Showing posts with label HD-981. Show all posts
Showing posts with label HD-981. Show all posts

Tuesday, September 30, 2014

Một cuộc đối đầu, ba câu hỏi pháp lí

Một cuộc đối đầu, ba câu hỏi pháp lí

One confrontation, three legal questions

Dương Danh Huy
NCBĐ (8/9/2014) - Eurasia Review (9/9/ 2014)


"Việt Nam hay Trung Quốc đúng về mặt pháp lí trong cuộc đối đầu này?": Theo UNCLOS như đã được Tòa Trọng tài Thường trực giải thích, câu trả lời chắc chắn là Việt Nam đúng, bất chấp hai câu hỏi đầu tiên được trả lời ra sao.

(Các khoảng cách từ vị trí triển khai đầu tiên ủa HD-981 theo Google Earth.)


(Các khoảng cách từ vị trí triển khai thứ hai ủa HD-981 theo Google Earth.)

Sau hai tháng rưỡi đối đầu với Việt Nam, vào ngày 15/07/2014 Trung Quốc rút giàn khoan dầu trị giá tỉ đô la HD-981 mà họ đã triển khai gần quần đảo Hoàng Sa, chủ đề của một cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa hai đất nước này kể từ đầu thế kỉ 20. Việc rút giàn khoan dầu đã làm giảm căng thẳng ở biển Đông, vốn nâng lên tới mức cao nhất kể từ khi Trung Quốc chiếm lấy đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa vào năm 1988, làm hơn 70 binh sĩ Việt Nam thiệt mạng lúc đó.

Các tranh chấp đất đai và biển âm ỉ trong khu vực có nghĩa là các sự cố tương tự có khả năng sẽ xảy ra lần nữa. Do đó, thật đáng để thử xem luật pháp quốc tế đã nói gì về các cái đúng và cái sai trong sự cố này. Ta sẽ thấy rằng có thể tìm được một câu trả lời rõ ràng, ngay cả khi một số câu hỏi cơ bản vẫn chưa được giải quyết.


Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa

Câu hỏi rõ ràng nhất là "Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam hay Trung Quốc?", ngay cả khi, như sẽ được cho thấy phần sau, câu hỏi này không định ra ai đúng hay sai trong cuộc đối đầu này.

Thật ra câu hỏi này khó trả lời hơn những thành viên thuộc cả phía vẫn tưởng. Các lập luận của Trung Quốc khơi gợi tới lịch sử xa xưa tận triều đại Bắc Tống có vẻ ấn tượng với người bình thường, nhưng các lập luận đó khó có thể đáp ứng các quy định của luật pháp quốc tế đòi hỏi rằng việc thụ đắc chủ quyền đối với lãnh thổ phải được dựa trên các tuyên bố và hành vi chủ quyền của nhà nước, chứ không phải của các cá nhân. Trái lại, lập luận của Việt Nam dựa trên các hoạt động của triều Nguyễn và khẳng định chủ quyền của Pháp có nhiều khả năng thoả được đòi hỏi này hơn.

Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng bởi công thư của Thủ tướng Bắc Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào năm 1958, trong đó ông ghi nhận Tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc vào năm đó. Trong tuyên bố đó, Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lí cho lãnh thổ của mình, có nói bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Lập luận phản lại của Việt Nam có vẻ là dựa trên quan điểm rằng trong thời kì Chiến tranh Việt Nam chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Nam Việt Nam nắm giữ, và rằng công thư năm 1958 của Bắc Việt Nam mà thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho Chu Ân Lai chỉ nói về yêu sách của Trung Quốc về vùng lãnh hải 12 hải lí, chứ không đáp trả vấn đề chủ quyền của các quần đảo này. Dù thế nào đi nữa, đây là một chủ đề đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu thêm, và chỉ có câu trả lời của tòa hay toà án quốc tế cho câu hỏi "Chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam hay Trung Quốc?" mới có thể đảm bảo được khách quan và có thẩm quyền.


Trong vùng biển của nước nào?

Câu hỏi thứ hai là "HD-981 được triển khai trong vùng biển thuộc Việt Nam hay Trung Quốc?" Ngây thơ người ta có thể nghĩ rằng câu trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào câu hỏi thứ nhất. Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng nếu HD-981 triển khai ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, và khi xem xét kỹ hơn sẽ thấy không phải như vậy.

Hai địa điểm triển khai giàn khoan dầu này, nằm giữa quần đảo Hoàng Sa và bờ biển Việt Nam và gần bờ biển đó hơn là đảo Hải Nam, có nghĩa là nếu quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam thì vùng biển trong khu vực đó sẽ thuộc về Việt Nam. Trái lại, nếu quần đảo Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc thì vùng biển đó sẽ chỉ thuộc về Trung Quốc nếu như quần đảo Hoàng Sa được phân cho một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) vươn tới hoặc vượt quá hai địa điểm triển khai của HD-981. Tuy nhiên, theo phán quyết của các tòa án quốc tế (như phán quyết của Tòa Công lí Quốc tế trong tranh chấp Colombia-Nicaragua) và thông lệ quốc tế trong việc phân định ranh giới biển (như Hiệp định phân giới Vịnh Bắc Bộ củaTrung Quốc và Việt Nam), thì các đảo nhỏ như đảo Phú Lâm và Đảo Hoàng Sa trong quần đảo Hoàng Sa khó có khả năng được phân cho một vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn một phần tư khoảng cách đến bờ biển lục địa. Vị trí khoan đầu [sau] của Trung Quốc cách đất liền Việt Nam khoảng 132 hải lí [153 hải lí], cách đảo Hải Nam của Trung Quốc183 hải lí [190 hải lí], cách đảo Phú Lâm 103 hải lí [88 hải lí] và cách đảo Hoàng Sa 67 hải lí [42 hải lí]. Do đó, nếu tòa hoặc tòa án được yêu cầu phán quyết về vấn đề này thì hầu như không có khả năng toà sẽ đồng ý rằng vùng đặc quyền kinh tế của quần đảo Hoàng Sa có thể đủ rộng để phủ tới vị trí triển khai của HD-981.

