quốc, như Mãn Châu, Đài Loan, và Bành Hồ, sẽ phải được trả lại cho Trung Hoa Dân Quốc. Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các lãnh thổ khác mà nó đã lấy được bằng bạo lực và tham lam."

Không có đề cập đến bất kì thể địa lí nào trong biển Đông, ngoại trừ Formosa (Đài Loan) và Bành Hồ và không nói gì về ‘sở hữu' của các vùng lãnh thổ khác mà Nhật Bản phải bị trục xuất.

Cần phải phân nhỏ thành các yêu sách cụ thể

 Việc tôi khẳng định rằng "Trung Quốc, Việt Nam và Philippines tuyên bố quyền sở hữu các nhóm đảo lớn như thể chúng là đơn vị duy nhất" là đúng theo thực tế.

Tôi chưa bao giờ nói Philippines yêu sách quần đảo Hoàng Sa hay Việt Nam yêu sách Pratas (TQ gọi là Đông Sa). Tuy nhiên cả hai nước này, giống như Trung Quốc, quả có yêu sách các nhóm đảo lớn như thể chúng là một đơn vị duy nhất.

Philippines yêu sách một nhóm đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà họ gọi là nhóm đảo Kalayaan và Việt Nam yêu sách trọn quần đảo Paracels với tên là ‘Hoàng Sa’ và trọn quần đảo Spratlys với tên là ‘Trường Sa’. Các tranh chấp biển Đông sẽ trở nên giải quyết dễ dàng hơn nếu các yêu sách lớn này được chia nhỏ thành các yêu sách cụ thể đối với các thể địa lí cụ thể, được hậu thuẫn với bằng chứng cụ thể.

Tôi không vẩy cờ [ủng hộ] các yêu sách của Việt Nam, Philippines, Pháp hay thậm chí của Anh đối với các thể địa lí trong biển Đông. Tôi chỉ đơn thuần chỉ ra rằng phía Trung Quốc đã không đưa ra được bằng chứng lịch sử thuyết phục cho các khẳng định của chính họ.

Chấn chỉnh tình trạng này đòi hỏi phải có bằng chứng về những hành động chủ quyền thực tế thể hiện bởi các đại diện của chính phủ. Tôi khẳng định rằng phía Trung Quốc không có hành động chủ quyền trước ngày 6 tháng 6 năm 1909 đối với trường hợp quần đảo Hoàng Sa và ngày 12 tháng 12 năm 1946 ở quần đảo Trường Sa.

(Xem thêm Quần đảo Hoàng Sa: Bằng chứng lịch sử phải được kiểm tra của cùng tác giả)

Friday, August 8, 2014

Ảo tưởng về khẩu hiệu "vừa anh em vừa đồng chí", 1950-1973

Ảo tưởng về khẩu hiệu "vừa anh em vừa đồng chí", 1950-1973

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
The illusion of the “brothers plus comrades” discourse, 1950–1973
Kosal Path
Đại học Nam California

(trích từ bài viết "The sino-vietnamese dispute over territorial claims, 1974–1978: vietnamese nationalism and its consequencesInternational Journal of Asian Studies, 8, 2 (2011), pp. 189–220)

Lịch sử tác động qua lại giữa TQ và Việt Nam là một lịch sử lâu dài. Kí ức tập thể của người Việt về sự thống trị của TQ trong hai thiên niên kỉ chứa đầy một kho chuyện kể về chủ nghĩa anh hùng chống lại bá quyền TQ mà những người Việt yêu nước tận dụng để vận động người dân chống lại sự xâm lược của TQ trong tương lai.[1] Trong khi các nguồn năng lực chính của Việt Nam để đẩy lùi các cuộc xâm lược liên tục của TQ, hoặc để làm cho việc TQ chiếm đóng Việt Nam lung lay có thể là một ý thức về dân tộc anh hùng, đồng thời tồn tại việc cạnh tranh có ý thức của các tổ chức chính trị và quân sự của TQ, không những cho thấy là cốt lõi trong việc chống lại mối đe dọa TQ mà còn làm hài lòng các hoàng đế Trung Hoa vô cùng tự tin về tính ưu việt văn hóa của chính họ.[2] Như William Duiker đã nhận xét một cách chính xác, "Đối với người Việt Nam, thái độ của họ đối với TQ là một sự pha trộn độc đáo giữa sự tôn trọng và tính ngỗ ngược, kết hợp việc chấp nhận thực tế về sức mạnh và ảnh hưởng của TQ với việc bảo vệ bền bỉ nền độc lập và tính khác biệt của Việt Nam."[3] Chỗ mà lịch sử chính thức Việt Nam nhấn mạnh áp đảo là việc cả nước kháng chiến chống ngoại xâm, hầu như lúc nào cũng là TQ. Di sản lịch sử này vẫn còn là một lực lượng mạnh mẽ ảnh hưởng đến quan hệ Việt-Trung hiện tại.

