Showing posts with label toà trọng tài. Show all posts
Showing posts with label toà trọng tài. Show all posts

Wednesday, July 6, 2016

Tại sao có quá nhiều nước có yêu sách chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông?

Tại sao có quá nhiều nước có yêu sách chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông?

Các yêu sách tranh chấp nhau dựa trên lịch sử, địa lí và luật pháp - nhưng sức mạnh quân sự trần trụi là con át chủ bài

(Why do so many countries have claims to territory in the South China Sea?)

Cary Huang (Hoàng Trung Thanh)
SCMP (03/07/2016)



Tất cả các tranh chấp lãnh thổ giữa 6 nước láng giềng châu Á ở biển Đông, rốt cuộc, liên quan đến ba ngành học: lịch sử, địa lí và luật pháp.

Hầu hết các đảo, đá, rạn san hô và bãi cát ngầm được yêu sách đều không có người ở và một số thậm chí nằm dưới mặt nước khi triều thấp. Toàn bộ chúng chỉ gồm một vài cây số vuông nhưng trải rộng trên 2 triệu cây số vuông biển bao bọc bởi “đường chín vạch” của Trung Quốc, với Trung Hoa đại lục, Brunei, Malaysia, Philippines, Việt Nam và Đài Loan đều có yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ hoặc một phần của nhiều chuỗi đảo và vùng biển lân cận.

Điều đó làm cho một bối cảnh phức tạp mà ngay cả một phán quyết sắp đưa ra của Tòa Trọng tài Thường trực có thể không có khả năng giải quyết.

Các tranh chấp không chỉ là về bản đồ và lòng tự hào dân tộc mà còn về các quyền độc quyền của một nước đối với tài nguyên thiên nhiên ở các vùng biển xung quanh và dưới đáy biển, và về quyền chủ quyền trong việc quản lí tàu thuyền và máy bay của các quốc gia khác đi qua khu vực này, khu vực có chứa một số tuyến đường biển nhộn nhịp nhất và quan trọng nhất của thế giới.

Dư Mậu Xuân (Maochun Miles Yu), giáo sư lịch sử quân đội và hải quân Đông Á tại Học viện Hải quân Hoa Kì, nói rằng tất cả các bên tranh chấp đều sử dụng một, hai hoặc cả ba ngành học này để hậu thuẫn cho các lập luận của họ, nhưng các tranh chấp đều thu về một câu hỏi: điều gì làm một nước đủ tiêu chuẩn là chủ sở hữu chủ quyền đúng lẽ của một số đảo ở biển Đông.

“Đối với Trung Quốc, biện minh là những đề cập lịch sử trong các sách vở xưa; đối với Philippines, Malaysia và những nước khác, đó là sự gần gũi về mặt địa lí; đối với Việt Nam, đó là việc tích cực cai quản từ thế kỉ thứ 17 mà điều đó đúng ra phải cho Hà Nội quyền sở hữu các đảo này”, Dư Mậu Xuân nói.

Trung Quốc nói rằng các đảo này đã được bàn luận từ thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên trong các sách vở xưa như Dật Chu thư, Kinh Thi, Tả truyện, và Quốc ngữ, mặc dù chúng chỉ được mô tả một cách bao hàm như là một phần của “lãnh thổ phía Nam”.

Các nhà sử học Trung Quốc nói rằng nhiều tên khác nhau đã được sử dụng để mô tả các đảo này từ thời nhà Đường (618-907) đến thời nhà Thanh (1644-1912).

Trong thời kì Trung Hoa Dân Quốc, chính phủ đã đưa vào bản đồ hơn 291 đảo, đá ngầm, và các bãi cạn tiếp sau vào những khảo sát trong thập niên 1930 và sau đó công bố một bản đồ có đường chín vạch vào năm 1947.

Sau cuộc cách mạng năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thừa kế yêu sách do Trung Hoa Dân Quốc đưa ra. Và vào năm 1958, Bắc Kinh đã ban hành một tuyên bố quy định lãnh hải của mình trong đường chín vạch, bao bọc quần đảo Trường Sa. Thủ tướng Bắc Việt lúc đó là Phạm Văn Đồng, đã gửi công hàm cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng của Bắc Việt đối với lập trường của Trung Quốc.

Bắc Kinh đang tiến hành một cuộc vận động ngoại giao và quan hệ công chúng để huy động sự ủng hộ cho yêu sách của họ trước khi có phán quyết của tòa án quốc tế dự kiến vào ngày 12/7 trong một vụ kiện chống lại Trung Quốc do Philippines khởi xướng.

Ngày 09 Tháng 5, Trung Quốc công bố một bài viết dài, do Phó Oánh, Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Quốc hội và cựu thứ trưởng ngoại giao, và Ngô Sĩ Tồn, chủ tịch của Viện Nghiên cứu Nam Hải (biển Đông) đồng tác giả, giải thích lập trường của Trung Quốc. Họ viết “Các đảo ở biển Đông và vùng nước xung quanh chúng do người Trung Quốc xưa phát hiện, đặt tên, và sử dụng đầu tiên, cũng như được các chính phủ kế tiếp quản lí và đã được coi là lãnh thổ và vùng biển vốn có của đất nước từ thời xa xưa, như được chứng minh trong rất nhiều hồ sơ lịch sử, sách vở địa phương và bản đồ”.

Bài viết, công bố trên cả hai tạp chí The National Interest ở Hoa Kì và tạo chí China Newsweek, nói rằng cộng đồng quốc tế - trong đó có Mĩ - trong lích sử đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo này, cho đến gần đây.

Nhưng Mohan Malik, giáo sư về an ninh châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương của Honolulu, nói rằng xét về “bằng chứng pháp lí”, phần lớn các chuyên gia luật quốc tế đều đã kết luận rằng yêu sách của Trung Quốc về quyền sở hữu/danh nghĩa lịch sử (historical title) đối với biển Đông, bao hàm quyền chủ quyền trọn vẹn cùng với việc bằng lòng cho các nước khác đi ngang qua, là không hợp lệ.

Benjamin Herscovitch, giám đốc nghiên cứu Chính sách Trung Quốc, một công ti phân tích và tư vấn chính sách đóng ở Bắc Kinh, nói rằng Bắc Kinh vẫn chưa làm rõ ý nghĩa của yêu sách lãnh thổ lịch sử của họ bao bọc bởi đường chín vạch, mà ông nói là luôn không rõ ràng trong lịch sử và vẫn như vậy, dù gần đây Bắc Kinh có nỗ lực đưa ra biện minh.

Ông hỏi “Đó là yêu sách cho toàn bộ các vùng nước bên trong đường này hoặc chỉ đơn giản là các đảo và các thể địa lí khác? Nó liên quan đến Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), mà Trung Quốc là một bên kí kết, như thế nào? Vùng nước bên trong đường chín đoạn là lãnh hải hay chỉ đơn thuần là EEZ (vùng đặc quyền kinh tế)?”

Herscovitch, là một chuyên gia về ngoại giao châu Á và an ninh khu vực, cho biết Việt Nam cũng sử dụng tài liệu lịch sử để làm chỗ dựa cho yêu sách của mình, qua việc nói rằng họ có tài liệu chứng minh họ đã tích cực cai quản cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỉ 17.

Một bên chính khác trong khu vực là Philippines, viện dẫn sự gần gũi về địa lí đối với quần đảo Trường Sa là cơ sở chính cho yêu sách chủ quyền đối với một phần của nhóm đảo này.

Cả Philippines lẫn Trung Quốc cũng đòi chủ quyền bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham) – cách Philippines hơn 160 km một ít và cách Trung Quốc 800 km.

Malaysia và Brunei cũng đòi chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông mà họ nói là lọt vào vùng đặc quyền kinh tế của họ, như quy định của UNCLOS.