Vì vậy, dù ai sở hữu quần đảo Hoàng Sa, câu trả lời cho câu hỏi "Vùng biển quanh giàn khoan dầu thuộc Việt Nam hay Trung Quốc?" có nhiều khả năng sẽ là thuộc Việt Nam.

Rõ ràng Trung Quốc không chấp nhận câu trả lời này, như thể hiện qua hành động của họ. Thật không may, trong tình trạng họ đã từ chối đến mức tối đa có thể được các thủ tục giải quyết tranh chấp quy định trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) thì không có tòa hoặc tòa án nào có thẩm quyền để đề cao những gì rất có thể là đúng, và vì vậy vấn đề vẫn chưa xác định được.

Với tình huống đáng tiếc này, do TQ đưa tới để tránh né luật pháp quốc tế trong việc phân định ranh giới biển, câu hỏi thứ ba là "Nước nào đúng về mặt pháp lí trong cuộc đối đầu này?" Câu trả lời cho câu hỏi này có thể tìm thấy trong UNCLOS, mà cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều đã phê chuẩn.


Các quy định của UNCLOS về tranh chấp

Vì không có sự thống nhất của Việt Nam và Trung Quốc về câu hỏi "Vùng biển xung quanh giàn khoan dầu thuộc về Việt Nam hay Trung Quốc?" và cả hai phía đều có câu trả lời có khả năng đúng theo quan điểm pháp lí (ngay cả khi, như cho thấy bên trên, chứng lí của Việt Nam mạnh hơn nhiều), nên vùng nước xung quanh giàn khoan dầu theo định nghĩa là có tranh chấp. Đây là chỗ mà UNCLOS đi vào.

Điều 74 (3) của Công ước quy định rằng nơi nào có EEZ tranh chấp chưa giải quyết, "các quốc gia có liên quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, sẽ cố gắng hết sức để tham gia vào các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tế và, trong thời gian chuyển tiếp này không gây phương hại hay cản trở việc đạt đến thỏa thuận  cuối cùng. Các dàn xếp như vậy sẽ không làm phương hại đến việc phân định cuối cùng." Trong phán quyết năm 2007 về tranh chấp Guyana - Suriname, Tòa Trọng tài Thường trực phán rằng đơn phương khoan trong khu vực tranh chấp là vi phạm điều luật này. Như vậy, thật rõ ràng và không thể phủ nhận rằng việc TQ triển khai giàn khoan khổng lồ là vi phạm điều luật này, và Việt Nam là đúng về mặt pháp lí khi phản đối hành động đó.

Thật không may, việc TQ từ khước tới mức tối đa có thể được các thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS một lần nữa có nghĩa là không có tòa hoặc tòa án nào có thẩm quyền để đề cao những gì là chắc chắn đúng. Tuy nhiên, nếu Việt Nam đơn phương theo đuổi các thủ tục này, có khả năng là một tòa án theo Phụ lục VII UNCLOS sẽ phán quyết rằng việc TQ từ chối đàm phán các vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa với Việt Nam là vi phạm Điều 279, điều luật này đòi hỏi hai nước phải "giải quyết tranh chấp giữa họ liên quan đến việc diễn giải và áp dụng Công ước bằng các phương cách hòa bình đúng theo Điều 2, khoản 3 của Hiến chương Liên Hợp Quốc".


Kết luận

Trong mọi trường hợp, câu trả lời cho ba câu hỏi pháp lí đặt ra về cuộc đối đầu gần đây nhất của giữa Việt Nam và Trung Quốc là như sau.

1. "Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam hay Trung Quốc?": chưa có kết luận dứt khoát, nhưng câu hỏi này không phải là điều quyết định đối với cuộc đối đầu trong việc triển khai HY-981.

2. "HD-981 được triển khai trong vùng biển thuộc về Việt Nam hay Trung Quốc?": Theo án lệ và tập quán quốc tế về phân giới, câu trả lời rất có thể là thuộc Việt Nam, bất chấp câu hỏi thứ nhất được trả lời ra sao.

3. "Việt Nam hay Trung Quốc đúng về mặt pháp lí trong cuộc đối đầu này?": Theo UNCLOS như đã được Tòa Trọng tài Thường trực giải thích, câu trả lời chắc chắn là Việt Nam đúng, bất chấp hai câu hỏi đầu được trả lời ra sao.

Wednesday, May 14, 2014

Chỉ có cách đưa Trung Quốc ra toà

Biện pháp đối phó với vụ Trung Quốc mang giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
(Bài đã đăng trên Tia Sáng http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7496 15/05/2013 với tựa như trên) 

Trong vụ Trung Quốc (TQ) mang giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (VN), thử xét cơ sở lập luận của mỗi bên để chúng ta có thể có biện pháp đối phó thích đáng.

1.      Theo TTX Việt Nam trong vụ TQ đưa giàn khoan khủng tới gần đảo Tri Tôn, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình khẳng định "Vị trí tọa độ hoạt động của giàn khoan HD-981 nêu trong thông báo hàng hải của Cục Hải sự Trung Quốc nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lí. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình được xác định phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982."
Phát biểu này dựa trên cơ sở là vị trí điểm đặt giàn khoan nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lí của Việt Nam (cụ thể, như bản đồ cho thấy, cách đảo Lí Sơn khoảng 119 hải lí và cách đường ranh EEZ khoảng 80 hải lí).