Giai đoạn 1950-1965 chứng kiến sự hợp tác chặt chẽ nhất giữa hai nước láng giềng này. Trong giai đoạn này, các nhà lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐVN) và Đảng Cộng sản TQ (ĐCSTQ) vạch ra một khẩu hiệu chung về mối quan hệ thân mật Việt -Trung "vừa đồng chí vừa anh em”.[4] Cả hai bên đều gạt bỏ điều tiêu cực của quá khứ - đó là, lịch sử TQ xâm lược và chinh phục Việt Nam trong hai thiên kỉ trước khi thực dân Pháp đến vào thế kỉ XIX. Thay vào đó, họ nhấn mạnh rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như là một nhà nước cách mạng mới của công nông vô sản TQ vốn đã từng đấu tranh không ngừng trong nhiều thế kỉ chống lại sự đàn áp của phong kiến TQ và thực dân châu Âu.[5] Ví dụ, vào ngày 18 tháng 10 năm 1956, báo Nhân Dân, tờ báo của ĐLĐVN, đưa ra một bài xã luận chào đón chuyến thăm VNDCCH của Thủ tướng Chu Ân Lai bằng cách mở đầu với nhận xét sau: "Trong mấy ngàn năm qua, nhân dân hai nước chúng ta đã chiến đấu chống lại bọn thống trị phong kiến [muốn nói đến cả phong kiến TQ lẫn VN], và gần đây nhất, chúng ta đã chiến đấu chống lại chủ nghĩa thực dân [qua việc gợi lại kí ức về quân “Cờ Đen” TQ vượt qua biên giới Trung-Việt để cùng với dân Việt Nam ở miền Bắc chống quân đội Pháp]."[6] Sau đó, Chu Ân Lai đáp lại bằng cách bày tỏ lòng tôn kính đến Hai Bà Trưng từng đứng lên chống lại đế chế Trung Hoa vào năm 43, tố cáo chủ nghĩa nước lớn của các triều đại Trung Hoa đối với Việt Nam trong quá khứ.[7] Trên thực tế, khẩu hiệu "vừa đồng chí vừa anh em" này được che phủ trong các toan tính chiến lược của cả hai bên. Như Qiang Zhai nêu: "Liên minh Bắc Việt-TQ là một liên minh về sự cần thiết lẫn nhau. Hà Nội thì muốn có viện trợ của TQ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, đổi lại Bắc Kinh cũng cần sự ủng hộ của VNDCCH cho các mục tiêu đối ngoại của mình.”[8] Đối với Hà Nội, trợ giúp kinh tế và quân sự của TQ trong cuộc chiến chống người Pháp trở lại Đông Dương là không thể thiếu vào lúc Liên Xô không quan tâm tới công cuộc này của Việt Nam.[9] Tuy nhiên, Hà Nội vẫn duy trì mối quan hệ có hoạt động với Moskva và bí mật bày tỏ mong muốn được Liên Xô viện trợ sau khi Pháp rút lui vào năm 1955.[10] Đối với Bắc Kinh, Bắc Việt Nam, giống như Bắc Triều Tiên, là một vùng đệm chiến lược để bảo vệ sườn phía nam của TQ chống lại các mối đe dọa từ các nước phương Tây không thân thiện và phục vụ cho việc định danh TQ như một nhà cổ vũ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.[11]