Allen Carlson, phó giáo sư về chính quyền tại Đại học Cornell, nói biển Đông hiện nay đã bị cuốn đi với một hỗn hợp của các yêu sách  pháp lí quốc tế tương phản và nhiều câu chuyện lịch sử, của năng lực hải quân đang phát triển và tình cảm dân tộc. Carlson nói “Tình trạng này có vẻ đang tạo ra một cái gì đó giống như một hợp chất dễ bốc hơi trong vùng biển này, một hợp chất mà có thể chỉ cần một chút chất xúc tác là bùng cháy”.

Dư Mậu Xuân nói rằng lí lẽ của Trung Quốc là yếu nhất so với các bên tranh chấp khác vì đơn giản là người ta không thể chỉ dùng những đề cập trong sử sách về những nơi xa xôi làm biện minh chính cho các yêu sách chủ quyền hiện nay. “Nếu không, Marco Polo từng nói về Trung Quốc cho dân Ý vào thế kỉ thứ 13, điều đó có biện minh cho Ý yêu sách chủ quyền đối với Trung Quốc được không? Dĩ nhiên là không,” ông nói.

UNCLOS đã được tất cả các quốc gia ven biển chủ yếu có lợi ích ở biển Đông kí kết và phê chuẩn, nó cần giúp đem lại sự chắc chắn cho khung pháp lí áp dụng cho toàn khu vực. Tuy nhiên, các tranh chấp pháp lí và lãnh thổ vẫn kéo dài.

Dư Mậu Xuân nói rằng luật biển quốc tế hiện đại và quyền tài phán lãnh thổ coi trọng việc quản lí tích cực và sự gắn kết về địa lí (mở rộng tự nhiên của thềm lục địa là một ví dụ).

Không giống như các nước khác, yêu sách của Trung Quốc không dựa trên yêu sách đối với các đảo hoặc các thể địa lí cụ thể khác theo quy định của luật biển năm 1982 của LHQ, mà dựa trên một bản đồ lịch sử Trung Quốc chính thức nộp cho Liên Hiệp Quốc vào năm 2009. Bản đồ đó có đường chín vạch, tạo thành một hình chữ U chạy xuống bờ biển phía đông của Việt Nam vòng qua phía bắc Indonesia rồi tiếp tục chạy về phía bắc đến bờ biển phía tây của Philippines. Nhiều chuyên gia cho rằng đường chín vạch không phù hợp với luật biển năm 1982 của LHQ, luật này không chấp nhận yêu sách dựa trên lịch sử.

Nhưng Herscovitch nói rằng luật pháp quốc tế ít quan trọng trong tranh chấp biển Đông. Công ước của LHQ cũng vận hành hơi khác vì nó cũng chỉ ra rằng đất đai khám phá có thể chấp nhận được nếu là terra nullius (đất không thuộc về một quốc gia cụ thể) có nghĩa là đất mà không có quốc gia nào hành xử chủ quyền. Do đó, người ta có thể lập luận rằng quốc gia nào thực hiện quyền kiểm soát không bị thách thức đối với đất đai như thế thì yêu sách nó loại trừ tất cả các quốc gia khác dựa trên việc các quốc gia này “từ bỏ” quyền thách thức của họ. Theo quy định như vậy, không một quốc gia có thể chịu”từ bỏ” quyền của mình.

Trung Quốc kiểm soát hữu hiệu hầu hết các đảo, mặc dù là tương đối muộn dự phần khi đến chiếm đóng lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa.

Đài Loan chiếm một đảo trong quần đảo Trường Sa trước tiên sau Thế chiến II, và Philippines, Việt Nam và Malaysia tiếp theo sau.Theo Mira Rapp-Hooper, nghiên cứu viên cao cấp trong chương trình an ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm New American Security thì tất cả các nước này đều xây các tiền đồn và đường băng trên lãnh thổ họ yêu sách. Bắc Kinh bắt đầu điều động nhân sự để chiếm các rạn đá và đảo trong khu vực trong những năm 1980.

Từ năm 2012, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa nằm dưới  quyền kiểm soát của Trung Quốc, trong khi Trung Hoa đại lục, Việt Nam, Philippines và Malaysia đều kiểm soát các đảo ở quần đảo Trường Sa, với Đài Loan kiểm soát một đảo.

Alexander Vuving, giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, cho biết trong một bài viết trên The Diplomat vào ngày 06 tháng 5 rằng Việt Nam chiếm 21 thể địa lí trong quần đảo Trường Sa, Philippines 9, Trung Quốc 7, và Malaysia 5.

Các nhà phân tích nói rằng vấn đề chủ quyền không thể giải quyết được theo luật pháp quốc tế, và cũng không nằm trong phạm vi thẩm quyền của tòa [trọng tài]. 

Herscovitch nói rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục củng cố quyền kiểm soát trên thực tế (de facto) trên những mảng lớn của biển Đông. Ông nói “Luật pháp quốc tế có thể làm đường chín vạch và chính sách rộng lớn hơn về biển Đông của Trung Quốc thành phi pháp trong mắt của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế nói chung là bất lực khi đối mặt với quyết tâm và ưu thế về sức mạnh quân sự trần trụi của Trung Quốc.”

Saturday, June 25, 2016

Biển Đông: Cần chú ý điều gì trong phán quyết của tòa trọng tài quốc tế

Biển Đông:  Cần chú ý điều gì trong phán quyết của tòa trọng tài quốc tế



Geoff Dyer
FT (20-6-16, cập nhật 10-7-16)


Một tòa án quốc tế có khả năng sắp đưa ra phán quyết vụ án gây tranh cãi do Philippines khởi kiện chất vấn một số các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Dưới đây là những điều cần chú ý trong phán quyết rất được trông chờ.


Tại sao vụ kiện là quan trọng?

Đây là một dịp hiếm hoi khi một quyết định có tính pháp lí cao của một cơ quan ít được biết của Liên Hiệp Quốc đặt tại Hà Lan có thể có ý nghĩa địa chính trị rất lớn. Nó không những có khả năng làm rõ một số vấn đề vốn nằm ngay trung tâm các tranh chấp lãnh thổ quyết liệt ở biển Đông, mà còn kích động căng thẳng tăng thêm giữa Trung Quốc và Mĩ.


Bối cảnh là gì?

Năm 2013, Philippines đã đưa vụ kiện ra Toà án Quốc tế về Luật Biển tại The Hague. Philippines đã nộp tòa 15 mục khác nhau nói yêu sách và hoạt động của Trung Quốc ở biển Đông là trái với luật pháp quốc tế.

Trung Quốc đã từ chối tham gia vào vụ kiện và đã thách thức thẩm quyền của tòa, nhưng năm ngoái, tòa nói rằng toà có quyền thụ lí ít nhất là bảy trong các khiếu kiện và vẫn còn cân nhắc đối với tám khiếu kiện khác. Nhiều chuyên gia dự kiến tòa sẽ phán quyết bất lợi cho Trung Quốc về một số vụ việc.


Ý nghĩa pháp lí là gì?

Điều quan trọng cần nhấn mạnh là tòa án ở The Hague không được xét xử về các yêu sách chủ quyền tranh chấp nhau ở Biển Đông mà chỉ về các quyền trên biển gắn với những yêu sách đó.

Một trong những nền móng chính của vụ kiện này là để chất vấn về giá trị pháp lí của "đường 9 đoạn" của Trung Quốc - ranh giới chấm chấm trên bản đồ nhằm yêu sách tới 90 % biển Đông. Các chuyên gia nói rằng tòa án có thể tuyên bố đường 9 đoạn là bất hợp pháp trên thực tế hoặc có thể chất vấn nó theo những cách sẽ buộc Trung Quốc phải làm rõ cơ sở pháp lí của đường này - một điều mà Trung Quốc không s8ãn lòng để làm.