HD-981c.JPG
(Bản đồ tạo từ file kmz có thể tải về máycá nhân để mở trên Google Earth ở đây: https://www.dropbox.com/s/67521dpzdihe0wz/HD-981.kmz)

Lưu ý thêm rằng đường ranh giới EEZ 200 hải lí của VN (đường màu hường) đã được vẽ theo đúng các toạ độ nêu trong hồ sơ VN nộp Uỷ ban ranh giới thềm lục địa LHQ ngày 6/5/2009. Đường này dừng lại ở điểm cách đảo Phú Lâm và đảo Hoàng Sa lần lượt khoảng 60, 70 hải lí. Do đó, có vẻ quan điểm của chính phủ VN là các đảo ở đây không được hưởng hoặc chỉ hưởng một phần hiệu lực EEZ về phía VN hay TQ. Nếu trường hợp sau là đúng thì phần sau của phát biểu trên có thể hàm ý rằng vị trí đó còn nằm trong vùng biển mà Việt Nam có thể được hưởng theo quy định của Công ước về luật biển (UNCLOS) từ một[/nhiều] đảo/đá của quần đảo Hoàng Sa và do quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam (cụ thể là nằm trong EEZ của đảo Hoàng Sa hay đảo Phú Lâm - hai đảo có tiềm năng thoả định nghĩa đảo theo UNCLOS[1] nhất).

2.      Trong khi đó, theo VN Express, để biện hộ cho việc triển khai giàn khoan 981 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói rằng “[c]ác công việc liên quan đang nằm hoàn toàn trong khu vực thuộc quần đảo Tây Sa."

Trước nhất, lưu ý rằng TQ đã tuyên bố đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa (đường đa giác màu hường nhạt) khi phê chuẩn UNCLOS ngày 15/5/1996, và từ giữa thập niên 1980 sau khi chiếm đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa khá lâu (hơn 10 năm) TQ có vẻ tự tin là quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về họ[2]. Theo đó, có nhiều khả năng là phát biểu của Hoa Xuân Oánh dựa trên cơ sở là vị trí giàn khoan (cách đảo Tri Tôn khoảng 17 hải lí) nằm bên trong EEZ của quần đảo Hoàng Sa theo cách tính của họ cũng từ đường cơ sở này và hơn nữa không vượt quá trung tuyến của Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa như VLIZ (Viện nghiên cứu biển Flanders – Bỉ) vẽ ra trong bản đồ trên[3] (với giả định là cả hai phía đều có EEZ và có hiệu lực như nhau). Tuy nhiên, cơ sở này có tiền đề không vững vì đường cơ sở thẳng mà họ vạch ra không phù hợp UNCLOS do TQ không phải là nước quần đảo.[4]

Thứ hai, cũng có khả năng TQ tin rằng với những thay đổi nhân tạo mà họ đã thực hiện trên quần đảo Hoàng Sa, đặc biệt là ở đảo Phú Lâm thì ít ra đảo này đã thoả đầy đủ điều kiện theo định nghĩa của điều 121 UNCLOS, tức là có EEZ và EEZ này có hiệu lực đủ[5] để bao gồm luôn vị trí đặt giàn khoan 981 (cách nó khoảng 103 hải lí). Do đó, đây có thể là một cơ sở vững hơn cho tuyên bố của họ dù tính chất đảo của Phú Lâm vẫn còn là nghi vấn.
Thứ ba, chắc chắn họ cũng đã thấy vị trí giàn khoan cách đảo Hải Nam khoảng 183 hải lí, tức là cũng nằm trong EEZ 200 hải lí và thềm lục địa của đảo này. Đây là một cơ sở vững vàng nhất theo UNCLOS. Tuy nhiên, họ chưa nói ra có thể vì vị trí giàn khoan chỉ cách Lí Sơn khoảng 119 hải lí và bờ biển VN khoảng 132 hải lí, tức là dù tính từ Lí Sơn hay từ bờ biển VN thì điểm đó vẫn nằm trong sâu trong EEZ của VN hơn nhiều so với trong EEZ của Hải Nam. Do đó, nếu nêu điều này ra họ sẽ bị thất lợi vì vị trí giàn khoan rõ ràng đã vượt quá trung tuyến[6] vào EEZ phía VN, và hơn nữa họ cũng bỏ lỡ dịp để khẳng định lại chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và đường cơ sở trái phép của họ.