Trong những năm đầu thập niên 1950, ĐLĐVN đã bị cuốn hút bởi ảo tưởng rằng mối quan hệ "vừa đồng chí vừa anh em" giữa hai đảng cộng sản sẽ mở ra một chương mới trong lịch sử của một liên minh bình đẳng trong mối quan hệ Việt-Trung. Tuy nhiên, dù cả ĐCSTQ lẫn ĐLĐVN đều thấy cần phải vạch rõ một lịch sử chung mới cùng là nạn nhân dưới ách thống trị của các triều đại TQ trong quá khứ và sự nghiệp chung chống lại thực dân Pháp, nhưng liên quan tới bản chất của liên minh mới hình thành họ lại khác biệt nhau trên cơ bản. Trước công chúng, các nhà lãnh đạo TQ không ngớt nhấn mạnh những lời lẽ về "bình đẳng và tôn trọng độc lập lẫn nhau" như một nguyên tắc cốt lõi của mối quan hệ mới. Tuy nhiên, trên thực tế thái độ của họ đối với Việt Nam giống như mối quan hệ thầy-trò.[12] Trong kí ức các lãnh đạo Việt Nam, việc TQ phản bội cách mạng Việt Nam có thể truy từ lời khuyên của Bắc Kinh trong Hội nghị Genève 1954 mà đỉnh cao là việc chia cắt Việt Nam đến năm 1975.[13] Tuy nhiên, sự bất bình đó đã không phát triển thành sự thù địch công khai vì Việt Nam đặt ưu tiên cao nhất cho sự giúp đỡ của TQ trong việc giải phóng Nam Việt Nam. Chỉ dấu cho việc này là khi phản ứng về chính sách đồng hóa cưỡng bức của VNCH đối người Hoa vào năm 1955, Hà Nội đã đồng ý miệng với nguyên tắc đồng hóa tự nguyện đối với cư dân người Hoa, vào năm 1957, Bắc Việt Nam và TQ đã kí một thỏa thuận song phương, trong đó Hà Nội cam kết không dùng đến biện pháp đồng hóa cưỡng bức cư dân người Hoa theo cách VNCH đã thực hiện ở Nam Việt Nam.[14]

Đầu năm 1958, khi Hà Nội theo đuổi giai đoạn mới "đấu tranh vũ trang" giải phóng miền Nam, họ cần thêm nhiều viện trợ kinh tế và quân sự của TQ. Trong bối cảnh này, Bắc Kinh đã biến cuộc khủng hoảng không có liên quan thành cơ hội để thực thi mối quan tâm của họ về lãnh thổ ở biển Đông vào một thời điểm mà Hà Nội yếu kém và phụ thuộc nhiều vào sự giúp đỡ của TQ. Cuối tháng 8 năm 1958, Mao liều lĩnh quyết định pháo kích đảo Kim Môn, kích động cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai leo thang thành một cuộc thách thức quân sự với Hoa Kì. Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Bắc Kinh tuyên bố rằng lãnh thổ của TQ "bao gồm đại lục Trung Hoa, các đảo ven bờ, Đài Loan và các đảo phụ cận, gồm cả quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa (Pratas), quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa (Maclesfield Bank), quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và tất cả các đảo khác ngăn cách bởi các vùng biển công (quốc tế)."[15] Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng TQ Chu Ân Lai "ghi nhận và tán thành tuyên bố của Bắc Kinh ngày 4 tháng 9."[16] Thật ra, lãnh đạo VNDCCH không có quyền hợp pháp để nhường lại vùng lãnh thổ phía nam vĩ tuyến thứ 17 cho TQ bởi vì nó là phần thuộc chủ quyền lãnh thổ của VNCH. Về sau, vào ngày 10 tháng 6 năm 1977, khi bị Phó Thủ tướng TQ Lí Tiên Niệm vặn hỏi, Phạm Văn Đồng tìm cách hợp lí hoá lập trường trước đây của [Bắc] Việt Nam bằng cách lập luận rằng đó là một "vấn đề cấp thiết thời chiến" để ủng hộ các yêu sách của TQ trong chiến tranh bởi vì sự cần thiết phải "đặt việc chống đế quốc Mĩ lên trên mọi thứ khác."[17] Trong phản bác, Lí Tiên Niệm trả lời:" chiến tranh không đang tiếp diễn tại Việt Nam vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 khi thủ tướng Phạm Văn Đồng. . . thừa nhận trong công thư gửiThủ tướng Chu Ân Lai rằng hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ TQ."[18]

Cuối năm 1964 đến đầu năm 1965, trước viễn cảnh một cuộc xâm lược của Mĩ ở Bắc Việt Nam, các nhà lãnh đạo của Hà Nội quan ngại sâu sắc về thái độ do dự của Bắc Kinh đối với việc phải tiến hành chiến tranh chống Mĩ để bảo vệ đất nước. Mặc dù Mao Trạch Đông đã đề ra phương án đánh nhau với Mĩ kể từ mùa hè năm 1962, và cam đoan với các nhà lãnh đạo Hà Nội về quyết tâm chung của TQ là bảo vệ Bắc Việt Nam trong trường hợp bị Mĩ tấn công, Hà Nội vẫn nghi ngờ rằng Mao đã cố né tránh đối đầu quân sự trực tiếp với Hoa Kì. Ngay cả sau khi chính quyền Johnson quyết định phát động chiến dịch ném bom kéo dài Bắc Việt Nam (gọi là Operation Rolling Thunder) vào tháng 2 và tháng 3 năm 1965 , Mao vẫn luôn khuyên phải cẩn trọng.[19]