Các khía cạnh khác của vụ án rất chuyên sâu. Tòa sẽ quyết định liệu có một số thể địa lí- một số trong đó Trung Quốc đã chuyển thành các đảo nhân tạo - được coi là "các bãi triều thấp", không được hưởng lãnh hải, là "[đảo] đá" có lãnh hải 12 hải lí  hoặc là "đảo" được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí. Nhiều chuyên gia tin rằng tòa sẽ nói rằng một số đảo nhân tạo của Trung Quốc không có quyền pháp lí đòi huởng các vùng biển xung quanh.


Điều đó có ý nghĩa gì trong thực tế?

Tòa án của LHQ không có quyền lực thực thi. Tòa không thể buộc Trung Quốc làm bất cứ điều gì và Bắc Kinh sẽ không rút khỏi đảo nhân tạo mới nào của họ. Nhưng nếu phán quyết thuận lợi cho Philippines, Trung Quốc có nguy cơ thiệt hại về danh tiếng hơn và bị cô lập trong khu vực nếu phớt lờ tòa án và tiếp tục theo đuổi yêu sách của mình. Chính quyền Obama đã xem phán quyết như một thử nghiệm xem Trung Quốc có tôn trọng luật pháp quốc tế hay không.


Trung Quốc sẽ phản ứng như thế nào?

Cùng với việc bác bỏ thẩm quyền của tòa, Trung Quốc đã cố gắng tập hợp sự ủng hộ quốc tế cho quan điểm của mình rằng phán quyết của tòa là bất hợp pháp. Bắc Kinh tuyên bố  đã được 60 nước ủng hộ, tuy nhiên Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, một nhóm chuyên gia ở Washington, nói rằng chỉ có tám chính phủ công khai tuyên bố sự ủng hộ của họ - trong đó có các nuớc không có biển như Lesotho và Afghanistan. Nếu phán quyết đi ngược lại họ, Trung Quốc có thể tìm cách để trừng phạt Philippines, có thể qua việc hạn chế khách du lịch hoặc nhập khẩu.

Trước phán quyết này, Trung Quốc đã tăng cường chiến dịch quuốc tế vận động công chúng quốc tế. Đới Bỉnh Quốc, người từng là quan chức cao cấp ngoại giao của nước này, phát biểu tại một hội nghị ở Washington hồi tuần trước rằng phán quyết "chẳng hơn gì một mảnh giấy lộn". Ông cũng cảnh báo Mĩ không đẩy mạnh sự hiện diện quân sự của mình trong khu vực. "Chúng tôi ở Trung Quốc sẽ không sợ hãi bởi các hành động của Mỹ", ông nói. "Thậm chí nếu Hoa Kỳ đã phái tất cả 10 tàu sân bay đến vùng biển Đông."

Còn Philippines thì sao?

Gần 2 tuần trước phán quyết, một tổng thống mới nhậm chức ở Philippines - Rodrigo Duterte, một cựu thị trưởng cứng rắn mà đôi khi được so sánh với Donald Trump.


Có nhiều lúc ông Duterte đã đưa ra những bình luận đối đầu về Trung Quốc và các tranh chấp lãnh thổ. Tuy nhiên, tại cuộc họp nội các đầu tiên, ông đã sử dụng giọng điều hòa giải, nói rằng nước ông có thể sẵn sàng bước vào cuộc đàm phán mới với Bắc Kinh sau phán quyết.

Và Mĩ thì sao?

Nguy cơ lớn nhất là Trung Quốc tung đòn tấn công đối với một phán quyết chống lại họ và quyết định leo thang tham vọng quân sự của họ ở biển Đông bằng cách hoặc tuyên bố kiểm soát không phận trong khu vực này hoặc tìm cách xây dựng đảo nhân tạo trên bãi cạn Scarborough - một thể địa lí mà Philippines cũng yêu sách.

Dự kiến sẽ có một phản ứng hung hăng hơn của Trung Quốc, Mĩ đã điều các tài nguyên quân sự đáng kể tới khu vực này, trong đó có chuyến đi của một tàu sân bay tới biển Đông và nhiều máy bay chiến đấu đến Philippines. Thông điệp cho Bắc Kinh là bất kỳ động thái trên bãi cạn Scarborough sẽ được đáp ứng với một phản ứng đích đáng của Mĩ. Tuy nhiên, những chuẩn bị quân sự này nhấn mạnh tiềm năng tạo ra sự cạnh tranh sắc hơn nhiều giữa Mĩ và Trung Quốc ở biển Đông .

Monday, June 13, 2016

Một tòa án chưa từng nghe nói tới sắp làm tăng mức rủi ro ở biển Đông

Một tòa án chưa từng nghe nói tới sắp làm tăng mức rủi ro ở biển Đông

(A Court You’ve Never Heard of Is About to Raise the Stakes in the South China Sea)

DAN DE LUCE, KEITH JOHNSON
FP (2/6/2016)

Một quyết định của tòa án quốc tế sẽ sắp xếp lại ván cờ căng thẳng trên biển Đông- và kiểm nghiệm cam kết của Washington đối với Philippines.


Một tòa án ít được biết đến ở The Hague sẽ sớm đưa ra phán quyết có thể sẽ thổi bùng căng thẳng ở biển Đông và buộc Washington phải làm rõ họ sẵn sàng bảo vệ đồng minh ở Manila tới mức nào.

Tòa án quốc tế này dự kiến sẽ đưa phán quyết trong tháng này về tranh chấp lãnh thổ ở thủy lộ chiến lược đã đưa Trung Quốc chống lại nước láng giềng Philippines nhỏ hơn. Hầu hết các chuyên gia tin rằng tòa sẽ đứng về phía Manila trong các vấn đề chính yếu.

Nhưng Trung Quốc đã bác bỏ thẩm quyền của toà và hứa sẽ quyết bám lấy các yêu sách vươn xa của họ đối với các bãi ngầm, ran san hô và đá tranh chấp mà Philippines cũng khẳng định là của mình. Với một lực lượng hải quân và tuần duyên nhỏ nhoi, Manila sẽ hướng tới Hoa Kì để tìm sự trợ lực về ngoại giao lẫn quân sự. Nhưng, cho đến nay, Washington đã dẹp bỏ hứa hẹn sẽ đến cứu Philippines nếu tàu của họ đụng độ với tàu Trung Quốc ở biển Đông.

Một cựu quan chức chính phủ cấp cao của Mĩ, từng có mặt tại một số các cuộc thảo luận, nói với tạp chí Foreign Policy “Chúng tôi đã có một số dính dáng không thật thoải mái ở cấp cao với người Philippines trong vài năm qua, họ đã ép chúng tôi, nhiều lúc rất mạnh bạo, làm rõ cam kết của chúng tôi”. Nhưng Hoa Kì luôn từ chối làm rõ lập trường của mình, cựu quan chức này nói.

Cuộc đối đầu ở Biển Đông đang nóng lên trong nhiều năm qua, do việc Trung Quốc bồi đấp đất quy mô lớn và sử dụng hung hăng các đội tàu đánh cá và tàu cảnh sát biển để bắc nạt buộc các nước khác phải ra khỏi những chỗ mà Bắc Kinh coi là lãnh thổ của mình.

Nhưng tia lửa thực đe dọa châm ngòi đống mồi lửa lại nằm cách đó 6.000 dặm, trong phòng ốp gỗ với cửa kính của Tòa Trọng tài Thường trực. Toà gồm năm thành viên đã vật lộn với một loạt các vấn đề pháp lí phức tạp, nghiền ngẫm những bản đồ xưa nhiều thế kỉ, phân tích các thuật ngữ pháp lí và nghiên cứu các ảnh vệ tinh của các mỏm đất đá có tranh chấp kể từ khi Philippines nộp khiếu nại của mình vào năm 2013.

Ngay từ đầu, Trung Quốc không chấp nhận thẩm quyền của tòa trong vụ kiện này, thậm chí cũng không chấp nhận quyền của Philippines tìm kiếm phân xử của trọng tài, và đã không tham gia quá trình tố tụng kết thúc vào cuối năm ngoái.