Ngoài ra, để ý rằng vị trí giàn khoan cũng nằm hoàn toàn trong đường ‘lưỡi bò’ và tiến sĩ Ian Storey, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore có bình luận trên BBC rằng "Việc TQ cho đặt giàn khoan trên thềm lục địa của VN là chỉ dấu rằng Trung Quốc đang khẳng định quyền thăm dò và khai thác tài nguyên trong đường chín đoạn của mình cho dù nguồn tài nguyên đó có nằm trong EEZ của quốc gia khác hay không." Tuy nhiên, chúng ta không thấy họ đá động gì tới đường này dù từ trước tới nay họ vẫn tuyên bố TQ có chủ quyền không tranh cãi đối với các đảo/đá và các vùng biển liên quan bên trong đường này. Điều này có thể do họ không muốn công luận đào sâu ĐLB có nhiều vấn đề này vốn đã bị rất nhiều học giả phê phán.
3.      Để ý rằng hiện nay hai nước chưa có thoả thuận về phân giới biển bên ngoài vịnh Bắc Bộ nên dĩ nhiên bên nào cũng có quyền yêu sách tối đa quyền được hưởng của mình.[7] Theo phân tích trên, dù có dựa vào chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay không thì tuyên bố của bên nào cũng có vẻ đã theo UNCLOS (dù khác nhau về mức độ hợp lí và công bằng). Như vậy, thuần tuý về mặt pháp lí thì vị trí giàn khoan nằm trong vùng chồng lấn, ít ra về EEZ của hai bên, tức là nằm trong khu vực tranh chấp theo như tuyên bố của hai bên. Theo luật quốc tế thì không bên nào được thực hiện các hoạt động thăm dò, khai thác kinh tế trong các khu vực có tranh chấp. Vì thế, nếu TQ không rút giàn khoan ra ngoài và hai bên không thương lượng được về cách phân giới biển ở đây thì với thực tế là nước nhỏ, VN chỉ còn có cách là đưa vụ việc ra trọng tài quốc tế phân xử và nhân cơ hội tranh thủ tìm cách giải quyết vấn đề chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, do Trung Quốc đã vận dụng Điều 298 của UNCLOS để tránh việc áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho một số loại tranh chấp nên trọng tài UNCLOS không có thẩm quyền để phán quyết vùng biển đó thuộc về bờ biển hay đảo nào. Dù vậy, trọng tài vẫn có thẩm quyền công nhận có tồn tại tranh chấp trong khu vực đó bất chấp vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, tính chất các đảo đá, hiệu lực được hưởng…như thế nào. Khi đó, TQ sẽ không được đơn phương khoan dầu khí ở đó. Từ đó, với sức ép ngoại giao và công luận quốc tế, hi vọng họ sẽ rút giàn khoan ra khỏi khu vực và không tái diễn hành động ngang ngược này trong tương lai.
Dĩ nhiên, đây chỉ là một biện pháp trước mắt để trục giàn khoan TQ ra khỏi EEZ của VN và hiệu lực còn tuỳ vào thái độ của TQ. Tuy nhiên, đây cũng là một bước tiến tích cực trong vấn đề chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa vì khu vực này được chính thức công nhận là có tranh chấp mà TQ không thể chối bỏ như hiện nay.Điều này có thể có tác dụng ngăn ngừa các hành động ‘thực thi chủ quyền’ tương tự của TQ, kể cả các hành động như quấy rối ngư dân, tàu thuyền, đơn phương cấm đánh bắt cá... trong khu vực này trong tương lai.

Phan Văn Song (CTV Quỹ NCBĐ)
Bài viết được ý kiến đóng góp của ông Dương Danh Huy (TV Quỹ NCBĐ)




[1] Điều 121 Công ước LHQ về Luật biển quy định về đảo và đảo đá như sau:
1.       Đảo (island) là một vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc xung quanh, nổi trên mặt nước khi triều cao.
2.       Ngoại trừ [trường hợp] như quy định trong điểm 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo được xác định theo đúng các quy định trong Công ước cho lãnh thổ đất liền khác.
3.        Đảo đá (rock) không thích hợp cho việc cư trú của con người và không có đời sống kinh tế riêng thì sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa..
[2] Từ năm 1980 trở về trước, TQ còn đưa ra các tuyên bố, tài liệu chứng minh chủ quyền Hoàng Sa thuộc về họ, cụ thể như tài liệu  CHINA’S INDISPUTABLE SOVEREIGNTY OVER THE XISHA AND NANSHA ISLANDS công bố ngày 30/1/1980… Sau đó thì họ chỉ còn thừa nhận có tranh chấp ở quần đảo Trường Sa và phủ nhận có tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa.
[3] Thật ra, quần đảo Hoàng Sa khó có thể được hưởng EEZ theo UNCLOS, thậm chí các đảo có tiềm năng là đảo theo định nghĩa UNCLOS như Phú Lâm, Hoàng Sa có được EEZ hay không và nếu có thì hiệu lực tới mức nào vẫn là các câu hỏi không dễ trả lời.
[4] Theo Quy định của UNCLOS thì những quốc gia quần đảo (như Philippines, Indonesia…) mới có thể vẽ đường cơ sở bằng cách nối những điểm nằm ngoài cùng trên cáo đảo/đá xa nhất lại với nhau (theo một số ràng buộc nhất định).
[5] Theo các án lệ từ trước tới nay việc phân giới biển giữa đất liền và đảo nhỏ thường dùng trung tuyến có điều chỉnh (chú ý tới độ dài hai bờ biển đối diện và các yếu tố có ảnh hưởng khác) ví dụ trong vụ Nicaragua kiện Columbia, toà dùng tỉ lệ 3:1 giữa các điểm cơ sở của hai bên. Do đó, việc đảo Phú Lâm được hưởng thậm chí  ½ hiệu lực (nếu quả là đảo theo UNCLOS) cũng là điều rất đáng ngờ.
[6] Trong trường hợp các nướccó bờ biển liền kề hay đối diện có vùng biển được hưởng chồng lấn thì theo thông lệ quốc tế cũng như các án lệ đã có, người ta dùng trung tuyến làm đường phân giới.
[7] Thật ra, điểm 1 điều 74 UNCLOS có quy định: “Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển liền kề hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng.” Chính Luật về EEZ và thềm lục địa của TQ ngày 26/6/1998 (đoạn 3 trong điểu 2) cũng có nêu: “Các mâu thuẫn liên quan đến EEZ và thềm lục địa của nước CHNDTH và các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ được giải quyết, trên cơ sở luật pháp quốc tế và phù hợp với nguyên tắc công bằng, bởi một hiệp định phân định cho các khu vực tuyên bố.” Do đó, đòi hỏi tối đa 200 hải lí ở vùng chồng lấn là đi ngược với luật pháp QT và của chínhTQ