Ngày 9 tháng 5 năm 1965, Hà Nội thực hiện một sáng kiến khác qua việc tuyên bố rằng "quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về TQ."[20] Phạm Văn Đồng một lần nữa đưa ra sự cần thiết và ưu tiên trong việc chống đế quốc Mĩ vì các quần đảo này vào thời điểm đó nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Mĩ và Nam Việt Nam.[21] Bây giờ nhìn lại sự việc này sẽ thấy rằng các nhà lãnh đạo Hà Nội đã buộc phải thừa nhận công khai tuyên bố của Bắc Kinh vì cần phải tranh thủ tất cả hậu thuẫn của TQ cho một công cuộc to lớn hơn là đấu tranh vũ trang chống lại Nam Việt Nam được Hoa Kì ủng hộ, và do đó không thể nói rõ ra những lợi ích đối nghịch với TQ. Trong chỗ tư riêng, họ rất căm tức việc TQ lợi dụng cơ hội để quyết đoán về lãnh thổ vào thời điểm mà Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào sự giúp đỡ của TQ.

Tuy nhiên, chính hiệu ứng lan tỏa của Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông vào lúc cao điểm của nó trong các năm 1966-1968 trên miền Bắc Việt Nam đã mang sự ngờ vực lẫn nhau được che giấu sơ sài trong khoảng thời gian 15 năm hợp tác Trung-Việt chặt chẽ ra công khai, và đã khiến Việt Nam lo ngại chủ nghĩa Sô vanh TQ lần nữa.[22] Vào lúc cao điểm của Cách mạng Văn hóa, khẩu hiệu tình đoàn kết Việt-Trung "vừa anh em vừa đồng chí" đã được đưa vào kiểm nghiệm trên thực tế lần đầu tiên, và cho thấy rõ hơn rằng lợi ích chiến lược của cả hai bên được che giấu sơ sài sau một tấm màn rất mỏng về tình đoàn kết lịch sử và ý thức hệ. Như sử gia Chen Jian đã lột tả: "Cái mà Bắc Kinh có ý định tạo ra là một phiên bản hiện đại của mối quan hệ giữa đế chế Trung Hoa và các nước láng giềng chư hầu. Cách hành xử này nhắc nhở rất hiệu quả cho người Việt Nam về quá khứ có vấn đề của họ với người TQ. . . . "[23] Nhận xét của Chen Jian trùng hợp với quan điểm chính thức của chính phủ Việt Nam vào thời điểm đó. Mãi về sau, vào ngày 10 tháng 6 năm 1977, một năm sau khi Cách mạng Văn hóa kết thúc, Phạm Văn Đồng nói với phó thủ tướng TQ Lí Tiên Niệm và các quan chức cấp cao khác của TQ của Bộ Ngoại giao [TQ] rằng "trong nhiều năm, nhất là trong Cách mạng Văn hóa, nhiều đồng chí TQ đã công khai đối xử thô lỗ với chúng tôi. Họ gọi chúng tôi là ‘xét lại’ vì chúng tôi nhận viện trợ của Liên Xô, và thậm chí còn gọi chúng tôi là ‘vô ơn’. Qua việc sử dụng loại ngôn ngữ này, các đồng chí TQ đã nuôi dưỡng một thái độ không thân thiện đối với chúng tôi. Thái độ như vậy có ở Hà Nội, Bắc Kinh, và nhiều nơi khác. Thái độ như vậy làm chúng tôi rất đau lòng."[24]

