Showing posts with label Dương Danh Huy. Show all posts
Showing posts with label Dương Danh Huy. Show all posts

Saturday, August 27, 2016

Phán quyết theo Luật Biển làm lộ chủ nghĩa dân tộc nguy hiểm của Trung Quốc

Phán quyết theo Luật Biển làm lộ chủ nghĩa dân tộc nguy hiểm của Trung Quốc

Ruling Reveals Dangerous Chinese Nationalism

Dương Danh Huy
National Interest (25/8/2016)


Phán quyết gần đây của Toà trọng tài theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) cho vụ Philippines kiện Trung Quốc đã được nhiều chính phủ đang âu lo về căng thẳng gia tăng ở biển Đông hoan nghênh. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, nó đã kích động phản đối tràn đầy.

Như dự đoán, chính phủ Trung Quốc tái khẳng định vị thế kiên định không công nhận thẩm quyền của Tòa và không chấp nhận phán quyết. Quân đội TQ bắt đầu trò chơi chiến tranh mới và công bố tuần tra trên không ở biển Đông. Một đô đốc cảnh báo Hoa Kì rằng hoạt động tư do đi lai của Mĩ có thể "thành ra tai họa", trong khi một đô đốc khác tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ dừng lại nửa chừng việc xây dựng đầy tranh cãi của họ trên quần đảo Trường Sa, và nói thêm rằng "Hải quân Trung Quốc sẵn sàng phản ứng với bất kì hành vi xâm phạm quyền hoặc gây hấn". "Quân đội Giải phóng Nhân dân đã sẵn sàng," một nguồn tin có quan hệ với quân đội Trung Quốc nói với Reuters. "Chúng tôi sẽ tiến tới đánh cho họ dập mũi như Đặng Tiểu Bình đã làm với Việt Nam hồi năm 1979."

Như thể không chịu thua kém về nhiệt tình yêu nước, tập đoàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc tuyên bố sẽ xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở biển Đông, giải thích rằng "việc xây dựng trạm điện hạt nhân biển sẽ được sử dụng giúp vào việc kiểm soát hiệu quả của Trung Quốc ở biển Đông ".

Theo tường thuật, WeChat và các microblog được đa số dân Trung Quốc sử dụng hàng ngày đã bị tràn ngập với hai hình ảnh. Một là một bức thư kêu gọi các cựu chiến binh đăng kí nhập ngũ lại, với những ý kiến tương tự nhau, "nếu có chiến tranh thì tôi sẽ trở lại mặt trận theo lệnh gọi." Hình ảnh thứ hai là bản đồ lãnh thổ của Trung Quốc có vẽ đường chín đoạn, với chú thích rằng "Đây là lãnh thổ Trung Quốc, không thể đánh mất dù một tấc đất."

Trang đầu tờ Nhân dân nhật báo tuyên bố "Chúng tôi không đòi một tấc đất nào không thuộc về chúng tôi, nhưng chúng tôi sẽ không từ bỏ mảnh đất nào vốn là của chúng tôi".

Nhiều người Trung Quốc cho rằng vụ trọng tài này là một âm mưu của Mĩ, Nhật (4 trong 5 thẩm phán do Chủ tịch Toà án Quốc tế về Luật Biển lúc đó là người Nhật bổ nhiệm) và Philippines cướp của Trung Quốc lãnh thổ có chủ quyền cũng như "quyền lịch sử" đối với 80% biển Đông. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã đi xa tới mức buộc tội các thẩm phán là đã bị tiền bạc làm lung lạc.

Tuy nhiên, khi đọc kỹ phán quyết này thì thấy rằng phần lớn ủa lời kêu ca này là sai lệch.


Không phải là một phán quyết về lãnh thổ

Thứ nhất, về vấn đề lãnh thổ, thật ra Tòa đã không đưa ra bất cứ tuyên bố nào thiệt hại dù chỉ một tấc lãnh thổ của Trung Quốc, hay lãnh thổ thuộc bất kì quốc gia khác về mặt đó, điều này là phù hợp với sự kiện là toà không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Việc quy kết mà Toà thực hiện cho Philippines liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lí, một khái niệm được định nghĩa trong UNCLOS khác với khái niệm lãnh thổ. Mặc dù Toà cũng đưa ra các quyết định đối với các rạn đá và các bãi đá nằm dưới mặt nước khi triều cao, trong luật pháp quốc tế đó không phải là "đảo" và do đó không phải lãnh thổ mà quốc gia nào có thể đòi chủ quyền đối với nó. Nói vắn tắt, Tòa không đụngchạm vào bất kì phần nào của trái đất mà về mặt luật pháp có thể là lãnh thổ của một nước nào đó. Tất cả các bên tranh chấp, cụ thể là Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines và Việt Nam, vẫn có thể tranh nhau tất cả các vùng lãnh thổ đảo mà họ có thể đã tranh  nhau trước khi có vụ kiện này.