Saturday, May 10, 2014

Nước cờ ve vuốt của Việt Nam ở biển Đông không hiệu quả

Việt Nam phí công với nước cờ ve vuốt ở biển Đông

Viets Gamble Vainly on Appeasement in South China Sea
David Brown
Asia Sentinel (07/05/2014)

 (bản dịch này có một vài khác biệt nhỏ đổi so với bản dịch ở đây  http://basamnews.info/2014/05/10/2203-co-xoa-diu-tinh-hinh-bien-dong-viet-nam-da-choi-mot-tro-choi-may-rui/#more-130038)

Bắc Kinh đưa một giàn khoan biển sâu tiến sâu trong vùng biển Việt Nam

Chế độ Cộng sản Việt Nam đã hy vọng rằng hành vi cung kính có thể làm dịu đi tham vọng đối với biển Đông của anh láng giềng khổng lồ phương Bắc. Nhưng với việc đưa giàn khoan biển sâu Hải Dương 981 tới khai thác dầu ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam, Bắc Kinh đã làm tiêu tan hy vọng đó và đặt Hà Nội vào một tình thế vô cùng nan giải.

Dân chúngViệt Nam từng phê phán mạnh mẽ yêu sách chủ quyền quá đáng của Trung Quốc đối với biển Đông trong các năm 2009-2011, lúc mà Hà Nội hy vọng sẽ tập hợp Hiệp hội các nước Đông Nam Á thành một mặt trận thống nhất được sức mạnh hải quân Mỹ ít ra cũng hậu thuẫn hay ít ra là hậu thuẫn ngầm. Việc tập thể ASEAN miễn cưỡng thách thức Trung Quốc khiến Mỹ không có nền tảng để đề ra một chính sách mạnh ở biển Đông. Washington cũng chưa từng mặn mà với việc đưa ra sự bảo đảm bảo vệ cho các bên tranh chấp khác, thậm chí cho đồng minh hiệp ước ở Manila.

Trong những điều kiện như thế, hòa giải tuy xa lạ với công luận, dường như có nhiều khả năng làm Bắc Kinh dịu xuống và đem lại sự kiềm chế. Đặc biệt là từ khi Tập Cận Bình lên cầm quyền hồi tháng 11 năm 2012, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã quyết thực hiện một nỗ lực hàn gắn quan hệ với anh hàng xóm khủng của họ.

Trong khi Trung Quốc thực thi chủ quyền đối với các rạn san hô trong vùng biển Philippines vào năm 2012 và năm 2013, Hà Nội rõ ràng là đã câm lặng trong phản ứng. Khi Trung Quốc phái một đội tàu tới cắm cờ ở bãi ngầm James ngoài khơi bờ biển phía Đông Malaysia, Hà Nội có vẻ cũng không xao xuyến. Khi tàu cảnh sát biển của Trung Quốc xua đuổi ngư dân Việt Nam khỏi vùng đánh cá truyền thống gần quần đảo Hoàng Sa, đường dây nóng về vấn đề đánh cá tới Bắc Kinh cũng không ê a một lời phản kháng. Khi căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc bùng lên đối với quần đảo Senkaku / Điếu Ngư, Hà Nội vẫn chăm chỉ cách ly ra thậm chí cả sự can dự bằng lời. Khi Manila yêu cầu Hà Nội cùng tham gia kiện Trung Quốc ở Tòa Công lý Quốc tế, Chính phủ Việt Nam cũng cúi gầm mặt xuống.

Trong hai năm qua, chỉ có hai sự kiện – cùng vào tháng 8 năm 2012 - đã kích động Hà Nội phẫn nộ công khai. Sự kiện thứ nhất là Tổng công ty quốc gia dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) mời các công ty dầu mỏ nước ngoài đấu thầu quyền thăm dò các lô ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam. Sư kiện thứ hai là việc Bắc Kinh thành lập "thành phố Tam Sa" trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa như là trung tâm hành chính và quân sự cho sự hiện diện ngày càng tăng của Bắc Kinh ở biển Đông

Hơn hai năm qua mỗi khi điều kiện cho phép, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội để tâng bốc mối quan hệ anh em với đối tác Trung Quốc. Hà Nội dường như lý luận rằng sự hoà hoãn tương đối có thể sẽ hiện ra một khi Tập Cận Bình và phe nhóm ông đã nắm chắc các cần điều khiển quyền lực.

Trong thời gian chuẩn bị chuyển giao quyền lực ở Bắc Kinh, các thế lực có tư tưởng nước lớnTrung Quốc gay gắt trong việc kích động chống Việt Nam. Hà Nội chắc hẵn hy vọng rằng khi ổn định xong quyền lực ở trung ương, Tập Cân Bình và phe nhóm của ông sẽ chỉ thị cho cấp dưới điều chỉnh lại việc tuyên truyền chống Việt Nam và tránh các hành động khiêu khích. Chân thành trong hy vọng về hoà hoãn, công an Việt Nam gia tăng việc đàn áp đối với các blogger bất đồng chính kiến, một cử chỉ hướng về Bắc Kinh, đã không thành công trong việc đè nén lời chỉ trích về chính sách bị tố là "mềm yếu" của chế độ đối với Trung Quốc.