Vào lúc đỉnh cao của Cách mạng Văn hóa, phe cực đoan theo Mao nắm quyền kiểm soát toà Đại sứ TQ tại Hà Nội. Họ tập hợp cư dân người Hoa ở Bắc Việt Nam ủng hộ Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông, đề cao tư tưởng cách mạng văn hóa về "đấu tranh giai cấp," chủ mưu tạo ra các chiến dịch chống chủ nghĩa xét lại Liên Xô, và thậm chí công khai tố cáo các nhà lãnh đạo Việt Nam là "xét lại" vì nhận sự giúp đỡ của Liên Xô.[25] Cư dân người Hoa gây ra rối loạn qua việc tổ chức các cuộc biểu tình chống chủ nghĩa xét lại Liên Xô và công khai tiến hành các cuộc tuần hành ủng hộ chủ nghĩa Mao tại Hà Nội. Đối với người Việt Nam, những cư dân người Hoa này là những "người Hoa phản động."[26] Như Han Xiaorong nhận xét, "Nếu người Hoa ở Bắc Việt Nam đang trên đà trở thành công dân Việt Nam trước Cách mạng Văn hóa thì Cách mạng Văn hóa đã làm xu hướng này bị đảo ngược."[27] Điều đó chứng tỏ cho lãnh đạo Việt Nam thấy rằng những cư dân gốc Hoa này vẫn trung thành với "quê hương TQ" tận xương tuỷ.

Đáp ứng với sự lan tỏa của Cách mạng Văn hóa, Hà Nội thấy cần phải viện lại khẩu hiệu quen thuộc "mối đe dọa xâm lược từ phương Bắc" để nhắc nhở công chúng Việt Nam về chủ nghĩa Sô vanh TQ, ngay cả khi họ nhận khoảng 320 000 "người tình nguyện" TQ do Bắc Kinh phái đến giúp Bắc Việt chống Mĩ từ năm 1966 đến năm 1969.[28] Đổi lại, điều này làm các nhà lãnh đạo Bắc Kinh hết sức khó chịu bởi vì "việc VN sử dụng quá khứ để ngụ ý hiện tại" là phản bội tinh thần, và sẽ làm suy yếu nền tảng cảm xúc của tình đoàn kết "vừa anh em vừa đồng chí" Trung-Việt. Kể từ năm 1950, Bắc Kinh đã rõ ràng và liên tục lên án việc xâm lược Việt Nam trong lịch sử. Năm 1956 và một lần nữa vào năm 1970, Thủ tướng Chu Ân Lai thậm chí đã đến viếng đền Hai Bà Trưng ở Hà Nội để tỏ lòng lòng tôn kính đối với hai bà xưa kia đã đứng lên chống lại phong kiến TQ xâm lược Việt Nam.[29]

* * *

Tóm lại, một sự khảo sát kĩ lưỡng mối quan hệ Trung-Việt trong thời kì hợp tác chặt chẽ 1950-1965, và vào thời kì cao điểm của Cách mạng Văn hóa TQ 1966-1968, cho thấy sự đoàn kết giữa TQ và Việt Nam là cách xa với mô tả màu hồng của cả hai bên về mối quan hệ "vừa anh em vừa đồng chí", nhưng nó vẫn phẳng lặng vượt qua mọi bất ổn vì việc duy trì hình ảnh về hợp tác Trung-Việt sẽ phục vụ các lợi ích chiến lược của cả hai bên và gìn giữ tình đoàn kết chống lại kẻ thù chung. Ẩn bên dưới bề mặt của quan hệ "vừa anh em vừa đồng chí" là nỗi căm giận mà Hà Nội nén lại trước việc Bắc Kinh sẵn sàng thay đổi đường lối chính trị của họ mà không quan tâm gì đến lợi ích của Việt Nam và nỗi lo sợ ngày càng tăng về chủ nghĩa Sô vanh đang trỗi dậy của TQ dưới hình thức "hệ thống triều cống" lạc hậu của TQ đối với Việt Nam. Mặc dù lãnh đạo Việt Nam thừa nhận tầm quan trọng của sự giúp đỡ của TQ cho Bắc Việt Nam, họ phẫn nộ sự kiện các nhà lãnh đạo TQ đã không né tránh việc áp đặt ý muốn của họ lên Bắc Việt Nam vào những lúc Bắc Việt Nam yếu kém và phụ thuộc nhiều vào sự giúp đỡ của TQ. Như một phản ứng chiến thuật, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã thực hiện các sáng kiến có tính chiến thuật biểu lộ việc chiều theo ý TQ qua các phát biểu công nhận tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa khi mà họ ở trong vị thế khó thể nói ra những lợi ích lãnh thổ của họ đối nghịch với Bắc Kinh.