Philippines đã lập luận rằng các yêu sách được Trung Quốc gọi là “lịch sử” đối với các vùng biển của biển Đông – vạch ra dưới dạng một “đường chín đoạn” bao trùm nhằm thể hiện quyền kiểm soát của Trung Quốc trên gần như toàn bộ thủy lộ ở đây - chỉ mới đưa ra năm 2009 và hoàn toàn thiếu cơ sở về mặt hồ sơ lịch sử và luật pháp quốc tế. Đặc biệt các luật sư lưu ý rằng không có một thể địa lí nào đang tranh chấp - từ đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) cho tới đá Ga Ven (Gaven Reef) – có tên bằng tiếng Trung cho đến gần đây, trái ngược với việc Bắc Kinh khẳng định họ có quan hệ lịch sử lâu dài, có ghi vào sổ sách với những mỏm đất đá này.

Hơn nữa, Philippines lập luận, các rạn đá và san hô mà Trung Quốc chiếm đóng chẳng phải là đảo (island) gì cả và do đó không cho phép Bắc Kinh đòi hỏi vùng biển 200 hải lí bao quanh - và dù có nạo vét và bồi đấp đất lên thêm tới đâu cũng không thể làm cho chúng trở thành đảo được. Ngoài ra, Manila cho rằng, một số thể địa lí thậm chí cũng chẳng phải là đảo đá (rock), vì nằm dưới mặt nước khi triều cao, và do đó không đủ điều kiện để có lãnh hải 12 hải lí. Cuối cùng, Philippines lập luận rằng hành vi hung hăng của Trung Quốc, trong đó có việc buộc các ngư dân  và các tàu tuần duyên Philippines ra khỏi vùng biển của mình, là vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển mà Trung Quốc phê chuẩn.

Trong khi Trung Quốc chưa bao giờ chính thức đáp trả tòa ở The Hague, các quan chức Trung Quốc đã lặp đi lặp lại các lập luận chống lại trong các bài diễn văn, tiểu luận, và phát biểu. Họ chỉ đơn giản khẳng định rằng những đảo đá và rạn san hô ở trong vùng biển này đã và luôn là lãnh thổ Trung Quốc và rằng Trung Quốc có “quyền lịch sử” trên mảng biển Đông rộng lớn này, mặc dù Công ước Liên Hiệp Quốc không hề ban cho quyền như thế. Gần đây, Trung Quốc đã phát động một cuộc phản công trong quan hệ công cộng để làm tòa án và phán quyết của toà bị mất tín nhiệm trước khi quyết định được công bố.

Hầu hết các chuyên gia pháp lí dự đoán rằng tòa sẽ phán quyết nghiêng về Philippines trên hầu hết, nếu không phải tất cả các vấn đề, và dự kiến phán quyết được đưa ra trong tháng này.

James Kraska, giáo sư luật quốc tế tại trường Naval War College Hoa Kì, là một trong những người dự kiến Philippines sẽ thắng lớn. Và Trung Quốc, ông nói, họ buộc phải khuất phục trọng tài, “bị ràng buộc về mặt pháp lí phải tuân thủ theo quyết định.”

Nhưng Bắc Kinh đã tuyên bố sẽ không tôn trọng phán quyết của nhóm trọng tài, bất kể họ quyết định điều gì, và điều đó gần như chắc chắn sẽ làm tăng nhiệt trên khắp châu Á. Các quan chức Trung Quốc nói rằng họ tôn trọng luật pháp quốc tế, nhưng cho rằng nhóm trọng tài như ở The Hague là không có thẩm quyền.

“Tất cả những đảo, nơi mà chúng tôi đang làm việc bồi đắp, là những đảo của Trung Quốc, là lãnh thổ của Trung Quốc”,Vương Tích Ninh (Wang Xining), một phó tổng vụ trưởng tại Bộ Ngoại giao Trung Quốc, cho biết trong một cuộc phỏng vấn gần đây. “Vì vậy, trên biển Nam Hải (biển Đông), tôi nghĩ có một hiểu lầm to lớn. Chúng tôi muốn hành động dựa trên luật pháp quốc tế. “

Kraska nói rằng bên trong Trung Quốc một thất bại về pháp lí sẽ là một cái tát vào mặt lãnh đạo ở Bắc Kinh, đi ngược với tất cả bằng chứng và luật lệ họ một mực cho rằng khu vực tranh chấp là lãnh thổ có chủ quyền của Trung Quốc.

Ông nói “Cái giá Trung Quốc phải trả cho việc thua kiện sẽ rất lớn. Bằng hành vi của mình, Bắc Kinh đã giết chết hình tượng “trỗi dậy hòa bình” của họ, vì vậy hầu hết các thiệt hại đã diễn ra “. Nhưng “phán quyết sẽ gây bối rối và có ảnh hưởng lớn nhất trên khu vực trong những thập kỉ tới, và trong nước, [họ phải] cố giải thích cho người dân biết họ bị thua như thế nào.”

Các nhà phân tích và cựu quan chức chính phủ Hoa Kì nói rằng Trung Quốc có một loạt các lựa chọn về việc phải đáp ứng như thế nào. Họ có thể đưa ra một phản đối ngoại giao, phái thêm tàu tới vùng biển tranh chấp, đẩy mạnh hoạt động nạo vét và bồi đắp đất tại các rạn đá đang tranh chấp, hoặc thậm chí đưa ra thực hiện “vùng nhận dạng phòng không” (ADIZ) xung quanh tất cả các đảo nhỏ mà họ yêu sách. Với ADIZ, Bắc Kinh sẽ buộc máy bay nước ngoài phải xin phép Trung Quốc để bay qua khu vực này.

Đô đốc về hưu, cựu giám đốc của hoạt động hải quân của Hải quân Mĩ Jonathan Greenert nói rằng nhưng ít ai dự kiến rằng Trung Quốc sẽ tìm cách đụng độ quân sự với Hoa Kì, và thậm chí một sự leo thang do bất trắc là ít có khả năng hơn so với một vài năm trước đây nhờ vào giao thức truyền thông mới mà ông đã góp phần lắp đặt.

Đối với Philippines, một thắng lợi về pháp lí, trên hết, là một chiến thắng luân lí và cũng có thể truyền cảm hứng cho các nước khác trong khu vực cùng tìm tới giải pháp trọng tài; thật ra, Nhật Bản và Indonesia cũng đã xét tới việc thực hiện điều đó trong các tranh chấp của họ với Trung Quốc.

Jose Cuisia, đại sứ Philippines tại Washington, nói với FP “Philippines luôn cho rằng quyết định của tòa án, một khi đưa ra, sẽ có ràng buộc pháp lí và phải được tuân thủ với sự tôn trọng bởi tất cả các bên, kể cả Trung Quốc”.

Nhưng câu hỏi lớn nhất là Hoa Kì sẽ phản ứng với quyết định của nhóm trọng tài và đặc biệt là đối với bất kỳ sự gia tăng căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc như thế nào.

Nếu vùng biển xung quanh các đảo san hô đang tranh chấp được xác định là vùng biển quốc tế - chứ không phải là sân nhà của Trung Quốc - thì Washington có thể sẽ phải chịu áp lực để tiến hành nhiều hoạt động tự do đi lại hơn với các tàu hải quân. Với việc cho tàu chạy trong vòng 12 hải lí của những thể địa lí có tranh chấp, Hoa Kì sẽ cho thấy rõ rằng những vùng biển đó là mở cho tất cả - và không thể bị lực lượng Trung Quốc rào chắn. Đó là một điểm rất quan trọng phải nhấn mạnh trên thuỷ lộ vốn chuyển vận hàng hoá có giá trị hơn $5 nghìn tỉ hàng năm.