Tại Hội nghị Shangri La tháng 9 năm ngoái, Thủ tướng Dũng đã kêu gọi Trung Quốc và các thành viên khác cùng hợp tác trong việc "xây dựng lòng tin chiến lược." Tài hùng biện của ông Dũng đã được nhiệt liệt hoan nghênh và bây giờ thì Hải Dương Thạch Du 981 đã bỏ neo cách bờ biển miền Trung 120 km, liệu sẽ có bao nhiêu đối tác của Hà Nội không chỉ ủng hộ bằng những lời đầu môi đối với các phản đối của Việt Nam?
 
Vi trí giàn khoan HD-981 (PVN)

Đối với Hà Nội, lựa chọn khó khăn
Tin tức về việc triển khai giàn khoan biển sâu đã nổ ra ngày 4 tháng 5, khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phản ứng với một lời cảnh báo thường xuyên cho người đi biển do Cục hải sự Trung Quốc đưa ra. Bản đồ do tổng công ty dầu khí nhà nước, Petro Vietnam, cung cấp cho thấy giàn khoan của CNOOC cách đảo Tri Tôn (đảo xa nhất về phía tây nam của quần đảo Hoàng Sa) khoảng 34 km về phía nam, và cách đảo Lý Sơn (trớ trêu lại là chỗ xuất phát của đội thuyền cá đã từng đánh bắt cá ở vùng biển Hoàng sa vài trăm năm qua) khoảng 221 km về phía đông.

Việc triển khai giàn khoan Hải Dương 981 là "bất hợp pháp và vô giá trị", người phát ngôn Việt Nam tuyên bố và nói thêm rằng vị trí đó nằm ngay trong thềm lục địa của Việt Nam.

Không phải thế, Bắc Kinh nói. Chỗ đặt giàn khoan "hoàn toàn nằm trong vùng biển của quần đảo Tây Sa của Trung Quốc."

Hà Nội bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, một nhóm đảo nhỏ và các rạn san hô rải rác ở phía nam đảo Hải Nam và phía đông bờ biển miền Trung. Bắc Kinh đã đẩy các đơn vị trú đóng của Việt Nam Cộng Hòa (chế độ cũ Sài Gòn) ra khỏi một số đảo của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và kể từ đó họ đã thực hiện ngày càng chặt chẽ việc kiểm soát trên thực tế đối với quần đảo này và vùng biển lân cận.

Quần đảo Hoàng Sa không thoả đủ điều kiện để mở rộng thêm vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Tuy nhiên, bất kỳ đảo đá nào vẫn còn nổi khi triều cao đều có thể "tạo ra" vùng lãnh hải ra xa 12 hải lý tính từ bờ biển của nó. Chỗ đặt giàn khoan cách đảo Tri Tôn 18,5 hải lý. Do đó nó không nằm trong "vùng biển Trung Quốc" ngay cả khi yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Hoàng Sa được coi là hợp lệ.

Theo báo cáo của Trung Quốc, giàn khoan  31 000 tấn, 1 tỷ đôla của CNOOC sẽ còn tiếp tục ở đó cho đến tháng 8. Hạ thuỷ vào năm 2011, theo tường thuật cho đến nay Hải Dương Thạch Du 981 đã khoan thăm dò nhiều giếng ngoài khơi Hồng Kông. Giàn khoan này có khả năng khoan xuống đáy biển ở độ sâu đến 3.000 mét. Các bản đồ Việt Nam cho thấy rằng chỗ khoan mới này chỉ cách mặt biển dưới 1.000 mét.

Cũng theo truyền thông Trung Quốc ngày 6 tháng 5, tàu cảnh sát biển Việt Nam đã "cản trở" hoạt động của giàn khoan. Chắc chắn là tàu cảnh sát biển Trung Quốc cũng nằm gần trong tầm tay. Cả hai nước có thể triển khai một lực lượng đáng kể tàu hải quân và không quân hậu thuẫn cho các lực lượng bán quân sự của họ.

Do đó, việc triển khai Hải Dương Thạch Du 981 đặt ra một tình thế nan giải đau đớn cho Hà Nội. Giống như việc quấy phá của Trung Quốc với tàu khảo sát dầu khí của Việt Nam cách đây ba năm, việc gọi thầu bán đấu giá các lô thăm dò trong vùng EEZ của Việt Nam và những nỗ lực đôi khi thành công của TQ đe dọa các công ty dầu mỏ nước ngoài, hành động khiêu khích mới nhất này không những làm nhục mà còn gây thiệt hại kinh tế thực sự.

Không giống quân đội Philippines, lực lượng vũ trang của Việt Nam là một rào chắn đáng tin cậy. Không ai nghi ngờ về lòng dũng cảm, kỷ luật của lính bộ và lính thủy Việt Nam, những kẻ thừa kế một thiên niên kỷ kháng chiến chống quân xâm lược thành công, đặc biệt là quân Trung Quốc. Hơn nữa, Hà Nội đã có nỗ lực nghiêm túc trong hiện đại hóa lực lượng không quân và hải quân trong những năm gần đây. Họ có khả năng đánh một vài trận hoặc có thể nhiều trận với Trung Quốc.

Trung Quốc dường như quá hy vọng vào việc làm nhục Hà Nội hoặc kích động người Việt Nam tấn công. Việc theo đuổi quyền bá chủ ở biển Đông của họ, đặc tả hết sức thoả đáng như là một chiến lược "vừa đàm vừa lấy", đã thành công một cách vẻ vang cho đến nay. Bắc Kinh dường như muốn gây ấn tượng với dư luận thế giới, chứ không phải trì hoãn nó. Bị kích động bởi truyền thông theo chủ nghĩa dân túy, công dân của họ đang hậm hực đòi đánh Việt Nam.

Việc triển khai Hải Dương Thạch Du 981 đã tạo ra một tình hình tồi tệ, một tình hình dễ dàng leo thang thành một cuộc chiến tranh bắn nhau. Chỉ có Bắc Kinh mới có thể tháo gỡ nó - nhưng chỉ khi họ coi đây là việc hệ trọng.

============================================
Nói thêm: tác giả dựa vào mẫu bản đồ của Petro VN nên phân tích chưa đầy đủ, nếu nhìn bản đồ sau sẽ thấy điểm đặt giàn khoàn còn nằm trong EEZ của đảo Hải Nam, dù theo thông lệ quốc tế thì trong những trường hợp thế này thì sẽ dùng trung tuyến làm đường phân giới. Tức là nếu dùng cả LUẬT lẫn LỆ thì  mới bắt bẽ được TQ. Xem bản đồ tạo từ Google Earth sau đây:


HD-981c.JPG


Friday, May 9, 2014

Trong tiếng Trung, nói “khoan đi, cưng ơi, khoan đi” thế nào?

Trong tiếng Trung, nói “khoan đi, cưng ơi, khoan đi” thế nào?

How Do You Say 'Drill, Baby, Drill' in Chinese?

Việc Bắc Kinh triển khai giàn khoan dầu hàng tỉ đôla cho Việt Nam một thông điệp rõ ràng: Phởn chỗ nào tao khoan chỗ đó.
Keith Johnson,Foreign Policyngày 5-5-15
Phan Văn Song dịch
Trung Quốc đã gây ra một sự leo thang nguy hiểm trong căng thẳng ở Biển Đông với việc đưa Hải Dương Thạch Du 981, một giàn khoan khổng lồ hàng tỉ đô la được thiết kế để khoan dầu tới vùng nước mà  cả Bắc Kinh và Hà Nội tuyên bố chủ quyền.
Việt Nam đã lớn tiếng phản đối động thái này vì giàn khoan nằm ngay bên trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí kéo dài từ bờ ra khơi của các nước; Trung Quốc, tuyên bố chủ quyền quần đảo Hoàng Sa gần đó, cho biết giàn khoan là hợp pháp vì nó hoạt động trong vùng biển mà họ nói là thuộc về Bắc Kinh.
Đó chắc chắn không phải là lần đầu mà việc tìm kiếm năng lượng đã gây ra đối kháng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong khu vực, nhưng bước đi mới nhất này là một vấn đề lớn vì nhiều lí do.
Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động khảo sát năng lượng trong các khu vực tranh chấp, và ngăn cản không cho các quốc gia khác, kể cả Việt Nam, thực hiện các khảo sát tương tự của họ, nhưng đây dường như là lần đầu tiên mà các công ti dầu khí Trung Quốc thực sự khoan giếng trong vùng biển do nước khác tuyên bố chủ quyền. Cũng đáng lưu ý là Trung Quốc và Việt Nam từng có xung đột vũ trang, bao gồm cả một cuộc chiến tranh đẫm máu trên đất liền vào năm 1979 và một loạt các vụ đụng độ vũ trang trên các đảo tranh chấp ở Biển Đông. Vấn đề khoan dầu này có khả năng kích động một vòng đấu đá mới.
Động thái này của Trung Quốc cũng biểu hiện như một cái tát vào mặt Tổng thống Barack Obama, vừa từ châu Á trở về sau chuyến đi được thiết kế để trấn an các đồng minh lo âu như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Philippines rằng Hoa Kì sẽ ngăn chặn việc Trung Quốc bắt nạt trên biển. Sáu ngày sau đó, Bắc Kinh đã thực hiện một trong những bước khiêu khích lớn nhất từ trước đến nay. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mĩ không có ý kiến nói gì khi được yêu cầu bình luận.
Các chuyên gia cho biết việc đưa giàn khoan dầu tự nó hầu như không đủ để nổ ra một cuộc chiến tranh, nhưng có nghĩa là sẽ khẳng định dần quyền kiểm soát của Trung Quốc trong khu vực.
Mike McDevitt, một đô đốc đã nghỉ hưu và người đứng đầu nghiên cứu chiến lược tại Trung tâm Phân tích Hải quân nói “Đó là một trong nhiều bước tiến nhỏ mà từng bước riêng lẻ sẽ không dẫn đến xung đột, nhưng theo thời gian gom lại sẽ từ từ làm thay đổi hiện trạng.”
Reuters tường thuật rằng người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc biện hộ việc triển khai giàn khoan, nói rằng nó đang hoạt động “hoàn toàn trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc.” Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa từ thập niên 1970, và cũng yêu sách các nguồn tài nguyên biển xung quanh những nhúm đất đá đó. Đó là một phần của cách nhìn bành trướng của Bắc Kinh về quyền chủ quyền của mình ở Biển Đông, cái gọi là “đường chín đoạn” mà chế độ hiện hành thừa hưởng từ Quốc dân đảng Trung Quốc vào lúc kết thúc cuộc nội chiến hồi cuối thập niên 1940.
Vị trí của giàn khoan HD-981.(Bản đồ và chú thích của ND)
Không chút ngạc nhiên là Công ti dầu khí quốc danh Petro Việt Nam và Bộ Ngoại giao Việt Nam đều phản đối hành động này. Bộ Ngoại giao nói rằng hành động này là một “hành vi vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam,” vì giàn khoan nằm trong vùng biển mà chỉ Việt Nam có quyền khai thác cho nguồn tài nguyên dưới đáy biển. Petro Việt Nam yêu cầu Tổng công ti dầu khí Quốc gia ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC), một công ti nhà nước khổng lồ, rút giàn khoan đi và chấm dứt hoạt động khoan ở đó trong tương lai.
Biển Đông là điểm nóng lớn nhất đối với xung đột có thể xảy ra giữa Trung Quốc và các nước láng giềng như Việt Nam và Philippines, và các nước khác; biển này vừa là đường vận chuyển thương mại quốc tế có khối lượng trị giá hàng nghìn tỉ USD vừa có tiềm năng nằm trên một mạch quặng dầu khí mẹ mà các nước nghèo năng lượng trong khu vực thèm thuồng. Manila gần đây đã kiện Bắc Kinh ở tòa án quốc tế ở The Hague về các yêu sách tranh chấp nhau đối với các đóm đất nhỏ rải rác ở Biển Đông, một phần vì họ tin rằng có trữ lượng dầu khí dồi dào ở ngoài khơi bờ biển Philippines.
Việc săn đuổi dầu khí nằm phía sau sự cố mới nhất này, ít nhất là ở bề ngoài Trung Quốc thông báo công khai vào năm 2012 rằng họ sẽ mở thầu quyền thăm dò năng lượng trong vùng biển tranh chấp, đồng thời, CNOOC cũng đã thực hiện bước đi bất thường về việc tự xây dựng giàn khoan nước sâu cho riêng mình thay vì hợp đồng để mua từ công ti chuyên cung cấp giàn khoan. Đó là một bước đi tốn kém, nhưng cần thiết mà công ti dầu khí của Trung Quốc phải thực hiện. CNOOC không muốn phải dựa vào các công ti phương Tây trong việc cung cấp thiết bị khoan cho các khu vực tranh chấp của Biển Đông vì các công ti này có thể sẽ không giao thiết bị cho CNOOC nếu nó được sử dụng vào các dự án nước sâu gây tranh cãi.
Cuối tuần qua, CNOOC đã đưa giàn khoan tới khoan ở vùng nước sâu cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lí về phía Đông, không xa chỗ mà các công ty dầu quốc tế như Exxon Mobil tìm được các mỏ khí đốt tự nhiên có tiềm năng lớn. Có vẻ như một phần không tách rời trong chiến lược của CNOOC là biến các giàn khoan thành “lãnh thổ quốc gia di động” có khả năng mở rộng chủ quyền của Trung Quốc tới các vùng biển mở.
Holly Morrow, một chuyên gia về Biển Đông tại Trung tâm Belfer của Đại học Harvard nói: “Tôi nghĩ rằng đây là chuyện dự đoán được, đó là người Trung Quốc sẽ thực sự đi ra ngoài khoan dầu” ở những khu vực tranh chấp đó.”
Leo thang rõ ràng của Trung Quốc với việc đưa giàn khoan này rất đáng ngạc nhiên vìvào năm 2011 hai nước đã kí một thỏa thuận về giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông, như họ đã làm thành công với biên giới trên biển ở Vịnh Bắc Bộ.
McDevitt nói: “Tôi nghĩ rằng thỏa thuận đó làm hạ nhiệt những lời lẽ qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc, và Trung Quốc sẽ không đi chệch con đường coi thường người Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc dường như cảm thấy họ có một lí lẽ vững chắc để đi con đường mà họ đang đi, và họ sẽ làm điều đó.”
Như một quy tắc, Mĩ không đứng về phía nào đối với việc nước nào sở hữu thứ gì trong các khu vực tranh chấp, nhưng trong những năm gần đây đã nhấn mạnh sự cần thiết là các quốc gia như Việt Nam và Trung Quốc phải dựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết các tranh chấp về quyền đối với đảo và biển ở Biển Đông. Hồi tháng 12, Ngoại trưởng John Kerry công bố một thỏa thuận giúp tăng cường Cảnh sát biển Việt Nam, phần nào giúp chống đỡ việc Trung Quốc bành trướng lãnh thổ của trong khu vực.
Các giàn khoan dầu khí là những điểm nhọn của cuộc chiến về chủ quyền, nhưng có rất nhiều sự không chắc chắn về việc khu vực này thực sự giàu năng lượng đến mức nào. Một phần, đó là vì tất cả các tranh chấp lãnh thổ đã gây trở ngại cho các cuộc điều tra quy mô lớn về trữ lượng dầu khí tiềm năng.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mĩ ước tính rằng Biển Đông có trữ lượng khiêm tốn là 11 tỉ thùng dầu và 190 nghìn tỉ mét khối khí tự nhiên. CNOOC tin rằng có thể có gấp mười lần như thế về dầu và khí đốt ở Biển Đông. Việt Nam, được hỗ trợ bởi công việc gần đây của các công ti như Exxon, cũng lạc quan về triển vọng năng lượng ở nhiều chỗ trong Biển Đông mà họ coi là của mình.
Morrow của Trung tâm Belfer nói rằng bất kể có bao nhiêu năng lượng thực sự nằm dưới đại dương, cách tiếp cận nặng tay của Bắc Kinh trong các quan hệ khu vực và thiệt hại mà họ gây ra khó có thể đáng để khai thác thêm một số thùng dầu nữa. Điều đó tạo nên giằng co thường xuyên, khiêu khích, và bờ vực chiến tranh về chủ quyền quốc gia hơn là về một cuộc tranh giành các nguồn tài nguyên.
Bà nói “Chi phí về mặt chính sách đối ngoại cho những gì họ đang làm là rất cao, và do đó vượt quá bất cứ lợi ích có được nào về an ninh năng lượng.” 
K. J.
(Bản dịch này đã đăng ở đây http://www.boxitvn.net/bai/25952)