Việc VN liên tiếp công nhận tuyên bố chủ quyền của TQ trong các năm 1956, 1958, và 1965 đã được thực hiện với động cơ kín đáo "tuân thủ ngoài mặt, phản bội trong lòng." Trong suy nghĩ của họ, tranh thủ cam kết lớn hơn viện trợ của TQ và dấn sâu hơn trong cuộc đối đầu quân sự với Mĩ phải được dành cho ưu tiên cao nhất trong thập kỉ định mệnh 1956-1965. Khi nỗi lo bại trận của Việt Nam giảm xuống và Liên Xô háo hức thay thế TQ như là nơi cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự chính vào năm 1974, Hà Nội đã chủ động thách thức việc bành trướng lãnh thổ của TQ, đưa tranh chấp lãnh thổ Trung-Việt trở lại công khai. Biên giới đất liền giữa TQ và Việt Nam đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi vì những thay đổi trong vị trí các mốc phân chia biên giới đã được thực hiện từ năm 1955, và cả hai bên cáo buộc lẫn nhau về việc thay đổi hiện trạng. Tranh chấp biên giới đất liền biến thành xung đột biên giới từ năm 1974 trở đi.[30]


* “CPMOviết tắt của: Hồ sơ Văn Phòng PhThTướng (Collection of the Prime Ministers Office), lưu ở Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia 3 (National Archive No. 3), Hanoi.


[1] Xem Taylor Keith W. The Birth of Vietnam. Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1983; Duiker William J. China and Vietnam: The Roots of Conflict. Berkeley: Center for Chinese Studies, 1986; SarDesai D. R. Vietnam: The Struggle for National Identity. 2nd ed. Boulder, Colo.: Westview Press, 1992; Nguyen Khac Vien. Vietnam: A Long History. Hanoi: Thế Giớii Publishers,1993; Kenny Henry. Shadow of the Dragon: Vietnam’s Continuing Struggle with China and the Implications for U.S. Foreign Policy. Dulles, Va.: Brassey’s, Inc.,2002.
[2] Xem Truong Buu Lam. Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention: 1858–1900, Monograph Series no. 11,
Southeast Asia Studies. New Haven: Yale University Press, 1967 and Inoguchi Takashi. “China’s Intervention in Vietnam and its Aftermath, 1768–102.” Journal of Law and Diplomacy 73:5 (1975), pp. 36–83.
[3] Duiker William J. China and Vietnam: The Roots of Conflict. Berkeley: Center for Chinese Studies, 1986, p. 6.
[4] Xem Westad Odd Arne. “History, Memory and the Languages of Alliance-Making.” In 77 Conversations between
Chinese and Foreign Leaders on the Wars in Indochina, 1964–1977, eds. Odd Arne Westad et al., pp. 8–19.
Washington: Woodrow Wilson Center, Cold War International History Project Working Paper no. 22, May
1998, pp. 11–16.
[5] Zhai Qiang. China and the Vietnam Wars, 1950–1975. Chapel Hill: The University of North Carolina Press, 2000, p. 79
[6] Xem Nguyễn Ngọc Tuyên. Quan hê gữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng Viêt Nam (“Relations between the
Chinese revolution and the Vietnamese revolution”). Nhà Xuâấ Bản Sự Thật, Hanoi, 1959.
[7] Zhai (như [5]), p. 79
[8] Ibid., p. 219
[9] Xem Ang Cheng Guan. The Vietnam War from the Other Side: The Vietnamese Communists’ Perspective. New York, N.Y. RoutledgeCurzon,2002