Greenert, người vừa từ chức chỉ huy trưởng Hải quân năm ngoái nói “Tôi nghĩ rằng trách nhiệm chúng ta là phải nhấn mạnh rằng chúng ta sẽ không thừa nhận” những yêu sách của Trung Quốc. Tuy nhiên, phản ứng chậm chạp của Hoa Kì một vài năm trước đây đã cho phép Bắc Kinh tạo ra sự việc tại hiện trường với việc bồi đắp đất quy mô lớn và việc xây dựng cảng quân sự và sân bay, ông nói, một quan điểm được nhiều cựu quan chức khác và các nhà ngoại giao tán đồng.

“Chúng tôi đã không vượt lên trước điều đó,” Greenert nói. “Đó là một sự việc đã rồi (fait accompli); họ đang ở đó. Thật đáng tiếc.”

Một câu hỏi thậm chí lớn hơn hiện ra lờ mờ là liệu Washington sẽ bảo vệ Philippines nếu họ vướng vào rắc rối với Trung Quốc về những đảo đá và rạn san hô đó hay không. Kể từ năm 1951, Hoa Kì và Philippines đã duy trì một hiệp ước phòng thủ hỗ tương. Trong Chiến tranh Lạnh, các quan chức Mĩ đã nói rõ rằng hiệp ước này cam kết Hoa Kì sẽ bảo vệ Philippines không chỉ trong trường hợp có một cuộc tấn công trên các đảo nhà mà còn trong trường hợp có một thách thức quân sự trong vùng biển thuộc biển Đông. Trong những năm gần đây, chính quyền Hoa Kì đã không nêu cụ thể liệu cách giải thích đó vẫn còn giữ nguyên hay không.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kì Anna Richey-Allen nói “Như Tổng thống Obama đã nói, cam kết của chúng tôi với Philippines là bọc thép”.

Nhưng bản chất của cam kết của Hoa Kì trong trường hợp có một đối đầu trên một trong những bãi ngầm tranh chấp vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Richey-Allen nói với FP rằng Bộ Ngoại giao không “suy đoán về các tình huống giả thiết” đối với hiệp ước phòng thủ này.

Các chuyên gia và cựu quan chức Hoa Kì  nói rằng sự mơ hồ trong lập trường của Washington có khả năng là để kềm Manila lẫn Bắc Kinh không được có hành động khinh suất, vì họ không biết Hoa Kì có thể sẽ phản ứng như thế nào.

“Logic cơ bản trong lập trường của chính phủ Hoa Kì là sự mơ hồ chiến lược đó cho chúng ta nhiều không gian vận động hơn là có thể có trong trường hợp ngược lại”, cựu quan chức cho biết.

Nhưng trong trường hợp có một tranh chấp lãnh thổ dính dáng tới Trung Quốc và một đồng minh của Hoa Kì thì Washington hết sức rõ ràng về cam kết liên minh của mình. Ở biển Hoa Đông, nơi mà Bắc Kinh đang đụng đầu với Tokyo, các quan chức hàng đầu của Mĩ và chính Tổng thống Barack Obama đã hứa rằng Hoa Kì sẽ tôn trọng các nghĩa vụ hiệp ước và sẽ đến bảo vệ Nhật Bản nếu xung đột nổ ra trên quần đảo Senkaku đang tranh chấp màTrung Quốc gọi là Điếu Ngư.

Các chuyên gia nói rằng cách tiếp cận đối với Nhật Bản và đối với Philippines khác nhau một phần là do lời văn của các hiệp ước quốc phòng này và một phần là do việc tính toán rằng Tokyo có một quân đội có năng lực hơn có thể ngăn chặn các hành động khiêu khích có thể có của Bắc Kinh.

Khi các quan chức quốc phòng châu Á và phương Tây, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kì Ash Carter, tụ tập về Singapore dự hội nghị an ninh hàng năm vào cuối tuần này thì phán quyết sắp đưa ra của toà án ởThe Hague - và phản ứng có thể có của Mĩ - sẽ là chủ đề chính của cuộc thảo luận. Bài phát biểu được lên lịch của Carter sẽ được theo dõi chặt chẽ để nhận ra có gợi ý nào về một sự thay đổi trong chính sách của Washington.

Khi nói đến những căng thẳng trên biển giữa Trung Quốc và Philippines, một trong những điểm nóng tiềm tàng có thể lôi kéo một phản ứng của Hoa Kì là bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal). Một nhóm khoảng chục Thủy quân lục chiến Philippines đóng tại bãi cạn này trên chiếc tàu rỉ sét thời thế chiến II, BRP Sierra Madre, được cố tình cho mắc cạn để giữ an toàn yêu sách của Manila ở khu vực này.

Nếu các binh sĩ Philippines bị rơi vào rắc rối, chính quyền Obama có thể bị buộc phải thực hiện một quyết định khó khăn. Nhưng các quan chức Hoa Kì trong tư riêng đã khuyên Manila không nên thực hiện bất kỳ hành động nào có thể kích động một cuộc khủng hoảng.

Hoặc, như một cựu quan chức cấp cao đã nói: “Liệu Hoa Kì có thực sự muốn nhảy vào một cuộc chiến tranh vì bãi Cỏ Mây hay không?”

Bethany Allen-Ebrahimian của FP có đóng góp cho bài viết này.

Saturday, June 4, 2016

Đường 9 đoạn thật sự có nghĩa là gì?

Đường 9 đoạn thật sự có nghĩa là gì?

(What Does the Nine-Dash Line Actually Mean?)

Trung Quốc có thể làm rõ đường 9 đoạn có nghĩa là gì - và làm giảm căng thẳng - mà không từ bỏ yêu sách lãnh thổ nào của mình.

Marina Tsirbas
The Diplomat (02/06/2016)

(bản dịch đã đăng trên anhbasam ngày 05/06/2016)

What Does the Nine-Dash Line Actually Mean?
Đường lưỡi bò. Ảnh: Wikimedia Commons/ CIA

Trung Quốc chưa nêu ra một cách chính xác - theo thuật ngữ quen thuộc với các luật sư luật biển hay các nhà ngoại giao -.  đường 9 đoạn của họ ở biển Đông có nghĩa là gì . Sự mơ hồ đó để lại nhiều chỗ trống cho cách giải thích quá mức có thể có, đặc biệt là khi kết hợp với một số các hành động mà Trung Quốc đã thực hiện để phản ứng lại các xâm nhập theo họ cảm nhận trong khu vực mà đườmg đó bao quanh.

Ở một cực của các cách giải thích, đường này có thể được hiểu như một yêu sách tối đa về chủ quyền và quyền kiểm soát đối với tất cả các thể địa lí, đất, nước và đáy biển trong khu vực giới hạn bởi đường 9 đoạn. Đây quả thực là điều mà nhiều quốc gia lo ngại. Theo luật biển , cách hiểu này không có ý nghĩa nhiều bởi vì có vẻ nó hợp nhất khái niệm chủ quyền với khái niệm quyền tài phán - và không có đưa ra tọa độ cho các đảo hay các đường cơ sở, như luật pháp đòi hỏi.

Mô tả một cách lỏng lẻo, chủ quyền giống như quyền sở hữu tài sản trong nhà trong khi quyền tài phán gần như tương đương với khả năng được hưởng lợi hoặc được cấp giấy phép sử dụng các sản phẩm cụ thể trong một khu vực (như cá và dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế [EEZ] hoặc một hợp đồng nhượng quyền khai thác đối với một số khoáng sản). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là có quyền áp đặt điều kiện cho việc lưu thông hoặc kiểm soát mọi hoạt động trong khu vực đó như thể là chủ sở hữu của nó. Trung Quốc dường như không nêu ra rõ ràng rằng đây là ý nghĩa đường 9 đoạn mà họ muốn nói, nhưng một số việc làm và lời nói của họ lại gợi ý như vậy. Đặc biệt, Trung Quốc đã phản ứng mạnh mẽ đối với các hoạt động đi lại trên biển và trên không trong biển Đông - kể cả trong những khu vực vốn ít ra là vùng đặc quyền kinh tế của một nước nào đó. Hãy nhìn số lượng khá nhiều các vụ máy bay Trung Quốc cản phá các chuyến bay của Mĩ trên biển Đông năm ngoái, dù có bay gần các thể địa lí mà Trung Quốc yêu sách hay không, cùng các cáo buộc vi phạm chủ quyền.