Điều đáng chú ý là Malaysia và Việt Nam, hai nước cũng yêu sách chủ quyền toàn bộ hoặc một phần quần đảo Trường Sa, đều không phản đối hay phàn nàn rằng Tòa án đã bằng cách nào đó làm điều sai trái cho chủ quyền lãnh thổ của họ.

Thế thì tại sao Trung Quốc lại phản đối về chủ quyền lãnh thổ? Lí do đầu tiên là các yêu sách họ đưa ra hoàn toàn trái ngược với các chuẩn mực của luật pháp quốc tế, cụ thể là các yêu sách đối với các bộ phận của biển mà không một quốc gia có thể tuyên bố chủ quyền hợp pháp. Lí do thứ hai là chính phủ TQ đang cố xuyên tạc phán quyết, vốn là về EEZ, thành về chủ quyền lãnh thổ - điều này là để bênh vực quan điểm của họ rằng Tòa không có thẩm quyền phán quyết đối với vụ kiện cũng như để thúc đẩy tình cảm dân tộc, lợi dụng niềm tin tràn lan rằng người nước ngoài đã đánh cắp lãnh thổ Trung Quốc lúc nước này còn yếu.


Phán quyết là về EEZ và quyền lịch sử

Vậy chính xác là Toà quyết định điều gì về EEZ? Hai điều. Thứ nhất, khi một nước kí kết UNCLOS thì việc đó làm triệt tiêu mọi yêu sách về quyền lịch sử của nước đó trong EEZ của nước khác. Đáng chú ý là sự triệt tiêu này không bao gồm các yêu sách chủ quyền lãnh thổ đảo và các vùng biển về thuộc về chúng. Thứ hai, không có vùng lãnh thổ nào ở quần đảo Trường Sa thoả các đòi hỏi của UNCLOS để được hưởng EEZ. Những quyết định này áp dụng cho cả Philippines lẫn Trung Quốc.

Đối với quyết định của Tòa án về quyền lịch sử trong vùng EEZ của các nước khác, tình cảm dân tộc bùng phát của Trung Quốc dường như không nắm được sự kiện rằng quyết định của Toà thật ra phù hợp với vị thế của Trung Quốc về đường chín đoạn từ khi đường này được vẽ lần đầu cho đến ít nhất một vài thập kỉ trước.

Dù một số người có thể tin là Trung Quốc có "quyền lịch sử" đối với vùng biển được bao bọc trong đường đó, điều đó chỉ đơn giản là lịch sử nguỵ tạo, mới được nguỵ tạo về điều đó. Lúc đương nhiệm, Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) Mã Anh Cử (Ma Ying-jeou) đã tuyên bố rằng khi chính phủ Quốc Dân Đảng của Trung Hoa lần đầu chấp nhận đường đó vào năm 1947, đường đó có ý mô tả một yêu sách đối với các đảo mà nó bao quanh, chứ không phải yêu sách về quyền đối với vùng biển và đáy biển. Sau đó Trung Quốc giữ nguyên lập trường ban đầu này qua việc thừa nhận công ước Vienna về lãnh hải và thềm lục địa trong thập niên 1950. Đáng nói là trong các thập kỉ 1960 và 1970, khi Indonesia, Malaysia, Philippines và Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền với các phần khác nhau của thềm lục địa trong phần phía Nam của biển Đông, những phần kéo dài tới ngay bên trong đường chín đoạn, cả Trung Quốc lẫn THDQ đều không phản đối.

Suốt các cuộc đàm phán UNCLOS III kết thúc vào năm 1982, Trung Quốc là nướcủng hộ mạnh mẽ chế độ đặc quyền kinh tế 200 hải lí cho các quốc gia ven biển, và họ chưa bao giờ đưa ra khái niệm về quyền lịch sử đối với các vùng biển và đáy biển bên trong đường chín đoạn. Một số học giả Trung Quốc nhận ra điều này và cho rằng vào lúc đó, Trung Quốc quên mất về quyền lịch sử. Biết rằng vào lúc đưa ra đường chín đoạn không phải là một yêu sách về quyền đối với khoảng biển, và cho đến các cuộc đàm phán UNCLOS III Trung Quốccũng chưa bao giờ khẳng định quyền đó, sẽ chính xác hơn khi nói rằng Trung Quốc vẫn chưa sáng chế ra các quyền này hơn đã quên mất chúng đi.

Mãi cho đến năm 1992, Trung Quốc mới đưa ra yêu sách đầu tiên đối với thềm lục địa ở phần phía Nam của biển Đông, khi họ kí hợp đồng ủy quyền cho Crestone, một công ty Mĩ, khai thác dầu trong vùng bãi Tư Chính (Vanguard Bank). Như vậy năm 1992 là năm mà khái niệm về "quyền lịch sử" của Trung Quốc đối với đáy biển bên trong đường chín đoạn được hình thành lần đầu. Bằng chứng có ý chứng tỏ "lịch sử có từ thời xa xưa" về những quyền đó đã được nguỵ tạo sau sự thai nghén năm 1992 này.

Nói một cách đơn giản, tình cảm dân tộc chủ nghĩa tràn trề cho "quyền lịch sử" đối với khoảng biển bên trong đường chín đoạn là kết quả của niềm tin phổ biến nhưng sai lầm rằng Trung Quốc đã yêu sách và thực thi các quyền đó ít nhất là từ năm 1947.

Ngoài sự việc là lịch sử nguỵ tạo không có sức nặng pháp lí, một khi mà một nước đã tự nguyện kí kết một hiệp ước với hầu hết phần còn lại của thế giới, và đã được hưởng lợi từ hiệp ước đó thì nước đó không thể xé bỏ nó và sáng chế ra cái gì khác mà mình họ tự nghĩ là tương xứng hơn với sự phát triển hải quân của mình.

Với quan điểm của Tòa về "quyền lịch sử", quyết định của Toà rằng không có thể địa lí nào của quần đảo Trường Sa được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế là rất trọng yếu. Nếu không có quyết định này, ngay cả với lập luận về "quyền lịch sử" bị bác bỏ, Trung Quốc sẽ vẫn có thể vẫn giữ được một vỏ bọc về tính hợp pháp cho các yêu sách biển quá mức của họ bằng cách lập luận rằng quần đảo Trường Sa thuộc về họ và quần đảo này được hưởng EEZ 200 hải lí. Trớ trêu là tình cảm dân tộc tràn đầy này chỉ đổ vào "lãnh thổ" và "lịch sử", nhưng không đếm xỉa chút nào tới quyết định này .

Luật pháp quốc tế ở ghế sau

Điều thú vị là rất hiếm học giả của đất nước đông dân nhất thế giới này đưa ra công chúng Trung Quốc một cách nhìn khác. Khi đường lối chính thức của Bắc Kinh là rất nghiêm ngặt thì học giả nào nói khác đi sẽ là tự sát về chuyên môn. Do vậy, hầu hết phân tích của Trung Quốc chỉ lặp lại những kể lể chính thức và thổi bùng thêm ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc.

Khi một đất nước theo đuổi hết sức cứng nhắc và hoàn toàn theo phiên bản luật quốc tế của riêng mình thì việc họ tuyên bố rằng vị thế và hành vi của mình phù hợp với luật pháp quốc tế theo cách chung chỉ là nói suông. Khi xét cùng với sóng triều quyền lực và chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy của Trung Quốc, quả là một điều đáng lo là ngay cả các luật sư quốc tế của Trung Quốc cũng tỏ ra coi thường phán quyết của tòa trọng tài quốc tế.

Hiện giờ, chủ nghĩa dân tộc đang ngồi ở vị trí cầm lái quyền lực của Trung Quốc và không có dấu hiệu nào trong phản ứng của nước này đối với vụ kiện cho thấy rằng việc sử dụng quyền lực đó để theo đuổi lợi ích quốc gia của họ, đặc biệt không chỉ ở biển Đông mà còn ở những nơi khác, sẽ được kiềm chế bởi một ý thức công bằng rút ra từ luật pháp quốc tế, hoặc qua việc tôn trọng các chuẩn mực quốc tế.


Dương Danh Huy là một nghiên cứu viên cao cấp không thường trú của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết của ông xuất hiện trên báo chí chính thức tại Việt Nam và Philippines, trên trang mạng của BBC, CogitASIA, Yale Global, RSIS Commentaries, The Diplomat, East Asian Forum và các trang mạng khác.