[10] Olsen Mari. “Forging a New Relationship: The Soviet Union and Vietnam, 1955.” In Behind the Bamboo Curtain: China,
Vietnam, and the World Beyond Asia, ed. Priscilla Roberts, pp. 97–126. Stanford, Calif.: Stanford University Press, 2006
[11] Zhai Qiang. China and the Vietnam Wars, 1950–1975. Chapel Hill: The University of North Carolina Press, 2000, pp. 20–24
[12] Zhang Shu Guang. “Beijing’s Aid to Hanoi and the U.S.-China Confrontations.” In Behind the Bamboo Curtain:
China, Vietnam, and the World Beyond Asia, ed. Pricilla Roberts, pp, 264–66. Stanford, Calif.: Stanford University
Press, 2006, pp. 264–66, 273–74
[13] Westad 1998 (như [4]), pp. 11–16
[14] Han Xiaorong. “Spoiled Guests or Dedicated Patriots? The Chinese in Northern Vietnam, 1954–1978.”
International Journal of Asian Studies 6:1 (2009), p. 10; xem thêm Chang Pao-min. “The Sino-Vietnamese Dispute over the Ethnic Chinese.” China Quarterly 90 (June 1982),.
[15] Zhai (như [5]), 2000, p. 209
[16] Ibid. Muốn biết thêm chi tiết, xem biên bản cuộc họp giữa Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Phó Thủ tướng Lí Tiên Niệm tại Bắc Kinh ngày 10 tháng 6 năm 1977, CPMO, Hồ sơ 10460, p. 5. Có mặt tại cuộc họp về phía Việt Nam là Đinh Đức Thiện, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Thủ tướng Chính phủ, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh. Về phía Trung Quốc có Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Hoa và Thứ trưởng Hàn Niệm Long. Tác giả chép tay lại tài liệu này từ Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia 3, Hà Nội, Việt Nam.
[17] CPMO, Hồ sơ 10460, pp. 4–5; xem thêm Hyer Eric. “The South China Sea Disputes: Implications of China’s Earlier Territorial Settlements.” Pacific Affairs 68:1,1995, p. 37; Lưu 1995, p. 143.
[18] CPMO, Hồ sơ 10460, pp. 4–5.
[19] Chen 2001, pp. 215–216.
[20] CPMO, Hồ sơ 10460, pp. 5–6.
[21] Ibid. Lưu 1995, p. 143. Lặp lại lời giải thích mập mờ của Phạm Văn Đồng cho Lí Tiên Niệm ngày 10/6/1977, Lưu Văn Lợi cho rằng tuyên bố của VNDCCH ngày 9 tháng năm 1965 đã được thực hiện để đáp ứng tuyên bố của Hoa Kỳ ngày 24 tháng 4 về một vùng chiến tranh kéo dài 100 hải lí tính từ bờ biển của Việt Nam, vì thế cần đặt việc VNDCCH công nhận các tuyên bố của Trung Quốc trong bối cảnh của cuộc chiến tranh mở rộng.
[22] Xem Westad 2006, pp. 1–7. Xem thêm Chen Jian, Mao’s China and the Cold War. Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2001, p. 237, và Zhai (như [5])2000, pp. 152–54.
[23] Chen (như [22]), p. 237 và Zhai 2000, pp. 219–20.
[24] CPMO, Hồ sơ 10460, p. 20.
[25] CPMO, Hồ sơ 10460, p. 17. Xem thêm Quinn-Judge Sophie. “The Ideological Debate in the DRV and the Significance of the Anti-Party Affair, 1967–68.” Cold War History 5:4 (2005, pp. 483–84.
[26] Han (như [14]), pp. 12–13.
[27] Ibid., p. 13.
[25] See Path forthcoming; also see Chen (như [220), p. 237, and Zhai (như [5]), p. 140.
[29] CPMO, Folder 10460, p. 20; Zhai (như [5]), p. 79.
[30] See Chang (như [14]), pp. 25–35; Duiker (như [3]), pp. 72–73.