Việc đánh đồng các khái niệm hay sự mơ hồ chiến lược có lẽ là một công cụ hữu ích để kéo dài thời gian khi người ta chưa hình dung ra được mình muốn làm điều gì và muốn đưa ra yêu sách đối với các thể địa lí (và thực thi yêu sách đó) như thế nào. Tuy nhiên, điều đó cũng có thể gây bất ổn. Làm tăng thêm sự phức tạp này là ý tưởng về “quyền lịch sử”. Trung Quốc đã sử dụng cụm từ này không những gắn kết với các yêu sách chủ quyền đối với đất đai (mà lịch sử là thích đáng) mà còn đối với quyền và quyền tài phán trên biển bên ngoài lãnh hải – những nơi này lịch sử là không thích đáng. Ngoại lệ duy nhất là quyền đánh cá truyền thống, được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển công nhận. Nhưng cái mà Trung Quốc theo đuổi là một cái gì đó hoàn toàn khác. Có vẻ họ đang đưa ra lập luận phản lại rằng luật pháp ở biển Đông phải khác theo một cách nào đó.

Đối mặt với những bàn cãi hiện nay tại toà trọng tài ở The Hague và sự chỉ trích quốc tế, các học giả Trung Quốc và những người khác khẳng định rằng họ tuân thủ UNCLOS, nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện - một bộ nguyên tắc luật pháp khác áp dụng trong khu vực này. Diễn đạt cách khác, Trung Quốc nói: dĩ nhiên chúng tôi tuân thủ UNCLOS - nhưng đó không phải là bộ luật đúng để áp dụng ở đây.

Các luật sư tham gia tố tụng trên toàn thế giới sẽ nhận ra đây là một chiến thuật pháp lí nổi tiếng, và điều đó có thể được giải quyết như thế. Chúng ta có thể nhìn thấy giá trị (merit) và bản chất của nó. Nhưng bằng cách xoay nó vòng quanh, chúng ta lại cho quyền lịch sử được hưởng đặc quyền như một loại lập luận cho trường hợp đặc biệt chỉ áp dụng riêng cho biển Đông và có nguy cơ thần thoại hoá nó.

Ở cực kia của các cách giải thích về cái mà Trung Quốc muốn hiểu với đường 9 đoạn là đường này biểu thị một “cái hộp”, bên trong đó Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với bất kì vùng đất nổi lúc triều cao và quyền tài phán đối với các vùng biển tương ứng (ví dụ như  lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa) được tạo ra bởi thể địa lí đó.

Cách hiểu này sẽ ăn khớp với những gì mà Trung Quốc nói về các yêu sách chủ quyền của họ trong phần bảo lưu khi họ phê chuẩn UNCLOS năm 1996 và một số khía cạnh của công hàm phản đối ngoại giao của họ (2009 và 2011) khi phản ứng với yêu sách của Malaysia / Việt Nam về thềm lục địa mở rộng trong biển Đông năm 2009. Cách hiểu này sẽ không làm cho các bên tranh chấp khác hài lòng vì Trung Quốc vẫn sẽ yêu sách chủ quyền đối với lãnh thổ mà Việt Nam, Malaysia, Philippines, và những bên khác cũng có yêu sách. Theo cách giải thích này, đường 9 đoạn sẽ không hoàn chỉnh và không đầy đủ với tư cách là một yêu sách, nhưng không nhất thiết là không phù hợp với UNCLOS, miễn là Trung Quốc cũng công nhận quyền tự do đi lại trên biển và trên không ở khu vực ngoài 12 hải lí từ bất kì vùng đất hình thành tự nhiên (không phải nhân tạo) nổi lúc triều cao

Điều này đi sâu vào ngóc ngách pháp lí (highly technical), nhưng đó là sự khác biệt giữa việc yêu sách rằng biển Đông là cái ao nhà của Trung Quốc với việc nói rằng Trung Quốc có một số đảo nằm xa ngoài khơi bờ biển có thể tạo ra các vùng biển [xung quanh theo UNCLOS]. Trong trường hợp sau các vùng biển giữa Trung Hoa đại lục và các đảo là vùng biển quốc tế cho các mục đích giao thông quân sự và dân sự trên biển.

Tháng 12 năm 2011, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao Lưu Chấn Dân (Liu Zhemin), người phát ngôn cấp cao thuộc vụ Biên giới và Đại dương, nói rằng Trung Quốc tôn trọng quyền tự do và an toàn đi lại ở biển Đông và rằng chính phủ Trung Quốc luôn luôn duy trì quyền tự do đi lại trên biển và trên không ở biển Đông như là một quyền mà tất cả các nước được hưởng theo luật pháp quốc tế.

Phát biểu đó sẽ bênh vực cách giải thích thứ hai. Những tuyên bố trên các ấn phẩm chính thức của Trung Quốc gần đây và trong văn kiện chính thức của Trung Quốc chuyển tới toà trọng tài ở The Hague cũng đưa ra luận điểm tương tự. Thú vị là các bình luận của Trung Quốc về tự do lưu thông chỉ làm nổi bật tầm quan trọng của việc này cho việc lưu thông thương mại.

Luật pháp quốc tế không phân biệt các quyền tự do đi lại mà tàu quân sự và dân sự được hưởng trong EEZ và vùng biển quốc tế. Nhưng có vẻ như Trung Quốc có thể đang chuẩn bị để làm như vậy.

Trong một bài viết gần đây trên National Interest, Phó Oánh (Fu Ying) và Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun) đưa ra cùng luận điểm về an toàn cho việc đi lại và các đường vận chuyển thương mại và tiếp tục mô tả biển Đông như là một “lối đi quan trọng tiến ra biển lớn đối với hải quân Trung Quốc” - một cụm từ lạ lùng và có lẽ rất ấn tượng. Hai tác giả này cũng cho rằng việc làm rõ đường 9 đoạn có nghĩa là gì sẽ làm leo thang căng thẳng Thật khó để thấy tại sao lại như thế.

Cách giải thích thứ hai về đường 9 đoạn cũng được cách tiếp cận mà Đài Loan theo đuổi trong những năm gần đây hậu thuẫn. Bản đồ đường 9 đoạn được dựa trên một bản đồ ban đầu do một bộ của nước Trung Hoa Dân Quốc phát hành, bản đồ đó cho thấy 11 vạch tạo thành một hình chữ U ở biển Đông. Năm 1948, chính phủ Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và quyền tài phán đối với các tài nguyên biển trên các đảo và đá ngầm bên trong đường này. Khi CHNDTH thành lập, họ đã thừa nhận đường đó. Từ năm 2005 Đài Loan đã điều chỉnh chút ít yêu sách tập trung vào các đảo, vùng nước xung quanh chúng, và thềm lục địa chứ không phải là toàn bộ mảng biển trong đường chữ U. Đặc biệt là Trung Hoa Dân Quốc”ngưng yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ vùng biển” bên  trong đường này vào tháng 12 năm 2005. Họ đang tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với các thể địa lí bên trong đường này.

Có thể là toà trọng tài The Hague có thể “hiểu thấp xuống” đường 9 đoạn theo cách nói trên để làm cho nó không còn không phù hợp với UNCLOS.