Saturday, January 25, 2014

Có thể lấy lại HS theo những cách này?

Lấy lại Hoàng Sa: Những điều bất khả thi


Chính phủ Việt Nam vẫn dè dặt trong việc kỷ niệm tử sỹ Hoàng Sa
Kỷ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa đã nhắc lại vết thương mất lãnh thổ chưa lành của người Việt.

Nhưng trong số đó có một số ý tưởng không khả thi:
Vết thương đó đã đem lại nhiều bức xúc trong 40 năm qua, và đã có một số ý tưởng cho việc giành lại Hoàng Sa hoặc củng cố lập luận pháp lý của Việt Nam.

1: Kiên trì đàm phán với Trung Quốc.

Trung Quốc chủ trương không đàm phán về chủ quyền đối với các đảo Trường Sa. Đối với Hoàng Sa, Trung Quốc còn không công nhận là có tranh chấp. Hiện nay không có việc đàm phán cho vấn đề chủ quyền đối với đảo, do đó ý tưởng kiên trì đàm phán về vấn đề chủ quyền đối với đảo là kiên trì trong một việc không hiện hữu, và sẽ không đi đến đâu.
Giả sử các bên trong tranh chấp có đàm phán về chủ quyền đối với đảo đi nữa, cũng khó mà Trung Quốc sẽ trả dù chỉ là một phần các đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. Ở Trường Sa, nếu có đàm phán, không nước nào sẽ chấp nhận mình không được đảo nào. Khó có chính phủ Philippines, Trung Quốc hay Việt Nam nào dám đối đầu với dư luận trong nước của họ để chấp nhận không giành được phần lớn các đảo. Vì vậy, dù các bên có kiên trì đàm phán thì cũng khó giải quyết tranh chấp đảo.
Việc đưa tranh chấp đảo cho một tòa án quốc tế phân xử sẽ là khách quan nhất. Nó cũng là một lối thoát để cho các chính phủ đi đến một giải pháp trong khi tránh búa rìu dư luận trong trường hợp giải pháp đó không được như yêu sách ban đầu.

2: Đơn phương kiện Trung Quốc như Philippines

"Việc kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là rất khác với việc Philippines kiện Trung Quốc."
Việc kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là rất khác với việc Philippines kiện Trung Quốc.
Việc Philippines có thể đơn phương kiện Trung Quốc là dựa trên việc thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho phép Tòa thụ lý một số vấn đề liên quan đến việc giải thích UNCLOS cho tranh chấp biển và thềm lục địa, mặc dù Trung Quốc đã bảo lưu theo Điều 298 của UNCLOS, và cho dù Trung Quốc có vắng mặt. Nhưng những vấn đề đó không bao gồm phân xử chủ quyền đối với đảo. Vì vậy, không nước nào có thể dùng thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS để đơn phương kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với đảo.
Bên cạnh đó, ngoài thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS hiện nay không có cách nào khác để chúng ta đơn phương kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với đảo. Đối với vấn đề chủ quyền, Tòa chỉ có thể thụ lý nếu tất cả các bên chấp nhận thẩm quyền của Tòa.
Vì vậy, hiện nay chưa có điều kiện để ra tòa về vấn đề chủ quyền đối với đảo. Điều Việt Nam cần làm là công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa. Mặc dù Trung Quốc sẽ không chấp nhận, điều đó sẽ cho thế giới thấy Trung Quốc là bên sợ lẽ phải và cản trở việc giải quyết tranh chấp.

3: Tuyên bố thừa kế di sản VNCH


Hơn 70 quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã tử trận trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa 40 năm trước
Ý tưởng này là quan điểm cho rằng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) chưa từng thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và bây giờ phải tuyên bố thừa kế “di sản Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)” thì mới thừa kế. Nó còn có thể bao gồm cả CHXHCNVN cần tuyên bố cắt đứt với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) để vô hiệu hóa những điều bất lợi về Hoàng Sa, Trường Sa.
Ý tưởng này không có cơ sở trong luật quốc tế.
Tòa sẽ đặt vấn đề: sau khi CHXHCNVN được thành lập như một quốc gia vào năm 1976 thì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào? Nếu phía Việt Nam cho rằng vào năm 1976 CHXHCNVN chưa thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng đã thừa kế khi tuyên bố thừa kế “di sản VNCH”, thí dụ như vào năm 2014, câu chuyện Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam sẽ bị kết liễu.
Lý do là nếu vào năm 1976 CHXHCNVN chưa thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và không những thế cho đến năm 2014 vẫn chưa thừa kế, thì chủ quyền đó sẽ rơi vào tay một trong những quốc gia khác đã đòi chủ quyền từ trước 1976.
Ý tưởng sai lầm rằng từ năm 1976 đến 2014 CHXHCNVN không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa có nghĩa Tòa sẽ khó tránh kết luận trong thời gian đó chủ quyền đã rơi vào tay Trung Quốc hoặc Philippines. Giả sử như năm 2014 CHXHCNVN có tuyên bố “thừa kế di sản VNCH” đi nữa, Tòa cũng sẽ khó tránh kết luận rằng đến 2014 thì chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc về Trung Quốc hoặc Philippines từ trước rồi, không còn để cho CHXHCNVN thừa kế nữa.
Ý tưởng sai lầm đó có nghĩa kết liễu chủ quyền Việt Nam vào năm 1976 với hứa hẹn làm cho nó tái sinh sau hơn 35 năm bằng cách tuyên bố “thừa kế di sản VNCH”, một hứa hẹn sẽ không bao giờ hiện thực
Ý tưởng đó cũng là ngược với thực tế. Trên thực tế, gần như không nước nào trên thế giới cho rằng CHXHCNVN chưa thừa kế vùng lãnh thổ hay quyền chủ quyền nào đó từ VNCH, gián tiếp qua CHMNVN, kể cả những khu vực có tranh chấp với Lào, CPC, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, thậm chí cả với Trung Quốc. Không có lý do hợp lý để cho người Việt lại cho rằng Việt Nam chưa từng thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Ý tưởng cần tuyên bố cắt đứt với VNDCCH nhằm vô hiệu hóa những điều bất lợi về Hoàng Sa, Trường Sa cũng không có cơ sở trong luật quốc tế. “Cắt đứt” với VNDCCH, một chính thể vốn không còn tồn tại, hay không là một vấn đề nội bộ của Việt Nam. Việc chủ quyền pháp lý trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về nước nào là một vấn đề luật pháp quốc tế. Luật quốc tế không công nhận việc tuyên bố cắt đứt trong nội bộ hay với quá khứ để đơn phương hủy bỏ nghĩa vụ pháp lý (nếu có) giữa các quốc gia.
Để Việt Nam ngày nay hay trong tương lai có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, chỉ có hai trường hợp: CHXHCNVN phải có chủ quyền đó ngay từ 1976, nếu không thì Trung Quốc và Philippines phải có hành vi bị cho là từ bỏ danh nghĩa hay yêu sách chủ quyền của họ. Sẽ khó có trường hợp thứ nhì, do đó chúng ta phải chứng minh được trường hợp thứ nhất.

Ý tưởng 4: Tuyên bố hủy công hàm Phạm Văn Đồng


Công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng vẫn còn là điều gây tranh cãi
Đây là một biện pháp bất lợi cho Việt Nam.
Hiện nay câu hỏi “CHPVĐ có gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho CHXHCNVN liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa hay không?” là một vấn đề còn tranh cãi. Nếu Quốc hội Việt Nam chính thức tuyên bố hủy CH đó, thì tuyên bố đó có thể bị cho là gián tiếp công nhận rằng nó có gây ra nghĩa vụ pháp lý cho CHXHCNVN có cho tới ngày nó bị hủy - vì nếu nó không gây ra nghĩa vụ pháp lý nào cho CHXHCNVN thì tại sao cần hủy?
Sự công nhận gián tiếp đó là bất lợi cho Việt Nam. Hơn nữa, nếu Việt Nam gián tiếp công nhận rằng CHPVĐ đã gây ra một nghĩa vụ ràng buộc cho Việt Nam đối với Trung Quốc, thí dụ như cho đến 2014, thì luật quốc tế cũng không công nhận việc Việt Nam đơn phương hủy nghĩa vụ đó. Như vậy Việt Nam sẽ tự bước vào một cái bẫy và sẽ không thoát ra được.
***
Tóm lại, Việt Nam cần công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa,cũng như cần lập luận rằng CHXHCNVN đã có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa ngay từ 1976 và CHPVĐ đã không làm cho mất chủ quyền đó vào tay Trung Quốc. Nếu không bảo vệ thành công quan điểm đó thì bây giờ có tuyên bố thừa kế, cắt đứt, hủy, cũng sẽ vô tác dụng. Nếu bây giờ tuyên bố thừa kế, cắt đứt, hủy, thì chỉ có thể phản tác dụng.
Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, thành viên nhóm Nghiên cứu Biển Đông và có sự góp ý của Phạm Thanh Vân.