Saturday, July 19, 2014

Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958

Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958

(Đã đăng tại đây http://www.boxitvn.net/bai/28136 ngày 20/7/2014)

Trong thảo luận về hiệu lực của Công hàm Phạm Văn Đồng có vấn đề về tư cách quốc gia (state) của VNCH ở thời điểm 14/9/1958 (lúc công hàm đưa ra). Dù tâm tư, nguyện vọng của đa số dân chúng cũng như lãnh đạo miền Nam lúc đó đều cho rằng quốc gia Việt Nam chỉ là một, và ngay cả lời nói đầu hiến pháp VNCH 1956 cũng hàm ý này “[ý] thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan”.  Tuy nhiên, nhìn ở góc độ luật pháp quốc tế thì VNCH có vẻ hội đủ các tiêu chuẩn để có tư cách một quốc gia: có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có chính phủ, và có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác như nêu trong công ước Montevideo 1933. Ở thời điểm 4/1975 thì tư cách này có vẻ hiển nhiên: lúc đó VNCH đã thiết lập ngoại giao với 87 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia khác ở cấp bán chính thức, và dĩ nhiên trên thực tế cũng có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có Chính phủ, tức là hội đủ 4 tiêu chuẩn để có tư cách quốc gia.

Còn vào thời điểm 14/9/1958, thì trên thực tế VNCH cũng đảm bảo được 3 tiêu chuẩn dân số, lãnh thổ, chính phủ; và tiêu chuẩn có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác thì có vẻ vẫn đảm bảo. Theo danh sách các nước công nhận VNCH cho tới ngày 7/8/1958 lưu ở Văn khố quốc gia Úc (NAA) có tới 62 nước chính thức hoặc hàm ý công nhận VNCH. Danh sách này ở trang 40-42 (và 44,45) trong hồ sơ "Saigon - Vietnam relations with other countries general [re Republic of Vietnam also known as South Vietnam]” gồm 157 trang số hiệu NAA: A4531, V221/5, có thể truy cập trực tuyến ở http://recordsearch.naa.gov.au/SearchNRetrieve/Interface/DetailsReports/ItemDetail.aspx?Barcode=8135106&isAv=N. Xin giới thiệu bản chính và bản dịch danh sách này tới tất cả các bạn đọc có  quan tâm:

1.      Bản chính: 


2.      Bản dịch:
____________________________________
Hồ sơ V 221/5
699
18 tháng 8 năm 1958

Bộ trưởng,
Bộ ngoại giao,
Canberra.
Việt Nam: Công nhận bởi các quốc gia khác
Đính kèm là danh sách (tính đến 7 tháng 8 năm 1958) tất cả các nước hiện công nhận Việt Nam Cộng Hoà cùng với ngày mà họ công nhận nước Cộng hòa này.

(đã kí)
(D.C Nutter)
Thứ trưởng

DANH SÁCH CÁC NƯỚC CÔNG NHẬN NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ
1.             Hoa Kì                                     26.10.1955
2.             Pháp                                        -
3.             Vương quốc Anh                    -
4.             Úc                                           -
5.             New Zealand                           -
6.             Thái Lan                                  -
7.             Nhật Bản                                 -
8.             Ý                                             -
9.             Trung Hoa QDĐ                     27.10.1955
10.           Hàn Quốc                                -
11.           Hà Lan                                    1.11.1955
12.           Philippines                              2.11.1955
13.           Tây Ban Nha                           3.11.1955
14.           Cuba                                        -
15.           Haiti                                        -
16.           Bolivia                                     6.11.1955
17.           Ecuador                                   -
18.           Brazil                                       8.11.1955
19.           Liberia                                     -
20.           Nicaragua                                -
21.           Chile                                        10.11.1955
22.           Hi Lạp                                     -
23.           Luxembourg                            11.11.1955
24.           Argentina                                                12.11.1955
25.           Costa Rica                               13.11.1955
26.           Canada                                    14.11.1955
27.           Lào                                          15.11.1955
28.           Thổ Nhĩ Kỳ                             18.11.1955
29.           Bỉ                                            22.11.1955
30.           Áo                                           23 11.1955.
31.           Tây Đức                                  5.12.1955
32.           Vatican                                    9.12.1955
33.           Liên minh Nam Phi                 14.12.1955
34.           Honduras                                                12.12.1955
35.           Venezuela                                15.12.1955
36.           Guatemala                               -
37.           Colombia                                 6.1.1956
38.           Sudan                                      5.2.1956
39.           Jordan                                     21.2.1956
40.           Bồ Đào Nha                            24.5.1955
41.           Đan Mạch                               3.1.1957
42.           Lebanon                                  5.3.1957
43*.         Ghana                                      6.3.1957
44*.         Ma-rốc                                    18.6.195
45*.         Tunisia                                    3.8.1957
46*.         Malaysia                                  31.8.1957
47.           Thụy Sĩ                                   1.4.1958
48.           Thụy Điển                               3.7.1958
49*.         Iraq                                          2.8.1958
--------------------------------
50.           Indonesia
51.           Na Uy
Indonésia và Na Uy tương ứng đã xin giấy chấp nhận tổng lãnh sự và lãnh sự ở Sài Gòn, theo luật pháp quốc tế coi như một công nhận “theo pháp lí “(de jure")
-------------------------------
Các nước sau đây không thông báo chính thức công nhận nhưng đã bỏ phiếu cho VN gia nhập Liên Hiệp Quốc, hàm ý công nhận VN:
52.           Ireland (Ai-len)
53.           El Salvador
54.           Peru
55.           Panama
56.           Uruguay
57.           Iran
58.           Ethiopia
59.           Cộng hòa Dominica
-------------------------------
60.Ấn Độ:               Ấn Độ đã bổ nhiệm một Tổng lãnh sự ở Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự
61. Miến Điện:        Miến Điện đã nhận một Tổng lãnh sự của Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự; điều này tương đương với việc công nhận "trên thực tế" (de facto)
62. Campuchia:       Vả lại. Campuchia và Việt Nam đã trao đổi đại diện.

(Danh sách cập nhật đến ngày 7/8/1958)
_________________________________
* Nước được Việt Nam Cộng Hòa công nhận.