Thời điểm ngay trước ngày dự kiến có phán quyết của trọng tài và có các hội nghị thượng đỉnh cấp cao của khu vực bày ra cơ hội cho Trung Quốc làm rõ ý nghĩa của đường 9 đoạn. Nếu Trung Quốc nói ra một cách rõ ràng rằng cách giải thích thứ hai về đường 9 đoạn chính là những gì họ dự kiến thì xét về mặt yêu sách đối với chủ quyền lãnh thổ (và quyền tài phán đối với các vùng biển tương ứng) lâu nay của họ ở biển Đông, Trung Quốc sẽ chẳng mất gì cả. Tuy nhiên, điều đó sẽ tạo ra một mức độ chắc chắn cao hơn cho các nước không  có yêu sách hoạt động trong khu vực này. Điều đó cũng sẽ đem lại sự chắc chắn hơn cho các bên có tranh chấp.

Marina Tsirbas là Cố vấn cao cấp,Can dự về Chính sách tại trường Đai học An ninh Quốc gia, Viện Đại học Quốc gia Australia.

------------------------------------

Xem thêm: Đường chữ U của Trung Quốc ở biển Đông: phân tích bốn cách diễn giải (Dương Danh Huy)

Sunday, January 11, 2015

Hoa Kì và yêu sách đường 9 vạch của Trung Quốc

Hoa Kì và yêu sách đường 9 vạch của Trung Quốc

Lawfare (7/1/2015)
Tác giả: Sean Mirski

Đầu tháng trước, Bộ Ngoại giao Hoa Kì công bố bài mới nhất trong loạt bài khảo sát “Giới hạn trong các vùng biển” (Limits in the Seas). Các bài khảo sát này xem xét các yêu sách biển của các nước trên thế giới và phân tích xem chúng có phù hợp với luật pháp quốc tế hay không.
Thông thường, các báo cáo này tạo nên bài đọc hấp dẫn đối với một cộng đồng nhỏ  những người có nhiệt tâm với luật biển, nhưng chúng có xu hướng tương đối trung tính. Tuy nhiên, bản báo cáo mới nhất không còn như thế: báo cáo số 143 đem yêu sách biển của Trung Quốc ở biển Đông ra xem xét thật kĩ lưỡng về khía cạnh pháp lí và thấy các yêu sách đó thiếu cơ sở.
Báo cáo  này có giá trị của riêng nó như một công trình nghiên cứu kĩ lưỡng và chi tiết nhất về lập trường của chính phủ Mĩ đối với các yêu sách biển của Trung Quốc ở biển Đông. Xét cho cùng, cho tới gần đây, chính phủ Mĩ vẫn phần nào thận trọng trong việc thông báo công khai lập trường của mình đối với các yêu sách biển của Trung Quốc. Nhưng ngoài việc cộng thêm một đợt chỉ trích vào cuộc công kích bắt đầu từ tháng 2 vừa qua của Trợ lí Ngoại trưởng Daniel Russel và Đô đốc hải quân Mĩ Jonathan Greenert, bản báo cáo cũng có thể có những tác động đáng kể đối với vụ Philippines đang đưa yêu sách biển của Trung Quốc ở biển Đông ra toà trọng tài. Cụ thể, bàn báo cáo cho thấy một phương pháp có thể có mà tòa trọng tài có thể dùng nó để tránh được một trong những vấn đề khó khăn nhất trong vụ kiện – hình dung một cách chính xác yêu sách thực sự của Trung Quốc là gì.
Theo đó, dưới dây Lawfare sẽ tóm tắt nội dung của bản báo cáo.

I. Đường 9 vạch của Trung Quốc
Bản báo cáo  bắt đầu bằng việc mô tả các yêu sách của Trung Quốc đối với nhiều phần của biển Đông theo cả quan điểm lịch sử lẫn quan điểm địa lí. Trong những năm gần đây, yêu sách của Trung Quốc phần lớn được hiểu bằng cách quy về đường “9 vạch” tai tiếng, đã xuất hiện trong một bản đồ do Trung Quốc đưa ra cho cộng đồng quốc tế vào năm 2009.
Theo bản đồ năm 2009, đường 9 vạch chạy dọc bờ biển của Việt Nam, xuyên ngang biển Đông tới bờ biển của Malaysia, và sau đó lượn vòng lên dọc theo bờ biển Malaysia, Brunei, và Philippines trước khi kết thúc ở phía đông của Đài Loan. Như bản báo cáo ghi nhận, đường 9 vạch tiến rất sát bờ biển của các quốc gia láng giềng – thật ra, các vạch nói chung gần với các bờ biển đó hơn bất kì đảo nào bên trong biển Đông.
 Nine Dash
Khi nộp bản đồ, Bắc Kinh chỉ nói đơn giản rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Đông và các vùng biển lân cận, và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đó (xem bản đồ đính kèm)”.

II. Cơ sở của phân tích
Kế đó, bản báo cáo quay sang luật biển liên quan như được phản ánh trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Trong hầu hết các trường hợp, các quy định tương đối đơn giản khi một quốc gia biết thể địa lí mà từ đó họ vạch ra khu vực biển. Quốc gia ven biển được hưởng một lãnh hải kéo dài 12 hải lí tính từ đường cơ sở ven biển của họ. Họ cũng có quyền chủ quyền hạn chế hơn cho một vài mục đích trong vùng đặc quyền kinh tế của họ (EEZ) – mở rộng ra tới 200 hải lí tính từ đường cơ sở ven biển – và trên thềm lục địa, đó là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển mở rộng ra từ bên ngoài lãnh hải đến rìa ngoài của thềm lục địa hoặc xa tới 200 hải lí.
Nhưng những quy định trở nên phức tạp hơn một chút đối với các đảo. Nói theo luật, đảo là “một khu vực đất được hình thành một cách tự nhiên, có nước bao quanh, và nằm trên mặt nước khi triều cao”. Theo đó, nếu một thể địa lí biển không nằm trên mặt nước khi triều cao - nói cách khác, nếu đó là một “bãi đá triều thấp” (low-tide elevation) hoặc thể địa lí ngầm – thì thường không được hưởng bất kì khu vực biển nào. Các thể địa lí này được coi là phần của đáy biển và lòng đất, vì thế chúng “tuân theo chế độ quy định của khu vực biển mà chúng nằm trong đó”.
Nhưng nếu thể địa lí biển quả có nhô đầu lên khỏi mặt nước khi triều cao thì sẽ được tính là một đảo. Phần lớn, các đảo được hưởng các khu vực biển (lãnh hải, EEZ, thềm lục địa…) tương tự như các loại lãnh thổ đất liền khác. Tuy nhiên, có một ngoại lệ: nếu một đảo “không thể duy trì sự sống của con người hay đời sống kinh tế của riêng nó”, thì nó được xếp vào loại “[đảo] đá”. Đảo đá không sinh ra các quyền đối vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hay thềm lục địa; nói cách khác, chúng bị giới hạn trong lãnh hải 12 hải lí.
Một cách vắn tắt, điều tối quan trọng cho việc định ra các khu vực biển là xem xét thể địa lí biển đó có là một đảo có thể ở được, một đảo đá, hay một bãi đá triều thấp / bị ngập nước. (Xin mở ngoặc, sự phân biệt này là trung tâm của việc Philippines đang đưa Trung Quốc ra trọng tài – Philippines tuyên bố rằng bất kể ai có chủ quyền đối với các thể địa lí biển, rất nhiều trong các thể địa lí này không phải là các đảo có thể sinh sống được, và do đó chúng không tạo ra quyền được hưởng đối với nhiều hình khu vực biển mà Trung Quốc dường như cho rằng họ có.)
Cuối cùng, phần này của báo cáo đề cập đến luật quốc tế liên quan đến các vịnh và sở hữu [danh nghĩa] “lịch sử” (‘historic’ bays and titles). Hoa Kì giữ quan điểm rằng để thiết lập sự tồn tại của loại quyền lợi biển này, bên yêu sách phải chứng minh “(1) có thực thi thẩm quyền công khai, sáng tỏ và hiệu quả đối với vùng nước liên quan; (2) có thực thi thẩm quyền đó liên tục; và (3) được sự mặc nhận của các quốc gia khác trong việc thực thi thẩm quyền đó”. Có lẽ quan trọng nhất, các vịnh và sở hữu lịch sử bị “giới hạn nghiêm ngặt về mặt địa lí và cốt lõi là” – chúng “chỉ áp dụng đối với các vịnh và các thể dạng địa lí tương tự gần bờ biển, chứ không phải trong các khu vực EEZ, thềm lục địa, hoặc vùng biển công [quốc tế] (high seas) ”.