Tuesday, January 14, 2014

Ý chí, kiến thức và hành động [cho việc giành lại Hoàng Sa]

Ý chí, kiến thức và hành động

(nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140112/y-chi-kien-thuc-va-hanh-dong.aspx)

“… Mặc dù việc giành lại Hoàng Sa là rất khó khăn, hiện nay người duy nhất có thể làm cho chúng ta mất chủ quyền là chính chúng ta”. Tiếp tục chuyên đề 40 năm Hải chiến Hoàng Sa, Thanh Niên Online xin giới thiệu bài viết của tiến sĩ Dương Danh Huy, một nhà nghiên cứu Biển Đông sống tại Anh.

Chuyên đề 40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Ý chí, kiến thức và hành động
Bãi Xà Cừ (phải) trong nhóm Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa - Ảnh Google Maps

Cần loại bỏ những quan niệm lệch lạc và hão huyền
Cho tới nay Trung Quốc đã chiếm đóng nhóm An Vĩnh thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 60 năm, và đã đánh chiếm nhóm Lưỡi Liềm (còn gọi Nguyệt Thiềm), tức là đã xâm lăng toàn bộ Hoàng Sa, 40 năm.
Có quan niệm cho rằng bị một nước mạnh hơn chiếm đoạt lãnh thổ, nhất là sau bấy nhiêu năm, thì coi như là đã mất chủ quyền, chúng ta hãy chấp nhận và quên đi. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà một trong những niềm tự hào đáng kể nhất chúng ta có là tinh thần quật cường chống ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ, thì quan niệm đó có sai sót. Nếu so sánh với các dân tộc khác thì cũng khó tự hào về quan niệm đó. Thí dụ, người Tây Ban Nha sau nhiều thế kỷ vẫn đòi chủ quyền đối với Gibraltar, người Argentina sau vài thế kỷ vẫn khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Falklands/Malvinas. Không những thế, quan niệm đó là không phù hợp với thế giới hiện đại hay với việc Hiến chương Liên Hiệp Quốc không cho phép thụ đắc chủ quyền lãnh thổ bằng bạo lực. Mặc dù Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa bằng bạo lực, theo luật quốc tế thì chủ quyền vẫn thuộc về Việt Nam trừ phi chúng ta bị cho là đã bỏ rơi chủ quyền đó.
Ngược lại, cũng có quan niệm cho rằng tới ngày nào Trung Quốc bị loạn lạc thì chúng ta sẽ đánh chiếm lại Hoàng Sa. Thứ nhất, quan niệm đó là hoang tưởng. Không biết tới ngày nào thì Trung Quốc mới loạn lạc đủ để cho chúng ta có thể chiếm lại và giữ Hoàng Sa. Thứ nhì, tư duy “chờ sung rụng” đó chỉ làm cho chúng ta thụ động thêm, với hệ quả là Hoàng Sa ngày càng xa thêm.
Chúng ta cũng phải biết rõ về những khó khăn thực tế trong việc giành lại Hoàng Sa. Giải pháp quân sự là không thể, giả sử như nếu có thể thì chắc chắn sẽ là rất đắt, và đó là chưa nói đến trên nguyên tắc thì sẽ không phù hợp với thế giới văn minh. Trong tương lai có thể thấy được, giải pháp ngoại giao song phương với Trung Quốc cho Hoàng Sa chỉ là hy vọng hão huyền.
Dựa vào chính mình
Giải pháp ngoại giao đa phương cho Hoàng Sa cũng vô cùng khó khăn. Trong khi thế giới có thể phê phán Trung Quốc về chủ trương hiện thực hóa đường chữ U trên Biển Đông, và trong khi một số nước trong khu vực có thể phản đối các động thái của Trung Quốc trong khu vực Trường Sa, thì đối với Hoàng Sa chủ yếu là Việt Nam sẽ đơn độc trong cuộc đối kháng với Trung Quốc. Trong tranh chấp đảo, các nước bên thứ ba thường không quan tâm về lý lẽ chủ quyền của các bên trong tranh chấp, và thường chọn vị trí trung lập. Vì vậy, không có nước bên thứ ba nào lên án việc Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực. Trung Quốc cũng không bị nước bên thứ ba nào lên án khi họ tăng cường đàn áp ngư dân Việt Nam từ năm 2009 nhằm đẩy các ngư dân này ra khỏi vùng biển Hoàng Sa. Trong tương lai, khi Trung Quốc xây cất thêm trên đảo và khai thác khoáng sản trong vùng biển Hoàng Sa, khả năng là Việt Nam sẽ đơn độc trong phản đối. Không những thế, không loại bỏ được khả năng trong tương lai các nước ASEAN khác sẽ gây áp lực đòi Việt Nam rút vấn đề Hoàng Sa xuống khỏi bàn nghị sự, để cho ASEAN có thể đi đến thỏa thuận nào đó với Trung Quốc về những tranh chấp khác.
Vì Trung Quốc không chấp nhận để cho bất cứ tòa án quốc tế nào phân xử tranh chấp Hoàng Sa, hiện nay cũng không có điều kiện cho giải pháp pháp lý.
Tóm lại, chúng ta không thể nào dựa vào niềm tin Trung Quốc sẽ đàm phán về Hoàng Sa và sẽ có nhượng bộ, và cũng không thể dựa vào niềm tin các nước khác sẽ hỗ trợ chúng ta nhiều. Điều chúng ta cần phải nhìn nhận là trong vấn đề Hoàng Sa chúng ta phải dựa vào chính mình hơn cả so với trong những tranh chấp biển đảo khác.
Dựa vào chính mình không thể là dựa vào ngư dân kiên trì bám biển Hoàng Sa. Ngư dân và gia đình của họ là những con người bằng da bằng thịt. Dù dũng cảm đến bao nhiêu, họ khó có thể chịu đựng mãi tình trạng tàu thép và đạn đồng Trung Quốc đè người. Có thể một ngày nào đó họ sẽ không còn bám biển Hoàng Sa nổi nữa.
Dựa vào chính mình là mỗi người chúng ta, từ cá nhân đến nhân viên nhà nước và lãnh đạo cao nhất, phải làm điều đúng và đúng với nghĩa vụ của mình để làm cho đất nước tốt hơn. Đất nước càng tốt thì khả năng đấu tranh cho Hoàng Sa càng cao. Chúng ta không quên rằng việc Trung Quốc chiếm nhóm An Vĩnh, Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa, cũng như một số đảo của quần đảo Trường Sa, đã xảy ra trong những ngày tháng khó khăn của Việt Nam.
Dựa vào chính mình cũng là nhà nước và người dân quan tâm phải làm những gì cần thiết và có thể trong những gì liên quan trực tiếp đến Hoàng Sa.
Ý chí và kiến thức
Điều cần thiết để chúng ta bảo vệ chủ quyền Việt Nam, cần thiết cho danh dự của mỗi người chúng ta, cũng như cho nghĩa vụ vủa chúng ta với các thế hệ trong tương lai, là ý chí, kiến thức và những hành động cần thiết.
Về ý chí, chúng ta phải giữ vững ý chí của mình, và phải giáo dục cho thế hệ sau giữ vững ý chí của họ. Chúng ta cần phải xây dựng một ý chí quốc gia về Hoàng Sa. Thế nhưng có lẽ trong 40 năm qua Hoàng Sa vẫn chưa có vị trí xứng đáng trong nền giáo dục, tâm thức của chúng ta. Nếu chúng ta quan niệm rằng 40, 60 hay 100 năm là quá lâu thì chúng ta có thể noi gương những dân tộc khác vẫn giữ vững ý chí của họ về đòi lại lãnh thổ, dù là sau hàng trăm năm.
Kiến thức về lịch sử và địa lý Hoàng Sa sẽ làm cho Hoàng Sa gần gũi với chúng ta hơn, và sẽ giúp cho chúng ta giữ vững ý chí. Chúng ta sẽ thấy Hoàng Sa không phải là những đảo xa vô nghĩa mà là những kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp, với xương máu của tổ tiên và thế hệ cha, anh.
Kiến thức pháp lý sẽ là cần thiết để chúng ta tranh biện về Hoàng Sa trên các diễn đàn học thuật, chuyên gia và truyền thông quốc tế, và hy vọng một ngày nào đó sẽ là trước một tòa án quốc tế. Chúng ta không nên chủ quan rằng thế giới sẽ thấy một cách dễ ràng rằng chính nghĩa là thuộc về ta, mà chúng ta phải xây dựng khả năng tranh biện ở mức cao nhất, và phải bỏ công sức ra để tranh thủ dư luận. Đặc biệt, chúng ta phải xử lý một cách triệt để những nghi vấn phía đối phương có thể đặt ra cho lập luận của chúng ta. Như một thí dụ, việc Pháp tạm im lặng một thời gian khi tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn phái Lý Chuẩn đem pháo thuyền đến Hoàng Sa tuyên bố chủ quyền năm 1909 có ảnh hưởng gì đến chủ quyền Việt Nam hay không? Hay là, khi Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại thì chính thể đó có phải là một chủ thể trong luật quốc tế có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền lãnh thổ, và bao gồm cả đối với Hoàng Sa, hay không?
Làm đúng với nhiệm vụ và biến sự quan tâm thành công việc
Về mặt đối nội thì nhà nước cần có chính sách để xây dựng ý chí, kiến thức và khả năng tranh biện, tranh thủ dư luận quốc tế. Về mặt đối ngoại thì nhà nước cần có chính sách hiệu nghiệm để duy trì chủ quyền và giữ cho thế giới không quên rằng Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền, để cho thế giới không ứng xử như thể Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Tuy Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ các đảo 40 năm, họ chỉ mới bắt đầu tiến hành siết chặt sự kiểm soát trong vùng biển lân cận từ năm 2009. Trong những năm tới, họ sẽ tiếp tục siết chặt thêm sự kiểm soát và mở rộng vùng họ kiểm soát như vết dầu loang. Điều đó có nghĩa nhiệm vụ của chúng ta đối với Hoàng Sa không chỉ là duy trì chủ quyền để một này nào đó có thể giành lại sự quản lý đã mất trên đảo, mà còn là đấu tranh để chống lại nỗ lực của Trung Quốc để siết chặt và bành trướng sự kiểm soát trên biển.
Dựa vào chính mình cũng là dùng những phương tiện mình có. Như một thí dụ, vì Trung Quốc hoàn toàn không đếm xỉa đến các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam liên quan đến chủ quyền đối với Hoàng Sa, Việt Nam nên công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa. Mặc dù chắc chắn Trung Quốc sẽ không chấp nhận ra tòa, việc đó cũng làm cho thế giới thấy họ sợ lẽ phải và dựa vào bạo lực. Nếu Trung Quốc thật sự tin rằng không tồn tại tranh chấp Hoàng Sa, họ cần dũng cảm để cho tòa xét có tồn tại tranh chấp hay không.
Đối với các cá nhân thì người quan tâm nên vừa đặt vấn đề nhà nước có thể làm gì cho Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông, vừa đặt vấn đề bản thân mình có thể làm gì. Nhà nước thi hành đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Hoàng Sa là cần thiết, nhưng không đủ. Sự quan tâm của người dân là cần thiết, nhưng không đủ. Nói cho nhau nghe Hoàng Sa là của Việt Nam là cần thiết nhưng không đủ. Phải có đủ người quan tâm biến sự quan tâm của mình thành sự sáng tạo, công sức, hành động, hay thành những đóng góp khác cho tranh chấp Hoàng Sa, nhất là trên trường quốc tế.
Mặc dù Trung Quốc đã xâm chiếm một phần của Hoàng Sa khoảng 60 năm, và phần còn lại 40 năm, mặc dù việc giành lại Hoàng Sa là rất khó khăn, hiện nay người duy nhất có thể làm cho chúng ta mất chủ quyền là chính chúng ta. Và chúng ta phải giữ vững ý chí và duy trì chủ quyền đó bằng kiến thức và hành động, bằng cách làm đúng với nhiệm vụ của mình, và bằng cách biến sự quan tâm thành đóng góp thiết thực.
Trong trận hải chiến Trafalgar, khi hạm đội Anh đối đầu với hạm đội phối hợp Pháp - Tây Ban Nha mạnh hơn, đô đốc Anh Horatio Nelson đã giăng lên soái hạm một khẩu hiệu không lời hay chữ đẹp, chỉ với câu “Nước Anh mong đợi mỗi người sẽ làm nhiệm vụ của mình”. Trong bối cảnh tranh chấp Hoàng Sa nói riêng, và bối cảnh của đất nước nói chung, Việt Nam cần mỗi người chúng ta làm đúng với nhiệm vụ và sự quan tâm của mình để cho đất nước tốt hơn, cũng như về những gì liên quan trực tiếp đến tranh chấp biển đảo.
Dương Danh HuyQuỹ Nghiên cứu Biển Đông