III. Phân tích
Bản báo cáo mở đầu sự phân tích bằng cách phân biệt các yêu sách của Trung Quốc đối với lãnh thổ ở biển Đông (nói cách khác, yêu sách chủ quyền đối với các đảo có thể sinh sống và các đảo đá) với yêu sách của họ đối với vùng biển thuộc biển Đông. Bản báo cáo nêu rõ là không quan tâm đến việc phân tích về yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc mà thay vào đó chỉ tập trung vào các yêu sách biển của Trung Quốc.
Tại thời điểm này, chính phủ Mĩ gặp phải trở ngại. Bắc Kinh chưa bao giờ làm rõ thực chất yêu sách biển của họ bên trong đường 9 vạch; thực tế, họ đã đưa ra một loạt các thông điệp mâu thuẫn nhau, và tuyên bố năm 2009 của họ về vấn đề này vô ích một cách đáng bực và dường như được thiết kế để làm mờ tối hơn là làm rõ. Tuy nhiên, để tránh làn sương mù pháp lí này, bản báo cáo khéo léo phân tích ba cách diễn giải có thể có về yêu sách đường 9 vạch của Trung Quốc, và xét xem có cách diễn giải nào phù hợp với luật biển quốc tế hay không. Chúng tôi sẽ lần lượt đề cập từng cách diễn giải một.
Thứ nhất, đường 9 vạch có thể đơn giản “chỉ ra […] chỉ các đảo mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền”. Nếu vậy thì đường 9 vạch không nêu lên vấn đề gì đáng chú ý theo luật biển. Thay vì vậy, Trung Quốc coi như sẽ bị giới hạn trong yêu sách biển đối với bất cứ khu vực nào mà họ được hưởng theo UNCLOS chứ không phải toàn bộ vùng biển bên trong đường 9 vạch.
Thứ hai, đường 9 vạch có thể được diễn giải theo cách khác như là để chỉ một “biên giới quốc gia giữa Trung Quốc và các nước láng giềng”. Nếu vậy thì đường 9 vạch không phù hợp với luật quốc tế. Trung Quốc không thể đơn phương quyết định biên giới của họ ngừng ở đâu vì các quốc gia lân cận nhau phải phân định ranh giới “theo thỏa thuận”. Hơn nữa, đường 9 vạch “thiếu những dấu chỉ quan trọng khác của một đường biên giới biển, chẳng hạn như một danh sách công bố các tọa độ địa lí và một đường kẻ liên tục, không gián đoạn ngăn cách khoảng biển giữa hai nước”. Và ngay cả khi đường 9 vạch được vẽ theo quan điểm đơn phương về biên giới phải là gì, Bắc Kinh đã không giải thích lí do tại sao biên giới này phải được vẽ tới rất gần bờ biển của các nước khác và cách quá xa ngay cả với các đảo ở biển Đông do Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền. Thêm vào đó, Bắc Kinh đã không giải thích “các câu hỏi liên quan về các loại quyền hoặc quyền tài phán nào màTrung Quốc đang tự khẳng định cho chính mình bên trong đường 9 vạch”, là điều sẽ trở thành một vấn đề nghiêm trọng bởi vì trong nhiều trường hợp, đường 9 vạch nằm xa hơn ngay cả giới hạn 200 hải lí của EEZ từ các thể đĩa lí do Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền.
Thứ ba và cuối cùng, đường 9 vạch có thể được hiểu như để đánh dấu giới hạn của yêu sách “lịch sử”. Như bản báo cáo lưu ý, “yêu sách lịch sử có thể là một dạng chủ quyền đối với vùng biển (‘vùng nước lịch sử’ hay ‘sở hữu lịch sử’) hoặc cách khác, một số các quyền kém quan trọng hơn (‘quyền lịch sử’) đối với vùng biển đó”.
Bản báo cáo lập luận rằng như một điều kiện tối thiểu, Trung Quốc thậm chí chưa từng đưa ra “một tuyên bố có thể nhận ra được về cả ‘vùng biển lịch sử’ lẫn ‘quyền lịch sử’ đối với các vùng nước ở biển Đông bên trong đường 9 vạch”. Luật quốc tế đòi hỏi phải có “sự thừa nhận quốc tế” (international notoriety) trong việc khẳng định một tuyên bố lịch sử để cảnh báo cho các nước khác biết về sự tồn tại có thể có của một tuyên bố như vậy. Vấn đề cho Bắc Kinh, “có vẻ không có điều luật, tuyên ngôn, tuyên cáo, hoặc tuyên bố chính thức nào khác của Trung Quốc mô tả và cảnh báo cho cộng đồng quốc tế về yêu sách lịch sử đối với vùng biển bên trong đường đứt đoạn”. Tệ hơn nữa, yêu sách của Trung Quốc “thiếu tính chính xác, rõ ràng và nhất quán để có thể chuyển tải bản chất và tầm mức của một yêu sách biển.” Quả vậy, Bắc Kinh chưa bao giờ đưa ra tọa độ địa lí của bất cứ vạch nào trong 9 vạch, còn vị trí (và kích cỡ) của các vạch dường như thay đổi từ bản đồ này sang bản đồ khác. Những điều thiếu nhất quán này có thể rất đáng kể: ví dụ, một vạch trên bản đồ năm 2009 có vẻ gần bờ biển Việt Nam hơn so với bản đồ năm 1947 tới 45 hải lí.


Vị trí, độ dài, số lượng các vạch trên bản đồ 2009 (đỏ) và 1947 (trắng) không khớp nhau, thậm chí 2 vạch tương ứng gần bờ biển VN  cách nhau hơn 45 hải lí (bản đồ này do ND tạo ra bằng cách chồng bản đồ 1947 và 2009 của TQ lên GE) 

Nhưng ngay cả khi Bắc Kinh đưa ra một yêu sách có thể nhận ra được thì yêu sách đó cũng sẽ vi phạm luật pháp quốc tế. Trong trường hợp đầu tiên, “Công ước LOS hạn chế tính thích đáng của các yêu sách lịch sử vào các vịnh và việc phân giới lãnh hải”. Trái lại, đường 9 vạch lại bao trùm vùng biển mở cách xa bất kì đảo nào gần đó. Yêu sách đó cũng không thoả từng yếu tố của phép thử pháp lí ba phần về vùng biển lịch sử được mô tả bên trên: yêu sách đã không được công bố công khai hoặc rõ ràng (thật ra, tới nay nó vẫn còn chưa rõ ràng!); Trung Quốc chưa từng thực thi chủ quyền liên tục và hiệu quả trong các vùng biển này (ví dụ, các quốc gia khác đã từng sử dụng các vùng biển của biển Đông); và chưa từng có quốc gia nào thừa nhận hoặc mặc nhận đối với bất kì việc thực thi thẩm quyền nào củaTrung Quốc tại những vùng biển này (và “bất cứ điều được cho là đồng ý ngầm nào của các nước cũng có thể bị bác bỏ do thiếu sự công nhận có ý nghĩa của bất kì yêu sách lịch sử của Trung Quốc”).

Tóm lại, bản báo cáo kết luận rằng “đường đứt đoạn của Trung Quốc lả không phù hợp với luật biển quốc tế trừ phi Trung Quốc làm rõ ra rằng yêu sách đường đứt đoạn chỉ phản ánh yêu sách đối với các đảo nằm trong đường đứt đoạn đó và đối với bất kì khu vực biển nào được tạo ra từ những thể đất đai đó theo đúng quy định của luật biển quốc tế, như được phản ánh trong Công ước LOS.”
---------------------------------
Bài liên quan: