Saturday, January 31, 2015

Bill Hayton - BIỂN ĐÔNG (Chương 3: Nguy hiểm và Ranh Ma 1946-1995)

Chương 3

Nguy hiểm và Ranh Ma*: 1946-1995

(Danger and Mischief: 1946 to 1995)
Bill Hayton

NGAY SAU kết thúc Thế chiến thứ hai, trong hơn một năm không có đảo nào thuộc Quần đảo Hoàng Sa hoặc Quần đảo Trường Sa bị nước nào chiếm đóng và kiểm soát. Nhưng 50 năm sau, hầu hết đều bị chiếm đóng. Không phải chỉ có một trận chiến duy nhất để kiểm soát cũng như không phải quá trình chuyển đổi diễn ra chậm và đều; có những giai đoạn dữ dội vào năm 1946, năm 1956, đầu thập niên 1970, năm 1988 và 1995 khi hành động của một bên thường gây ra phản ứng từ những bên khác. Mỗi lần, việc chiếm đóng ban đầu đều được thúc đẩy bởi một mục đích cụ thể - về tính chính đáng dân tộc, lợi thế chiến lược hay phần thưởng kinh tế - nhưng không lần nào đạt được các kết quả mong đợi.

Mục đích của Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek) là sử dụng các đảo này để tăng cường sự lãnh đạo của ông khi đối mặt với những bước tiến của các lực lượng cộng sản. Ông thấy ra một cơ hội để chứng minh ông xứng đáng cai trị Trung Quốc bằng cách đứng lên chống người phương Tây đã từng tàn phá đất nước. Trong những tháng cuối năm 1946 chính phủ của ông phái các tàu chiến Mĩ hết hạn hoạt động mới được tặng để đòi chủ quyền của Trung Quốc. Đối thủ của ông là một thầy tu chuyển thành đô đốc hải quân, Georges Thierry d'Argenlieu. Đô đốc d'Argenlieu đã phục vụ xuất sắc nước Pháp trong Thế chiến thứ nhất nhưng sau đó nhận lấy giày áo theo phẩm trật tu viện Công giáo. Ông cũng phục vụ xuất sắc phẩm trật này, trở thành người đứng đầu nó tại Pháp. Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 1939, khi đất nước phải đối mặt với mối đe dọa Đức xâm lược, cha d'Argenlieu đã treo áo thầy tu, trả mục vụ lại cho Caesar và gia nhập lại hải quân.

D'Argenlieu đã thăng tiến qua các cấp bậc cao trong lực lượng Pháp tự do, làm phái viên của tướng de Gaulle và chỉ huy công tác về các thuộc địa còn lại của Pháp ở châu Phi và châu Á. Tiếp theo các khen tặng và thăng chức vào giữa tháng 8 năm 1945 de Gaulle giao ông ta chịu trách nhiệm khôi phục lại quyền kiểm soát của Pháp ở Đông Dương. Thuộc địa này đang trong tình trạng hỗn loạn: Nhật đầu hàng, tiếp sau là cuộc cách mạng do Cộng sản lãnh đạo và Hồ Chí Minh trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà ông tuyên bố ngày 2 tháng 9. Trong khi đó các đơn vị của Trung Quốc bắt đầu di chuyển vào phía Bắc, cùng lúc đó quân đội Anh đã đổ quân xuống ở phía Nam. Người Anh sử dụng quân đội Nhật Bản để dập tắt các cuộc cách mạng địa phương và bàn giao thuộc địa cho d'Argenlieu. Đô đốc không phải là nhà thần học giải phóng. Trong bộ quân phục, niềm tin chủ đạo của ông là việc toàn tâm toàn ý cống hiến cho đế quốc Pháp.[1] Khôn ngoan nhưng cực kì bảo thủ, một nhà phê bình đã nói đùa rằng ông có bộ óc sáng láng nhất của thế kỉ mười hai.[2]

Trong suốt năm 1945 và 1946 d'Argenlieu cố hết sức mình để làm suy yếu cả những nhà yêu nước Việt Nam lẫn các nhà chính trị ở Paris ủng hộ thỏa hiệp với họ. Cuộc đàm phán khó khăn xảy ra sau đó giữa d'Argenlieu, chính phủ Pháp, những nhà yêu nước của Hồ Chí Minh và chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc. Pháp và Việt Nam đều muốn Trung Quốc rời đi nhưng không thể đồng ý về nhiều điều khác. D'Argenlieu thậm chí không dùng từ ‘Việt Nam’, thích dùng cái tên thực dân ‘An Nam’ hơn.[3] Tình hình chính trị trở nên tồi tệ hơn khi d'Argenlieu theo đuổi kế hoạch riêng của mình. Tháng 6 năm 1946, ông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nam Kì đối lại, phá tan hi vọng của Paris về một thỏa hiệp hòa bình với ‘Việt Nam’ của Hồ Chí Minh. Giữa những đấu đá nội bộ, số phận của Quần đảo Hoàng Sa, vài trăm cây số ngoài khơi bờ biển, trượt ra khỏi chương trình công tác.

Không giống như Quần đảo Trường Sa nổi tiếng hơn, hầu hết các phần của Quần đảo Hoàng Sa là đảo thật: đủ khô ráo để duy trì sự sống con người. Chúng nằm cách đảo Hải Nam khoảng 350 km về phía Nam và cách Đà Nẵng cũng gần như vậy về phía Đông và đã được các ngư dân và cướp biển từ các bờ biển Trung Quốc và Việt Nam và ở xa hơn sử dụng trong nhiều thế kỉ. Quần đảo Hoàng Sa được chia thành hai cụm. Nhóm An Vĩnh (Amphitrite) phía Tây Bắc (đặt tên theo con tàu của Pháp đã phát hiện ra chúng năm 1698)[4] có 6 đảo (bao gồm các đảo có tên hình tượng là đảo Phú Lâm [Woody], đảo Đá [Rocky] và đảo Cây [Tree] cùng với các đảo Nam, Trung và Bắc). Đảo lớn nhất, Phú Lâm, dài gần 2 km và rộng chỉ hơn 1 km. Đảo thứ bảy, Linh Côn (Lincoln), đôi khi được gôm vào nhóm này. Nhóm Trăng Khuyết (Crescent) nằm cách An Vĩnh 64 km về phía Tây Nam và chứa thêm 7 đảo: Hoàng Sa (Pattle) và Hữu Nhật (Robert) là quan trọng nhất. Những đảo khác là: Tri Tôn (Triton), Quang Hoà (Duncan), Quang Ảnh (Money), Duy Mộng (Drummond) và Bạch Quy (Passu Keah). Trong chiến tranh lính Pháp, lính An Nam và sau đó là lính Nhật đã chiếm đóng các đảo này đôi khi vào cùng một lúc. Nhưng vào cuối năm 1945 chúng đều đã trống không.

Một năm sau đó, tin đồn Trung Quốc có kế hoạch sáp nhập quần đảo này lan tới Paris và vào ngày 22 tháng 10 năm 1946 bộ trưởng Bộ Pháp Hải Ngoại ra lệnh d'Argenlieu phái một đơn vị ra chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa. D'Argenlieu lờ đi và thay vì vậy quyết định dạy cho các nhà yêu nước Việt Nam một bài học vì dám chống lại chính quyền Pháp. Ngày 23 tháng 11 năm 1946, sau cuộc đụng độ giữa lực lượng Pháp và Việt tại cảng Hải Phòng, d'Argenlieu ra lệnh cho tàu tuần dương Suffren và 4 tàu khác nã pháo vào thành phố. Việc bắn phá này đã san bằng một số khu vực và làm khoảng 6 000 người Việt thiệt mạng. Việc trả đũa không xảy ra quá lâu. Ngày 19 tháng 12, nổ ra việc người Pháp và các quân nổi dậy Việt đánh nhau trên đường phố Hà Nội. Giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến tranh Việt Nam đã bắt đầu. Nếu như d'Argenlieu phái tàu Suffren tới Quần đảo Hoàng Sa theo lệnh của Paris thì lịch sử có thể đã khác đi.

D'Argenlieu bấy giờ quá bận rộn với cuộc chiến mà ông mới vừa phát động đến mức ông đã từ chối một yêu cầu nữa từ Paris là phải chiếm Quần đảo Hoàng Sa không được chậm trễ, bằng cách nại lí do thời tiết xấu. Nhà sử học Stein Tønnesson đã lần theo dấu vết những gì xảy ra tiếp theo. Thời tiết đã không làm sứt mẻ tham vọng của Tưởng Giới Thạch. Chính phủ Trung Hoa của ông đã phái tàu chiến mới tới Biển Đông. Ngày 4 tháng 1 năm 1947, các tàu quét mìn Vĩnh Hưng [Yongxing] (trước đây là USS Embattle) và Trung Kiện [Zhongjian] (trước đây là USS LST-716) đã cho khoảng 60 lính Trung Quốc đổ bộ lên đảo Phú Lâm. Tới lúc này, cuối cùng d'Argenlieu mới điều một phái đoàn lên tàu Tonkinois. Khi người Pháp đến, sau người Trung Quốc hai tuần, trưởng đoàn của họ đã cố thử hối lộ - và sau đó ép buộc – người Trung Quốc rời đi, thậm chí nổ súng lên trời.[5] Người Trung Quốc vẫn từ chối và một tranh cãi ngoại giao bùng nổ dữ dội giữa hai chính phủ. Pháp xuống nước và ra lệnh cho tàu của mình chạy đi và triển khai binh lính lên đảo Hoàng Sa (Pattle) trong nhóm Trăng Khuyết thay thế. Trung Hoa Quốc Dân đảng giành chiến thắng và Pháp chỉ có thể đứng nhìn.

Dù các lập luận lịch sử và pháp lí về chủ quyền của Quần đảo Hoàng Sa kéo lùi lại rất xa trước năm 1947, có khả năng là nếu như d'Argenlieu đã làm theo chỉ thị và chiếm đóng đảo Phú Lâm trước khi Trung Quốc ra tay thì đến nay quần đảo này vẫn còn nằm trong tay Việt Nam. Trong vòng 6 tuần lúc đó, sự lựa chọn ưu tiên hiếu chiến của đô đốc d’Argenlieu đã khiến Việt Nam trả giá bằng ba thập niên chiến tranh cùng với một cuộc đối kháng dai dẳng với Trung Quốc về số phận của Quần đảo Hoàng Sa. Chính phủ Pháp đã giận dữ và ngay sau đó đã cách chức d'Argenlieu. Trong khi cuộc chiến do ông khởi xướng trở nên dữ dội, ông trở về với Thiên Chúa và các tu sĩ Cát Minh. Ông đã sống những năm còn lại của cuộc đời mình với phẩm trật đó, cuối cùng mất vào năm 1967 tại một tu viện ở Bretagne.

Sau tháng 1 năm 1947, hai bên tranh chấp đối địch chiếm đóng hai nửa của Quần đảo Hoàng Sa: Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Phú Lâm và Việt- Pháp trên đảo Hoàng Sa. Nhưng thắng lợi về đảo của Tưởng Giới Thạch trả giá quá đắc. Vị thế của ông tiếp tục suy yếu và chính phủ của ông đã buộc phải bỏ chạy sang Đài Loan. Năm 1950, phe cộng sản chiếm lấy đảo Hải Nam và phe Quốc dân đảng phải chọn cách rút quân khỏi đảo Phú Lâm và đảo Ba Bình trong Quần đảo Trường Sa. Sở khí tượng thực dân Pháp ở Đông Dương ghi nhận rằng các báo cáo thời tiết từ hai đảo ngày ngừng vào ngày 4 và ngày 5 tháng 5 năm 1950 tương ứng.[6] Pháp biết các đảo này đã bị bỏ trống nhưng không cho quân chiếm đóng, một phần vì sợ gây xích mích ngoại giao không cần thiết với Đài Bắc và Bắc Kinh, nhưng chủ yếu là vì họ đã có một cuộc chiến cấp bách hơn phải đánh nhau trên đất liền.

Sau tháng 5 năm 1950, trong 5 năm đảo Hoàng Sa là thể địa lí duy nhất ở Biển Đông có người chiếm đóng. Mĩ, Anh và Pháp kiểm soát vùng biển này, đặc biệt là trong thời chiến tranh Triều Tiên bắt đầu vào tháng 6 năm 1950. Bắc Kinh chỉ đơn giản là không có phương tiện để thách thức uy thế các nước này. Điều đó không có nghĩa là Bắc Kinh từ bỏ yêu sách của mình, tuy nhiên, vào khoảng năm 1955 nhiều đơn vị cộng sản Trung Quốc đã được thiết lập trên đảo Phú Lâm. Lực lượng Mao Trạch Đông đã lặng lẽ lấn lướt cử chỉ tự hào của Tưởng Giới Thạch. Nhưng thay vì thực hiện một chuyến đi phất cờ giống trống, mối quan tâm của họ xuống sát tận đất: khai thác phân chim làm phân bón cho ruộng lúa ở đại lục. Mục tiêu của Tưởng Giới Thạch đối với quần đảo này đã biến thành phân.

**********

Mục tiêu của Tomas Cloma đối với các đảo cũng có nét nổi bật là phân chim - kết hợp với cá đóng hộp - nhưng ước mơ của ông là riêng tư nhiều hơn: tạo ra của cải. Chỉ cao 165 cm, cái ông thiếu trong chiều cao ông bù lại trong tham vọng. Ông rời hòn đảo quê hương Bohol để làm việc như một thợ may phụ ở Manila, tự vượt qua bậc trung học, tìm được việc làm nhân viên điện báo, sau đó là một nhà môi giới vận tải hàng hóa và sau đó, vào năm 1933, là phụ tá biên tập vận chuyển cho tờ báo Manila Bulletin. Ông viết về những hoạt động vận chuyển vào ban ngày và học luật vào buổi tối, cuối cùng đã đỗ kì thi luật sư vào năm 1941. Tuy nhiên trong vòng vài tháng, sự nghiệp pháp lí dự định của ông đã bị phá hủy bởi cuộc xâm lược của Nhật Bản vào Philippines. Để có cái ăn và cái mặc cho gia đình mình, Cloma đã đi biển trong ba năm, sử dụng các kĩ năng đánh cá ở Bohol để chuyên chở hành khách và hàng hóa giữa các đảo. Gia đình ông sống sót qua chiến tranh và cuộc sống chỉ mới bắt đầu khá lên hơn thì Basilio, đứa con trai 6 tuổi của Cloma, đã bị chết trong một tai nạn giao thông ở thành phố Calamba. Luz, bà vợ u sầu củaTomas ngưng đi nhà thờ. Tomas chôn nỗi buồn của mình trong công việc.

Tháng 3 năm 1947 và Tomas và Luz Cloma, cùng với anh trai của mình là Filemon và ba người bạn, thành lập Tổng công ti cá Visayan. Với số tiền bồi thường mà họ nhận được từ cái chết của Basilio, họ chuyển một số tàu kéo hết hạn hoạt động của Mĩ thành tàu đánh cá. Họ thuê thuyền viên giàu kinh nghiệm và cắt đặt họ làm việc. Công việc làm ăn tốt đẹp nhưng Tomas luôn luôn nhanh chóng nhìn thấy cơ hội khác. Tháng 9 năm 1948, khi trường hàng hải do chính phủ Philippine điều hành (PNS) bị đóng cửa do đình công, Cloma lập Viện Hàng hải Philippines (PMI) đối thủ. Viện cung cấp các khóa học ba tháng, chỉ bằng một nửa thời gian của các khoá ở PNS, tại một cơ sở giá rẻ: một chiếc xà lan gần cửa sông Pasig ở Manila. Sau một thời gian viện chuyển đến một tàu đánh cá đào tạo công việc tại chỗ làm (trong khi cũng cung cấp lao động giá rẻ cho Tổng công ti cá Visayan). Trong vòng 18 tháng viện đã được chính phủ chính thức công nhận và có các lớp học trên bờ. Từ một điều gần như thảm họa một ý tưởng khác nảy ra. Năm 1947 Filemon đang đánh cá ngoài khơi Palawan thì bão Jennie, một trong những cơn bão mạnh nhất được ghi nhận, buộc ông phải tìm kiếm nơi trú ẩn trong một nhóm đảo bí ẩn ngoài khơi. Trong những năm tiếp theo, nhóm anh em này đã lập kế hoạch mở một nhà máy đóng cá hộp cùng khai thác các phân chim ở đó.

Trong các tường thuật sau này về hoạt động mạo hiểm của họ Tomas Cloma nói rằng ông đã kiểm tra nhiều bản đồ khác nhau nhưng không hề thấy có chỗ nào đề cập đến các đảo đó. Thậm chí hiện nay ở Philippines, Cloma thường được mô tả là người đã phát hiện ra các đảo. Nhưng Cloma phải biết điều này là không đúng sự thật. Có vẻ khó có thể xảy ra việc có một người đã từng làm việc như một phụ tá biên tập trên một tờ báo quốc gia về vận chuyển trong 8 năm lại là một nhà môi giới hàng hóa quốc tế trước đó mà lại không biết về các rạn san hô và các đảo nằm ngoài khơi bờ biển của đất nước mình.

Cloma có thể đã khẳng định là không biết gì về Quần đảo Trường Sa, nhưng chính phủ của ông hẳn phải biết về sự tồn tại của chúng trong một thời gian nào đó. Nhớ rằng chúng đã được sử dụng như một bàn đạp để Nhật Bản xâm lược Philippines, các báo địa phương đã từng thúc giục chính phủ phải có hành động để giữ chúng an toàn. Tháng 7 năm 1946, ngay sau khi Philippines được độc lập với Hoa Kì, Phó Tổng thống kiêm Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó là Elpido Quirino, nói trong một cuộc họp báo rằng Philippines sẽ tuyên bố chủ quyền các đảo đó ‘vì rất thiết yếu đối với an ninh của mình’.[7] Ngày 17 tháng 5 năm 1950, Quirino, vào lúc đó đã thành tổng thống, tuyên bố rằng các đảo đó thuộc về Philippines nhưng nói thêm rằng đất nước ông sẽ không vội vã tuyên bố chừng nào mà quân Quốc dân đảng Trung Hoa (Đài Loan) vẫn còn kiểm soát. Ông không thể biết rằng thật ra họ đã rời đi 12 ngày trước đó. Mọi chuyện sẽ khác đi - ông cảnh báo - nếu cộng sản nhảy vào. Tuy nhiên, điều lạ là Philippines đã không đưa ra yêu sách của mình tại hội nghị hòa bình San Francisco năm 1951.[8] Khó mà tin rằng Cloma không biết gì về tất cả những diễn biến này.

Cloma đã có một đồng minh quan trọng, Carlos P. Garcia, cũng quê ở tỉnh Bohol, người mà ông từng học chung thời trung học. Garcia được bầu vào Thượng viện năm 1946 và đã trở thành Phó Tổng thống kiêm Bộ trưởng Ngoại giao năm 1953. Anh em Cloma đã tổ chức gây quỹ cho chiến dịch tranh cử của Garcia và - con trai của Filemon nói – Garcia đã trao cho các hợp đồng của chính phủ và các ưu đãi khác để đáp lại.[9] Mối quan hệ này trở thành trọng yếu khi Cloma dấn mình sâu hơn vào môi trường mờ ám của chính trị quốc tế.

Có bằng chứng cho thấy gia đình Cloma đã dính líu vào việc buôn lậu và, vào năm 1955, Filemon đã bị tù 6 tháng vì dự trữ vũ khí nhỏ và chất nổ. Ông đã được trả tự do vào dịp đặc xá Giáng sinh năm đó, tuy nhiên, âm mưu tuyên bố chủ quyền các đảo vẫn tiếp tục.[10] Ngày 1 tháng 3 năm 1956, Phó Tổng thống Garcia là khách mời danh dự tại một bữa ăn tối tiễn Filemons đi chiếm đóng.[11] Garcia không thuyết phục được các thành viên còn lại của chính phủ của tổng thống Magsaysay ủng hộ gia đình Cloma, dù vậy việc chiếm đóng vẫn cứ tiến hành. Ngày 15 tháng 3, Filemon cùng các bầu bạn hồn nhiên của ông đã đặt chân lên các đảo.[12] Hai tháng sau, vào ngày 15 tháng 5, Tomas gửi thư cho Garcia và một số toà đại sứ ở Manila tự tuyên bố chủ quyền khu vực biển hình lục giác ngoài khơi bờ biển Palawan tổng cộng 64 976 dặm vuông và tất cả các đảo, đá ngầm và đảo nhỏ bên trong nó (riêng đảo Trường Sa được cố ý bỏ ra ngoài yêu sách chủ quyền này). Ông dựa ‘trên quyền phát hiện và / hoặc chiếm đóng’ để tuyên bố chủ quyền. Rồi 6 ngày sau đó, ông đưa ra một thông báo thứ hai tuyên bố đã đặt tên lãnh thổ (có từ lặp lại thừa thãi) là 'The Free Territory of Freedomland' (Lãnh thổ tự do của xứ Tự Do).

Garcia đã ra một tuyên bố công khai ủng hộ ngày 17 tháng 5, nhưng theo báo chí vào thời điểm đó, tổng thống Magsaysay ra lệnh cho ông phải rút ngắn vở hài của Cloma lại trước khi nó trở nên thực sự nghiêm trọng. Magsaysay không phải là người duy nhất có ý kiến này. Người phụ trách ngoại giao Pháp ở Manila, Jacques Boizet, ban đầu gọi vụ việc là một ‘cuộc tranh cãi lố bịch’ giữa các anh lùn ‘pygmy’ nhưng cảnh báo rằng nó có khả năng gây ra những vấn đề sâu sắc nếu cộng sản Trung Quốc quyết định can thiệp. Chính xác những gì xảy ra bên trong hậu trường vẫn chưa rõ ràng. Nhiều hồ sơ chính phủ Philippines sau đó đã bị thiêu hủy trong vụ cháy. Nhà địa lí học Pháp FrançoisXavier Bonnet, người đã nghiên cứu sâu giai đoạn này, tin rằng Garcia và Magsaysay - dù có khác biệt nào của họ - đã hành động phối hợp nhau: Garcia ủng hộ Cloma còn Magsaysay hội đàm cấp cao với chính phủ Đài Loan để cố giữ cho tình hình trong vòng kiểm soát.[13] Tổng thống đã đưa ra một thông cáo chính thức nói rằng Cloma đã hoạt động với tư cách cá nhân và rằng Philippines không chính thức yêu sách các đảo này. Tuy nhiên, trong khi các hành động của Cloma có vẻ lố bịch đối với một số người, chúng thực sự có tính khiêu khích sâu sắc đối với những người khác và nằm trong chuỗi một loạt các sự kiện vẫn còn in dấu khu vực hiện nay.

Ngày 31 tháng 5 năm 1956, chính phủ Bắc Kinh tuyên bố không chấp nhận bất cứ hành vi xâm phạm các yêu sách của mình tại các đảo này. Lúc bấy giờ người Pháp đã rời Việt Nam và nước này đã tạm thời chia hai thành miền Bắc cộng sản và miền Nam tư bản. Ngày 1 tháng 6, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH / Nam Việt Nam) đã lên án hành động Cloma và ngày hôm sau, ngay cả Pháp cũng tham gia, nhắc lại tuyên bố chưa từ bỏ của chính mình có từ năm 1933. Nhưng Tomas Cloma không nản chí. Ngày 6 tháng 7, ông đã ban hành ‘Hiến Chương của Freedomland’ mô tả đất nước mới của mình như là một thực thể độc lập tìm kiếm sự công nhận chính thức từ Philippines ‘theo tình trạng bảo hộ’. Trong đầu ông có một cái gì đó giống như vị thế mà Brunei có lúc đó như là một thuộc địa của Anh. Tomas tuyên bố mình đứng đầu nhà nước với quyền hành pháp duy nhất. Con trai và bạn bè của ông đã được phong là các bộ trưởng trong nội các. Ông cũng tiết lộ lá cờ của ‘Freedomland’, trên đó, có mang điềm xấu khi biết những gì sẽ xảy ra tiếp theo, là một chim hải âu trắng lớn.

Ngày hôm sau, 7 tháng 7, chỉ để chắc chắn rằng thông điệp đã được nhận, Cloma, con trai của ông Jaime và một số học viên PMI của ông diễu hành đến toà đại sứ Trung Hoa (Đài Loan) ở Manila và trao cho các nhà ngoại giao ở đó một lá cờ mà Jaime nói đã lấy ở đảo Ba Bình (hoặc như ông đổi tên nó thành đảo MacArthur). Điều này làm dấy lên cả phản kháng từ Đài Bắc lẫn chỉ trích từ chính phủ Philippines. Mọi thứ đã trở thành quá nhiều. Hải quân VNCH đã phái một tàu tới một trong những đảo của Trường Sa và phái đoàn này dựng lên một tượng đài và treo cờ tổ quốc vào ngày 22 tháng 8.[14] Chính phủ quốc dân đảng Đài Loan quyết tâm giải quyết vụ Cloma một lần rồi thôi và phái một phần của lực lượng hải quân của mình dưới sự chỉ huy của đại tá Yao.[15] Họ sẽ gặp nhau tại một nơi gọi là Danger (cụm Song Tử).

Sáng sớm ngày 1 tháng 10 năm 1956, tàu IV của đội tàu PMI neo ngoài khơi rạn Bắc Danger (mà Cloma đã đổi tên thành ‘đảo Ciriaco’ ở mũi cực Bắc của ‘Freedomland’) thì nó bị hai tàu của Hải quân Đài Loan thách thức. Thuyền trưởng Filemon Cloma đã được ‘mời’ lên tàu một trong các tàu này để thảo luận về yêu sách của mình. Một cuộc tranh luận bốn giờ về những chi tiết của luật pháp quốc tế xảy ra sau đó – trong lúc đó Đài Loan đã lên tàu PMI IV và tịch thu tất cả các loại vũ khí, bản đồ và các tài liệu liên quan mà họ có thể tìm ra.[16] Ngày hôm sau Filemon được mời lên tàu một lần nữa và được giao cho tờ khai báo trong đó thừa nhận ông đã xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc và cam kết sẽ không làm như vậy lần nữa. Theo con trai của Filemon, ông đã kí vào tờ khai do bị cưỡng ép. Sau đó các tàu hải quân ra đi và đoàn người của Filemon kiểm tra các đảo gần đó - tất cả các cấu trúc trước đây họ xây dựng ở đó đều đã bị phá hủy.[17]

Tomas Cloma không phải là người để cho qua chuyện đó. Vì vậy, cuối tháng đó, ông đã tự mình đến New York với ý định làm một khiếu nại chính thức gửi Liên Hiệp Quốc. Nhưng bấy giờ chính phủ Philippines cũng đã chán ngán ông ta. Sau một cuộc họp báo ở các quán cà phê của khách sạn Waldorf Astoria, Cloma đã được đại sứ Philippines tại Liên Hiệp Quốc, Felixberto Serrano đưa ra ngoài, giải thích rằng chỉ các chính phủ được công nhận mới có thể trình bày các vấn đề tại Liên Hiệp Quốc và Philippines sẽ không lãng phí thêm thời gian về vấn đề này. Garcia và các đồng minh trong Hiệp hội Ngoại giao ở Manila lại cố thực hiện một nỗ lực vận động cuối cùng để thuyết phục Tổng thống Magsaysay thay đổi ý kiến nhưng không thành công. Ngày 8 tháng 2 năm 1957 Garcia đã viết một lá thư diễn đạt một cách cẩn thận cho Cloma, trong đó ông đưa ra một sự phân biệt phần nào tùy ý giữa 7 đảo được biết như là Quần đảo Trường Sa và các thể địa lí còn lại mà ông gọi là ‘Freedomland’. Phát biểu thay mặt cho Bộ Ngoại giao (không phải cho chính phủ, ông nói Cloma được hoan nghinh tuyên bố chủ quyền bất kì đảo trống nào trong 'Freedomland', chỉ khi nào mà không có chủ quyền của nước nào khác đã được công nhận trên đó. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì.[18]

Điều đó kết thúc việc Tomas Cloma tham gia chính trường quốc tế, nhưng còn có phần cuối đáng tò mò cho toàn bộ dự án ‘Freedomland’. Sau năm 1956, Cloma đã chuyển hướng năng lượng của mình vào hoạt động kinh doanh, nhưng ông không bao giờ từ bỏ giấc mơ của mình. Ông rất thích được gọi là ‘Đô đốc’ Cloma và mặc một bộ đồng phục màu trắng lấp lánh vào những dịp đặc biệt tại PMI. Tuy nhiên, dần dần đoàn mạo hiểm của ông đã bị nhạt nhoà trong bộ nhớ công chúng. Tuy nhiên vào đầu thập niên1970, nó có được sự chú ý không chào đón của Tổng thống Ferdinand Marcos. Thăm dò dầu đã bắt đầu ngoài khơi bờ biển Palawan năm 1970, và vào tháng 7 năm 1971, lực lượng Philippines đã đặt chân tới ba đảo của Quần đảo Trường Sa:. Thị Tứ, Vĩnh Viễn và Bình Nguyên (lần lượt là Pagasa, Lawak và Patag theo tiếng Philippines). Họ dường như cũng đã cố gắng đổ bộ lên đảo Ba Bình nhưng đã bị lực lượng Đài Loan đẩy lui.[19] Cuối tháng đó, Marcos ra lệnh quân đội lập ra bộ tư lệnh miền Tây để bảo vệ lợi ích trong khu vực.

Chính trong thời gian này chính phủ Philippines thực hiện nỗ lực đầu tiên để chính thức hóa một yêu sách lãnh thổ thống nhất đối với các đảo, nhưng đó lại là một yêu sách dựa trên cơ sở địa lí và pháp lí khá lung lay. Thứ nhất, theo Garcia, nó cố gắng lập luận rằng khu vực nằm trong ‘Freedomland’ là khác với nhóm đảo được quốc tế biết đến như là Quần đảo Trường Sa và thứ hai nó cho rằng Philippines có quyền sở hữu ‘Freedomland’ do những hoạt động của Tomas và Filemon Cloma 25 năm trước đây. Cloma đã thấy cơ hội và đã viết cho tờ báo Daily Express tháng 1 năm 1974 kêu gọi chính phủ tài trợ cho tuyên bố ban đầu của mình tại Tòa án Quốc tế. Nó thu hút được sự chú ý của Marcos và tháng sau đó Cloma đã được mời tham dự một cuộc họp tại dinh tổng thống, trong buổi họp đó đó ông đã hứa sẽ nhường lại các đảo. Tất cả những gì cần phải làm chỉ là thủ tục nhỏ về một hợp đồng và giá mua. Cloma chọn ba chính khách làm nhóm đảm trách pháp lí cho mình và các cuộc đàm phán kéo dài. Ngày 3 tháng 10 năm 1974, Cloma, lúc đó đã 70 tuổi, được mời đến trụ sở cảnh sát quốc gia tại trại Crame. Sau một cuộc trò chuyện dài với một đại tá cảnh sát, ông đã được dẫn tới nhà mới của ông là Trại giam số 3. Vào khoảng thời gian đó, chính phủ tịch thu một tàu của ông, MS Philippine Admiral, làm tê liệt công ti vận chuyển của Cloma. Sau một vài ngày Cloma được cho biết ông sẽ bị buộc tôi ‘mặc đồng phục và mang phù hiệu bất hợp pháp’. Chế độ thiết quân luật của Marcos đã xem trò đùa ‘đô đốc’ hơi quá nghiêm trọng. Cloma hiểu những gì đang thực sự xảy ra. Ông giữ ý kiến 57 ngày nhưng cuối cùng thì lão già chịu thua. Ông đã kí nhượng ‘Freedomland’ cho chính phủ Philippine với giá chỉ một peso.

Marcos đổi tên quần đảo  Freedomland thành Kalayaan - Kalayaan là từ Tagalog có nghĩa là tự do - và tháng 6 năm 1978 đã ban hành Nghị định 1596 sáp nhập Kalayaan làm một hạt của tỉnh Palawan. Hạt này vẫn còn tồn tại, mặc dù đối với hầu hết thời gian trong năm nó đóng trong một văn phòng tại vùng ngoại ô của Puerto Princesa ở Palawan. Vào thời điểm viết sách, quân đội Philippines chiếm đóng 9 đảo và rạn san hô và cố gắng quan sát tiếp phần còn lại. Đảo lớn nhất do Philippines chiếm đóng - trước đây gọi là Thị Tứ nhưng đổi tên thành Pagasa (từ chữ hi vọng trong tiếng Philippines) - hiện tại đang là đảo nhà của một bức tượng nhỏ của Tomas Cloma. Nó đứng bên cạnh đường băng, buồn bã nhìn ra biển: vào chỗ mà một vài năm trước còn thuộc Cloma. Tháng 7 năm 1987, sau khi chế độ Marcos bị lật đổ, Cloma và các cộng sự đã yêu cầu chính phủ dân cử của tổng thống Corazon Aquino bồi thường. Họ đòi 50 triệu peso. Tomas Cloma mất vào ngày 18 tháng 9 năm 1996 mà không nhận được trả lời. Giấc mơ về một tập đoàn phân chim và cá hộp của ông vẫn chưa được hoàn thành.


**********

Đối với một số người đó là chuyện khôi hài, các hoạt động của Cloma khơi lại sự lo ngại của khu vực đối với Quần đảo Trường Sa. Đài Loan trở lại Ba Bình vào năm 1956, sau 6 năm tĩnh lặng, thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc từng gợi hứng cho chuyến đi đầu tiên của họ vào năm 1946. Vào thời điểm của màn tóm thu đảo kế tiếp, khi mà Ferdinand Marcos ra lệnh cho quân đội Philippines chiếm giữ 3 đảo vào năm 1971, động lực lại là dầu. Một vài năm sau đó, dầu cũng là lí do khiến Việt Nam Cộng Hòa tham gia vào cuộc đua. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cố giành chiến thắng cuộc chiến chống lại cộng sản, đồng thời giải cứu nền kinh tế vỡ vụn do chi tiêu quân sự căng kéo quá mức và viện trợ Mĩ nhanh chóng sụt giảm. Ngày 20 tháng 7 năm 1973, một tháng sau khi Quốc hội Mĩ bỏ phiếu cấm tất cả các hoạt động chiến đấu của Mĩ ở Đông Dương, VNCH chuyển nhượng quyền khai thác dầu đầu tiên. Tám lô ngoài khơi bờ biển phía Nam và phía Đông của VNCH đã được trao cho Mobil, Exxon, một tập đoàn của Canada và một công ti con của Shell gọi là Pecten. Tháng 9 năm 1973, để bảo vệ việc thăm dò, Nam Việt Nam chính thức sáp nhập 10 đảo của Quần đảo Trường Sa. Họ đã triển khai hàng trăm binh lính đến đảo Trường Sa và Nam Yết - chỉ đối diện Ba Bình ở phía bên kia đầm phá. Các phản kháng từ Đài Bắc và Manila đều to tiếng. Bắc Kinh chậm rãi xem xét các lựa chọn của mình.[20]

Nam Yết chỉ cách Ba Bình khoảng 20 km bên kia đầm phá

Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản ở Bắc Kinh đã phải cân nhắc những tác động của một số những thay đổi quan trọng trên toàn cầu và trong khu vực. Mặc dù trên danh nghĩa tất cả đều là cộng sản, quan hệ giữa các chính phủ ở Bắc Kinh, Moscow và Hà Nội khó còn là quan hệ anh em. Một sự chia tách ý thức hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô đã dần trở nên tồi tệ hơn trong thập niên 1960 và hai nước này đã đánh nhau ở biên giới năm 1969. Vào thời điểm đó, lãnh tụ Trung Quốc Mao Trạch Đông đã bắt đầu thấy Liên Xô là một mối đe dọa lớn hơn nhiều so với Mĩ. Đồng thời, ngoại trưởng Mĩ, Henry Kissinger, nhận ra rằng Trung Quốc có thể là một đồng minh hữu ích trong cuộc chiến toàn cầu chống lại Liên Xô nên bắt đầu gieo cấy quan hệ. Chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh trong tháng 7 năm 1971 đã mở đường cho sự đột phá đầy kèn trống của Tổng thống Nixon vào tháng 2 năm 1972.

Việt Nam thấy mình bị kẹt dí giữa tam giác này. Miền Bắc cộng sản từ lâu đã cố gắng cân bằng quan hệ với Moscow và Bắc Kinh tốt hơn để tiến hành cuộc chiến chống lại miền Nam được Washington hậu thuẫn. Vũ khí, viện trợ và cố vấn đến từ cả hai nước này nhưng Hà Nội không muốn chịu ơn nước nào. Bản sắc dân tộc hiện đại của Việt Nam ít nhiều được xây dựng xung quanh những câu chuyện về cuộc đấu tranh dài hàng ngàn năm chống Trung Quốc. Ban lãnh đạo đảng Cộng sản ở Hà Nội quyết tâm không để trở thành một nước chư hầu lần nữa. Cũng có các khác biệt về chính trị. Hà Nội kiên quyết giải phóng (theo như họ thấy) toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong khi Bắc Kinh muốn Hà Nội tiến hành một cuộc chiến lâu dài và kéo dài để giữ cho Mĩ bị sa lầy.[21] Kết quả là Hà Nội bắt đầu nghiêng về phía Moscow.

Có hai quan ngại làm nỗi lo sợ Trung Quốc sâu sắc hơn. Nếu Hà Nội thắng cuộc chiến, hạm đội Liên Xô có thể có quyền sử dụng các căn cứ ở Biển Đông, có nguy cơ bóp nghẹt đường tiếp tế của Trung Quốc. Thứ hai, nếu có dầu ở đó, những nước khác đã đặt tay lên đó trước. Theo quan điểm của Bắc Kinh ai kiểm soát Quần đảo Hoàng Sa sẽ có thể săn tìm dầu ở vùng nước xung quanh chúng và kiểm soát việc đi lại tới miền Nam Trung Quốc. Vào thời điểm đó các đảo vẫn còn chia tách: nhóm An Vĩnh do quân cộng sản Trung Quốc chiếm đóng và nhóm Trăng Khuyết do Nam Việt Nam. Tuy nhiên, Chính phủ VNCH quan tâm tới các sự kiện trên đất liền nhiều hơn là các đốm đất đá rải rác trên biển. Đơn vị trú đóng trên đảo Hoàng Sa chỉ hơn một trạm thời tiết đôi chút, một đội nhỏ các người làm nhiệm vụ bảo vệ cùng một đàn dê. Dù vậy, từ trong nhóm An Vĩnh, mọi thứ đã hoàn toàn khác. Bắt đầu từ năm 1970, Trung Quốc đã điều tra tất cả các đảo và xây dựng một cảng mới ở đảo Phú Lâm. Đó là điểm khởi động cho một chiến dịch sẽ đẩy một người Mĩ thầm lặng lên những bản tin.

Gerald Kosh tin vào sứ mệnh của Hoa Kì tại Việt Nam. Ông tình nguyện tham gia quân đội ngay khi xong trung học, những lời của J. F. Kennedy trong bài diễn văn ‘đừng hỏi tổ quốc làm gì cho bạn’ vang lên trong tai ông. Cha ông, một cựu thương binh Chiến tranh Thế giới thứ hai, đã phản đối ý tưởng nhưng Kosh là một người đàn ông quả quyết. Tháng 5 năm 1967, ông tốt nghiệp trường Airborne Ranger như là lãnh đạo xuất sắc (Outstanding Leader) của lớp và đã được phái đến Việt Nam. Ông chuyển về lực lượng đặc biệt rồi trở thành một đại uý lính mũ xanh (Green Beret). Một cựu chiến binh trinh sát tầm xa, ông là hình ảnh thu nhỏ của chiến binh rừng rậm của Mĩ. Sau khi chuyến đi kết thúc, ông vẫn ở trong quân đội, biên chế trong nhóm Lực Lượng Đặc Biệt thứ 10, định kì trở lại Đông Nam Á để huấn luyện các lực lượng chống cộng.

Ông rời quân đội nhưng - gia đình ông nói - không vui thú cuộc sống dân sự. Chán nản, ông quay trở lại Việt Nam với $300 trong túi và lời hứa về một công việc thông qua toà Đại sứ Mĩ. Ngày 10 tháng 12 năm 1973 tùy viên Hải quân ở Sài Gòn bổ nhiệm ông là một trong 12 nhân viên liên lạc khu vực được phân công để theo dõi việc sử dụng các thiết bị quân sự của Mĩ chuyển giao cho chính phủ Nam Việt Nam. Các báo cáo của ông phải đòi hỏi việc đọc rất dữ, đặc biệt khi thỏa thuận ngừng bắn chính thức, có hiệu lực từ tháng 1 trước, bị tan vỡ. Ngày 4 tháng 1 năm 1974, tổng thống Thiệu tuyên bố rằng cuộc chiến đã bắt đầu lại ở Việt Nam.

Chỉ một tuần sau đó, một người phát ngôn của Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền mới của Bắc Kinh đối với Quần đảo Hoàng Sa, nhưng hầu như ở Sài Gòn không ai nhận thấy. Và nếu như Washington có ý niệm mơ hồ nào về những gì đang đến, thì họ cũng không để nó hiện ra. Mục tiêu của Mao Trạch Đông là đảm bảo tính nhanh nhạy chiến lược ngoài khơi bờ biển phía Nam của Trung Quốc và cho phép việc săn tìm dầu xung quanh Quần đảo Hoàng Sa và xa hơn nữa. Quan hệ của Bắc Kinh với Bắc Việt Nam xấu đi nhanh chóng và Nam Việt Nam bị mất sự yểm trợ quân sự của Mĩ. Tháng 1 năm 1974 là một thời điểm mà các lãnh đạo Bắc Kinh có thể hành động mà không sợ hậu quả. Đối với Kissinger và Nixon, số phận của việc Nam Việt Nam sở hữu các hòn đảo là ít quan trọng hơn so với việc cải thiện quan hệ Mĩ - Trung. Một liên minh Mĩ-Trung ngầm sẽ có rất nhiều ý nghĩa đối với kết quả của cuộc Chiến tranh Lạnh hơn bất cứ điều gì sẽ xảy ra ở Sài Gòn.

Hiện nay chúng ta biết rằng chiến dịch [Hoàng Sa – ND] đã được lên kế hoạch trong một thời gian trước đó. Lịch sử chính thức của Hải quân Trung Quốc xuất bản tại Bắc Kinh vào năm 1987 cho chúng ta biết rằng lệnh được đến từ nơi chóp bu nhất: nó đã được Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đưa ra vào năm 1973. Người mà họ giao trách nhiệm là Đặng Tiểu Bình, về sau là lãnh đạo ‘trên thực tế’ của đất nước này nhưng vào thời điểm đó, chỉ vừa mới được gọi về lại thủ đô sau 6 năm trong ô nhục chính trị. Việc chuẩn bị đã được giữ bí mật rất cao nhưng chúng tôi biết theo một tài liệu quân sự Mĩ giải mật sau này do Gerald Kosh viết rằng quân đội Trung Quốc đã bắt đầu huấn luyện cho một loại chiến dịch nào đó vào khoảng tháng 9 năm 1973. Tình báo Mĩ có một nguồn ở cảng Bắc Hải của Trung Quốc đã báo cáo về việc thắt chặt an ninh quanh thời gian này - mặc dù liên kết với những gì đã xảy ra về sau sẽ chỉ được thực hiện sau này. Từ giữa tháng 12 trở đi, người ta thấy hàng trăm lính đặc nhiệm Trung Quốc rời cảng mỗi ngày trên 6 tàu đánh cá và trở về vào mỗi tối. Điều này tiếp diễn trong khoảng 10 ngày. Họ đã sẵn sàng cho hành động vào đầu tháng 1.[22]

Khi người Việt chuẩn bị Tết, tin về nhiều tàu lạ xuất hiện quanh Quần đảo Hoàng Sa truyền tới Sài Gòn. Một tàu Hải quân Việt Nam được phái đi để tìm xem chuyện gì đang xảy ra. Ngày Thứ Hai, 14 tháng 1 những lo ngại của chỉ huy cao cấp đã được khẳng định. Hai tàu đánh cá của Trung Quốc bỏ neo cách đảo Hữu Nhật (Robert Island) 300 mét. Đột nhiên, hải quân phải tăng tốc, họ đã quen với việc yểm trợ các cuộc hành quân trên đất liền hoặc tuần tra các tuyến đường sông ở đồng bằng sông Cửu Long, bây giờ phải đối mặt với khả năng đánh nhau trên biển. Đồng thời các chỉ huy không thể loại trừ khả năng là hoạt động này của Trung Quốc chỉ dùng để phân tâm giúp lực lượng cộng sản thực hiện một bước đột phá trên đất liền.

Rõ ràng báo động đã lan ra. Thứ Ba, 15 tháng 1, chính tổng thống Thiệu đặc biệt đến thăm Hải quân tại Đà Nẵng.[23] Và vào một lúc nào đó hôm đó, Jerry Scott thuộc toà lãnh sự Hoa Kì tại Đà Nẵng đã liên lạc với chỉ huy hải quân khu vực, người bạn tốt của ông là đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, với một yêu cầu đặc biệt. Có thể cho một trong những nhân viên của ông, nhân viên liên lạc khu vực tên Gerald Kosh, được lên một trong những tàu sắp khởi hành đi tới Quần đảo Hoàng Sa hay không? Việc này đã được đồng ý nhanh chóng và Kosh tham gia vào đoàn thuỷ thủ của tàu HQ-16.[24] Tàu này là một trong 7 tàu tuần duyên cũ của Mĩ đã được trao cho Việt Nam vào đầu thập niên 1970. Mặc dù được đóng trong thế chiến thứ hai, các súng 5 inch (12,7 mm) đã làm cho chúng thành các tàu trang bị vũ khí mạnh nhất trong Hải quân Việt Nam.

Ngày hôm sau, HQ-16 đưa 14 thành viên của đơn vị người nhái lên bảo vệ đảo Hữu Nhựt. Nhưng khi đến đảo Duy Mộng (Drummond) và Quang Hoà (Duncan) họ phát hiện ra là đã quá trễ. Quân Trung Quốc đã ở trên đảo với các tàu yểm trợ gần đó. Tất cả điều này đã được báo cáo khẩn cấp về Đà Nẵng. Tối hôm đó, bộ trưởng ngoại giao của Việt Nam công khai lên án Trung Quốc chiếm đóng các đảo và giành quyền thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp để đối phó với tình hình.[25]

Bên trong hậu trường đã có hoảng loạn. Sĩ quan hải quân cao hàng thứ ba, tham mưu phó hành quân Đỗ Kiếm, đã thúc giục có một phản ứng nhanh chóng và quyết đoán. ‘Nếu chúng ta hành động ngay bây giờ, chúng ta có thể chiếm lại đảo’, ông nhớ lại đã thúc giục tổng chỉ huy của mình, Để đốc Trần Văn Chơn.[26] Thay vào đó, theo tường thuật của Kiếm, Chơn dao động, đòi hỏi bằng chứng chủ quyền về mặt lịch sử của Việt Nam đối với các đảo. Trong khi giờ khắc trôi tuột đi, Kiếm co lại trong việc lục lọi thư viện và hồ sơ của hải quân để tìm các tài liệu thích hợp. Đồng thời, thông qua nhân viên liên lạc Mĩ chính thức của mình, Kiếm chính thức yêu cầu Hạm đội 7 của Mĩ hình thành một tuyến cản để chặn Hải quân Trung Quốc đi tới các đảo. Chẳng có điều gì đã được thực hiện. Người Việt chỉ có chính mình.

Thứ Năm, 17 tháng 1, 15 người nhái đã đổ bộ lên đảo Quang Ảnh (Money). Trong số 7 hòn đảo trong nhóm Trăng Khuyết, có 3 đảo do Việt Nam và 2 do Trung Quốc chiếm đóng. Ba chiếc tàu khác được vội vã phái tới Quần đảo Hoàng Sa: HQ-5 (một tàu tuần duyên cũ của Mĩ), HQ-4 (USS Forster cũ, một tàu khu trục trang bị súng 3-inch) và HQ-10 (tàu quét mìn USS Serene cũ, bây giờ là tàu tuần tra). Vào sáng Thứ Sáu, 18 tháng 1, cả 4 tàu đều nằm yên ở các đảo và chỉ huy đội tàu, hạm trưởng Hà Văn Ngạc, đã quyết định phô trương sức mạnh và cố gắng cho người nhái đổ bộ lên đảo Quang Hoà. Trong khi 4 tàu khác của Trung Quốc đứng chờ, hai tàu hộ tống Trung Quốc (tàu săn tàu ngầm do Nga đóng vào những năm 1950) vận động lên phía trước.

Sử dụng đèn tín hiệu, họ bắt đầu một cuộc tranh luận về lịch sử bằng tiếng Anh. Họ nhá đèn ‘Những đảo này thuộc về Trung Quốc từ thời nhà Minh. Không ai có thể phủ nhận.’ Việt Nam trả lời ít uyên bác hơn ‘vui lòng rời khỏi lãnh hải của chúng tôi ngay lập tức.’ Điều này diễn ra trong vài phút thì các tàu hộ tống Trung Quốc ngừng các bài học lịch sử và bắt đầu trò chơi gà (game of chicken), chạy vào đường đi của các tàu Việt Nam. Ngạc quyết định không đấu và hủy bỏ việc đổ bộ. Vòng đầu phần thắng về Trung Quốc.

Lúc 8 pm Thứ Sáu, Kosh được gọi qua HQ-5 để gặp Ngạc, cùng với một toán công binh quân đội Việt Nam cùng được phái đi với đội tàu. Ngạc nói với ông rằng vì có đánh nhau nên những ai không là thủy thủ nên lên bờ. Kosh và toán công binh đã được đưa tới đảo Hoàng Sa (Pattle), cùng với một số dự trữ và 10 gói thuốc lá Capstan, để cùng với các nhân viên khí tượng và những người bảo vệ họ chờ trận chiến xảy ra. Lúc họ đi ngủ ở trạm khí tượng, một điện tín mật mã từ Đà Nẵng đã được chuyển đến Ngạc. Lệnh mâu thuẫn: lấy lại đảo Quang Hoà một cách hòa bình. Làm cách nào để đội tàu 4 chiếc và đội người nhái ít ỏi đi cùng sẽ thuyết phục đội tàu Trung Quốc lớn hơn cùng với các lực lượng cố thủ của họ trên các đảo ra đi thì không được chỉ rõ. Ngạc quyết định cho đổ bộ vào sáng hôm sau, Thứ bảy, 19 tháng 1. Lúc 8 am, 20 người nhái xuống hai xuồng cao su và chạy nhanh về phía bờ với nhiệm vụ đàm phán với người Trung Quốc và yêu cầu họ rời đi. Lúc 8: 29 am họ tới bờ. Khi họ lội băng qua sóng, Trung Quốc nổ súng, bắn chết một người nhái. Một người nhái thứ hai cũng bị bắn chết khi cố gắng lấy xác đồng đội. Người nhái rút lui.

Ngạc gọi vô tuyến xin lệnh. Tại Bộ chỉ huy Hải quân ở Sài Gòn, Đỗ Kiếm tìm đô đốc Chơn. Không thấy ông ta ở đâu. Một phụ tá nói với ông rằng đô đốc Chơn đã lên máy bay đi Đà Nẵng. Kiếm gọi cấp phó của ông Chơn tại Đà Nẵng. Cũng không gặp được: ông bận ra sân bay để đón ông Chơn. Vào khoảnh khắc khi số phận của các đảo treo trên bàn cân, hai viên chức cao cấp nhất của Hải quân Việt Nam tự làm mình mất liên lạc. Cuối cùng, tự ông Kiếm đã phải đưa ra lệnh nổ súng. Ông cũng đưa ra yêu cầu thứ hai nhờ Hạm đội 7 Mĩ yểm trợ. Một lần nữa, chẳng có gì xảy ra từ đó.

Vì vậy, vào 10:29 am, hai giờ sau khi hai người nhái bị giết, 4 tàu Việt Nam nổ súng vào 6 tàu Trung Quốc. Họ chỉ cách nhau một hải lí. Không may cho Việt Nam, khẩu súng phía trước trên HQ-4 không bắn được và con tàu đã nhanh chóng bị một trong các tàu hộ tống Trung Quốc bắn trúng. HQ-5 làm hư hỏng nặng một tàu hộ tống khác, nhưng sau đó đã bắn vào chính mình. Rồi 15 phút sau đó, HQ-5 xoay xở vô tình bắn trúng HQ-16. Đạn pháo phang vào phòng động cơ bên dưới mớn nước. HQ-16 nhanh chóng bị mất lực đẩy và bắt đầu bị nghiêng 20°. Sau đó, HQ-5 bị bắn trúng một lần nữa, mất tháp pháo súng và vô tuyến điện. Cuối cùng, HQ-10, chiếc nhỏ nhất trong 4 tàu, bị trúng một quả phóng lựu Trung Quốc, phá hủy boong tàu và giết chết hạm trưởng. Trong vòng nửa giờ, mặc dù đã làm hư hại nặng hai tàu Trung Quốc, đội tàu Việt Nam hoàn toàn mất khả năng tác chiến. HQ-10 bị chìm và 3 tàu kia khập khiễng trở về Đà Nẵng. Theo bất kì đánh giá độc lập nào, cuộc đụng độ này là một thảm họa, nhưng các thủy thủ trở về được chào đón như những anh hùng. Phương tiện truyền thông của Việt Nam đã được cho biết rằng họ đã bị đánh chìm hai tàu Trung Quốc và buộc một hạm đội Trung Quốc lớn hơn nhiều phải rời đi. Nó đã được xoay thành một tin tốt lành, đúng vào dịp lễ Tết.

Trong khi đó Gerald Kosh, và những người khác trên 3 đảo do Việt Nam kiểm soát, chỉ còn cách chờ đợi số phận của mình. Hai toán người nhái trên đảo Quang Ảnh và Hữu Nhựt là các chiến binh dày dạn. Trên đảo Hoàng Sa, các nhân viên khí tượng và bảo vệ của họ thì không như thế. Chỉ có Kosh là biết cảm giác đánh nhau như thế nào. Họ không phải chờ đợi lâu. Kosh quan sát sự chuyên nghiệp của cuộc xâm chiếm của Trung Quốc với sự ngưỡng mộ, đặc biệt khi so với yếu kém về năng lực phòng thủ của Việt Nam. Ông quan sát khi họ chuẩn bị đổ bộ lên đảo Hữu Nhựt cách đó hai hải lí.

Vào lúc 9 am, ba pháo hạm Trung Quốc tiến đến đúng vị trí ngoài khơi và một giờ sau đó bắt đầu nã pháo có hệ thống lên đảo. Nửa giờ sau đó, hai tàu đánh cá đến. Số người trên tàu cho thấy chúng đúng là những chiếc tàu đã được thấy huấn luyện ngoài khơi Bắc Hải một tháng trước.

Sau đó ít nhất 100 binh sĩ xuất hiện trên boong mỗi tàu đánh cá và thả xuống các xuồng cao su. Vì Kosh ngồi ở vị trí thuận lợi, ngắm hoạt động qua ống nhòm, thấy 6 đến 8 binh sĩ dùng thang dây leo xuống mỗi chiếc xuồng. Khi xuống xong, 30 xuồng lập thành đội hình tấn công chèo vào. Khi họ đi qua các rạn san hô, một xuồng bắn lên một tín hiệu lửa màu đỏ và các tàu ngừng nã pháo rồi di chuyển ra phía đảo Hoàng Sa. Lực lượng đổ bộ tiến vào phía bãi biển, vẫn giữ trong đội hình chặt chẽ. Người nhái nổ súng nhưng không gây ra bất kì thương vong nào. Bị áp đảo về quân số, hơn 10 chọi 1 nên chẳng bao lâu họ đầu hàng. Không quen với Kosh, 15 người nhái trên đảo Quang Ảnh đã thấy ra việc gì sẽ đến. Họ đã xuống biển trước khi có thể bị bắt giữ. Sau 9 ngày trôi dạt 200 hải lí trên một xuồng cao su, cuối cùng họ được ngư dân giải cứu ngoài khơi cách bờ biển Việt Nam 35 hải lí.

Sự nể trọng của Koshs đối với cuộc tấn công của Trung Quốc càng trở nên mạnh mẽ hơn khi họ chuyển sự chú ý về đảo Hoàng Sa. Cũng thế, đảo này bị dọn trước với đạn pháo. Kosh và những lính Việt Nam phải nấp vào chỗ trú ẩn xung quanh trạm thời tiết gần một giờ khi pháo rơi xuống. May mắn thay, không ai trong số họ bị bắn trúng. Rồi hai tàu đánh cá đến và một đoàn xuồng khác đã đổ lên đảo khoảng 200 lính Trung Quốc. Kosh vẫn nấp trong khi quan sát cách họ càn quét có hệ thống qua hòn đảo với từng đơn vị tập trung vào các mục tiêu cụ thể. Trong vòng một giờ chiến dịch đã hoàn tất. Cuộc xâm lược ngoài nước qua đường biển đầu tiên của Cộng sản Trung Quốc đã thành công.

Tuy nhiên, đối với Kosh tình hình có vẻ đen tối. Ông đã trãi qua những giờ phút căng thẳng để giải thích lí do tại sao ông lại ở trong Quần đảo Hoàng Sa. Người Trung Quốc đã buộc phải coi ông là một gián điệp và theo đó mà đối xử. Hai sĩ quan CIA, John T. Downey và Richard G. Fecteau, bị bắn rơi khi đang cố tiếp tế cho quân nổi dậy chống cộng sản ở Trung Quốc vào năm 1952, chỉ vừa mới được thả ra sau 20 năm ngồi tù. Ông nói với người Trung Quốc ông là một nhân viên dân sự, một người quan sát, và ông chỉ đến quần đảo này để đánh giá những gì mà công binh đã lên kế hoạch để làm. Họ chuyển ông đến Hải Nam và sau đó đến Trung Hoa đại lục.

Trong khi đó, ở cả Việt Nam lẫn Mĩ, các quan chức ra sức tìm hiểu những gì đã xảy ra với ông. Nhận thức được tính cấp bách của tình hình, Henry Kissinger đã mời quyền phó đại sứ Trung Quốc tại Washington đến trao đổi vào ngày 23 tháng 1. Theo biên bản được giải mật của cuộc gặp gỡ này, Kosh là mục đầu tiên trong chương trình nghị sự. Kissinger nói rõ rằng Mĩ đã không có lập trường gì về những cái đúng hay cái sai trong tranh chấp Quần đảo Hoàng Sa nhưng kêu gọi rằng Kosh phải được thả sớm, và điều đó chắc chắn sẽ xoa dịu tình hình xa tới mức mà Hoa Kì quan tâm, ông nói với chuẩn đại sứ.[27]

Kosh đã trãi qua gần một tuần trong tù cho tới khi lời thúc giục của Kissinger có hiệu quả mong muốn. Ngày 29 tháng 1 ông bước qua biên giới sang Hồng Kông (lúc đó còn là thuộc địa của Anh) cùng với 4 tù binh Việt Nam. Các quan chức Mĩ đã cố gắng hết sức mình để giữ kín vấn đề. Các nhà báo được cho biết ông bị viêm gan và cần phải được kiểm dịch. Ông được trực thăng đưa đến sân bay, bay ngay tới căn cứ không quân Clark ở Philippines và về bệnh viện Hải quân Philadelphia ở Mĩ. Ông không trả lời phỏng vấn. Thay vào đó, ông dường như đã dành năng lượng của mình cho dự thảo đánh giá về cuộc tấn công của Trung Quốc cho ban nghiên cứu đặc biệt của quân đội, một báo cáo được giải mật 20 năm sau đó.

Kosh khó có bị đánh đập. Chỉ một tháng sau khi đến bệnh viện Hải quân, ông đã trở lại công việc cũ tại Việt Nam. Rồi sau khi mãn hạn công việc ở đây, ông làm việc như một nhà hợp đồng dân sự với các lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ ở Sinai và sau đó làm các công việc khác ở nước ngoài mà có lẽ ông vẫn duy trì các hoạt động báo cáo ở những chỗ đó. Nhưng bi kịch đối với ông và gia đình là Gerald Kosh không thích vui hưởng việc nghỉ hưu lâu dài và hạnh phúc với đầy các câu chuyện chiến tranh hay ho nhất của thế giới. Người vốn đã dành cả cuộc đời mình để phục vụ đất nước và có thể nói đã từng chiến đấu ở Việt Nam gần như tới khi kết thúc rồi cuối cùng lại trở thành một nạn nhân của nó. Trong những chuyến tuần tra xa với tư cách một lính mũ xanh ông đã bị tẩm trong chất độc da cam - thuốc diệt cỏ phun từ máy bay Mĩ để diệt thảm thực vật rừng làm phô lộ kẻ thù ẩn nấp bên trong. Bị nhiễm dioxin, chất độc màu da cam có độc tính cao. Năm 2002, ở tuổi 56, Gerald Kosh đã chết vì hóa chất phun từ máy bay Mĩ 30 năm trước.

**********

Mục tiêu của Mao Trạch Đông đối với các đảo chẳng thành thứ gì. Dầu vẫn chưa tìm thấy xung quanh Quần đảo Hoàng Sa và giá trị chiến lược của chúng vẫn chưa được chứng minh. Việc chiếm đóng nhóm Trăng Khuyết chắc chắn không ngăn chặn Hải quân Liên Xô sử dụng cảng tại vịnh Cam Ranh trên bờ biển Việt Nam sau khi Hà Nội chiến thắng, đúng như Bắc Kinh đã lo sợ. Các căn cứ nhỏ bé như trên đảo Phú Lâm và đảo Hoàng Sa hầu như không thể bảo vệ được. Đó chính là quan điểm Hải quân Anh hồi những năm 1940 và cũng là quan điểm của Hải quân Mĩ sau đó. Nhưng sự không chắc chắn đó đã không làm ngưng việc chiếm đóng thêm nữa. Bừng tĩnh trước cuộc xâm lược Quần đảo Hoàng Sa, chính quyền VNCH vội vã củng cố vị trú đóng của họ ở Quần đảo Trường Sa. Có ít nhất 120 binh sĩ đã được phái đi và 5 đảo bị chiếm đóng. Nhưng Trung Quốc không thực hiện bước chuyển nào theo hướng đó. Trên thực tế, họ đã làm điều ngược lại, xuống thang cuộc xung đột, thả tất cả các tù binh từ Quần đảo Hoàng Sa trong vòng vài tuần và làm im tiếng các phát ngôn dân tộc chủ nghĩa. Nhưng lãnh đạo cộng sản Bắc Việt (vốn đã công khai im lặng về trận chiến) đã tin chắc rằng Bắc Kinh có ý định giành lấy nhiều đảo hơn. Tháng 4 năm 1975, ba tuần trước khi Sài Gòn sụp đổ, Hà Nội chiếm lấy 6 đảo thuộc Quần đảo Trường Sa từ VNCH để đảm bảo chúng không lọt vào tay Trung Quốc. Viên trung úy phụ trách đơn vị trú đóng Việt Nam trên đảo Song Tử Tây (Southwest Cay) đã chọn cách bơi 3 km sang đảo Song Tử Đông (Northeast Cay, người Philippines gọi là đảo Parola) do Philippines chiếm hơn là để bị bắt.

Tháng 11 năm 1975, lần đầu tiên, tranh chấp giữa Bắc Kinh và Hà Nội đối với các đảo xuất hiện trước công chúng khi báo Quang Minh (Guangming Ribao [Quang Minh nhật báo]) của Trung Quốc chỉ trích những yêu sách lãnh thổ của Việt Nam. Vào thời điểm đó, Trung Quốc đơn giản là không có khả năng đảm đương nổi một chiến dịch quân sự xa về phía Nam tới Quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, họ đã lặng lẽ chuẩn bị. Trong suốt phần còn lại của thập kỉ đó họ củng cố vị thế của mình ở Quần đảo Hoàng Sa, mở rộng cảng và mở một đường băng trên đảo Phú Lâm năm 1978. Một thập niên sau đó họ có thể làm cho sự hiện diện của họ cảm nhận được theo một cách dứt khoát.

Trong 30 năm đầu tồn tại của mình, Hải quân Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc (PLA) từng là một quân chủng nhỏ, chuyên chú vào việc bảo vệ bờ biển. Lãnh đạo Bắc Kinh cho rằng bất kì cuộc chiến tranh nào phải thắng trên đất liền và vai trò của hải quân sẽ như chiến tranh du kích trên biển: hàng trăm tàu thuyền nhỏ quấy nhiễu kẻ tấn công từ mọi góc độ và cắt đường tiếp tế. (Chiến dịch Hoàng Sa 1974 là hết sức bất thường và đòi hỏi nhiều tháng tập luyện đặc biệt). Nhưng khoảng năm 1982, sự kết hợp giữa Đặng Tiểu Bình ở chóp bu Đảng Cộng sản và đô đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing) phụ trách hải quân mang lại sự thay đổi lớn. Lưu Hoa Thanh vốn là một người cộng sản trung kiên từ khi còn nhỏ và trở nên nổi tiếng trong các ngành chính trị và chống xâm nhập nhạy cảm nhất của quân đội và trong trận chiến chống lại các lực lượng quốc dân đảng trong nội chiến Trung Hoa.[28] Cuộc chiến cũng đã đưa ông tiếp xúc với Đặng Tiểu Bình và quan hệ của họ đã trở thành cùng có lợi. Câu chuyện của thập niên tiếp theo, dẫn theo Giáo sư John Garver, là ‘sự tương tác của các lợi ích quan liêu và quốc gia’[29] hoặc có lẽ, nói theo cách của nhân vật Milo Minder-binder trong quyển tiểu thuyết Catch-22, ‘cái gì tốt cho họ Lưu thi tốt cho Hải quân và cái gì tốt cho Hải quân thì tốt cho Trung Quốc.’ Đặng Tiểu Bình muốn Trung Quốc lấy lại sức mạnh kinh tế nên họ cần nguồn tài nguyên và các tuyến đường thương mại đáng tin cậy cho nó. Ông cũng lo lắng về nguy cơ đất nước bị Liên Xô và các đồng minh, bao gồm cả Việt Nam, bao vây. Lưu Hoa Thanh rất tham vọng, và cùng với các lãnh đạo khác của hải quân, đang kiếm thêm uy tín. Mở rộng vị thế của Trung Quốc ở Biển Đông là một mục tiêu làm hài lòng tất cả.

Trái với Mao, vốn nghiêng về tự lực cánh sinh nên cho xây dựng các ngành công nghiệp ở khu trung tâm của Trung Quốc, cách xa các mối đe dọa từ bên ngoài, cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình nghiêng về thương mại và, do đó, chú trọng vùng bờ biển. Đặc khu kinh tế đầu tiên được tạo ra tại Thẩm Quyến, gần Hồng Kông, năm 1980 và tiếp theo là 14 đặc khu nữa tại các thành phố ven biển khác trong năm 1984. Ngành công nghiệp đầu tiên mở cửa cho đầu tư nước ngoài là dầu hoả ngoài khơi và hai vòng đấu thầu đầu tiên, trong năm 1982 và năm 1984, tập trung vào các lô ngoài khơi bờ biển Hồng Kông và Hải Nam. Chính sách của Đặng Tiểu Bình phụ thuộc vào việc sử dụng các tuyến đường thương mại quốc tế và sớm nhất là ngày 4 tháng 3 năm 1979, có thể sau sự vận động của Lưu Hoa Thanh, ông đã đưa ra những chỉ thị đầu tiên cho hải quân tổ chức các chuyến công tác đường dài.

Ngay sau khi Lưu Hoa Thanh phụ trách lực lượng hải quân, ông bắt đầu xây dựng chiến lược phòng thủ mà ông gọi là ‘phòng thủ năng động nước xanh’. Điều này có nghĩa là kiểm soát vùng biển giữa vùng ‘nước nâu’ ven biển và vùng ‘nước xanh’ ngoài khơi xa cho phép phòng thủ chiều sâu và che chắn các thành phố ven biển đang phát triển nhanh chóng không bị tấn công.[30] Lưu Hoa Thanh định nghĩa vùng ‘nước xanh’ là khu vực nằm giữa bờ biển Trung Quốc và cái mà ông gọi là ‘chuỗi đảo đầu tiên’ - kéo dài từ Nhật Bản đến Đài Loan rồi đến Philippines, Borneo và Singapore. Tàu mới đã được đưa vào, các căn cứ dọc theo bờ biển phía Nam và ở Quần đảo Hoàng Sa đã được mở rộng và tin tình báo đã được thu thập. Theo lịch sử Hải quân Trung Quốc tự xuất bản, tháng 4 năm 1983, Cục Hải dương đã được lệnh phải bắt đầu khảo sát các điều kiện ngay phía Bắc của Quần đảo Trường Sa. Sau đó, tháng 5, hai tàu đã được phái về phía Nam tới tận bãi ngầm James, rạn san hô ngầm cách đảo Hải Nam hơn 1 500 km và cách bờ biển của Malaysia chỉ 100 km, nhưng lại được tuyên bố là ‘điểm cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc’. Trên tàu có hàng chục nhà hàng hải và các giảng viên đại học hải quân.[31] Năm 1984, nhiều tàu nghiên cứu đã khảo sát hầu hết các khu vực của Quần đảo Trường Sa, gần như tới tận bờ biển Philippines. Tháng 2 năm 1985, một đội tàu thực hiện một hành trình dài tới Nam Cực. Tới năm 1987, lực lượng hải quân đã sẵn sàng cho cuộc chiến nơi xa.

Lãnh đạo Trung Quốc lo ngại rằng, ngay cả khi họ đã trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào Biển Đông, họ đang mất chỗ đứng trong Quần đảo Trường Sa. Tháng 6 năm 1983, Malaysia đã góp mặt cùng Đài Loan, Việt Nam và Philippines trong việc chiếm đóng các rạn đá. Danh sách các lựa chọn cho hải quân tìm kiếm các căn cứ về phía trước ở Biển Đông đã trở nên ngắn hơn. Đã đến lúc ra tay và thời điểm này là thích hợp. Nền kinh tế đã phát triển và cung cấp các nguồn lực bổ sung cho hải quân. Cải tổ của Mikhail Gorbachev đã chấm dứt các mối đe dọa từ Liên Xô và quan hệ với Hoa Kì là tốt hơn bao giờ hết. Trung Quốc không có gì để mất khi kích động một cuộc xung đột với Việt Nam. Từ khi Việt Nam xâm lược Campuchia vào tháng 12 năm 1978 và Trung Quốc xâm lược trừng phạt miền Bắc Việt Nam hai tháng sau đó, quan hệ giữa hai bên chỉ tốt hơn thù địch một ít.[32] Việt Nam đã quốc tế bị cô lập vì đang chiếm đóng Campuchia và khó có khả năng nhận được ủng hộ gì nhiều từ đồng minh chính Moscow ngoài ủng hộ bằng lời. Theo nhà theo dõi Trung Quốc Taylor Fravel, đầu năm 1987 Bắc Kinh đã đưa ra quyết định chiếm đóng lãnh thổ.[33] Bây giờ điều mà lãnh đạo cần là một cái cớ.

Tháng Ba năm 1987, một cuộc họp của UNESCO uỷ nhiệm các nước thành lập các trạm theo dõi như là một phần của một cuộc khảo sát các đại dương thế giới. Không ai, kể cả Việt Nam, dường như đã nhận thấy rằng một trong những vị trí do Trung Quốc đề xuất là tại Quần đảo Trường Sa. Ngày 4 tháng 4, Học viện Khoa học Trung Quốc đã cử ra một phái đoàn đi khảo sát các đảo. Tháng 5 hải quân phái một đội tàu nhỏ để tham gia cùng họ, thực hành tiếp tế và chữa cháy trên đường đi và đặt một khối bê tông lên đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef, Trung Quốc gọi là Yongshu [Vĩnh Thử]), tuyên bố đó là lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều cuộc khảo sát diễn ra trong những tháng tiếp theo cho đến ngày 6 tháng 11 năm 1987, lãnh đạo Bắc Kinh đã bật đèn xanh cho xây một trạm quan sát trên đá Chữ Thập. Điều bất thường đối với một trung tâm nghiên cứu dân sự là kế hoạch xây dựng lại bao gồm một trại lính hai tầng, cầu cảng, một nhà chứa máy bay trực thăng và một bãi đáp.

Không ai ngay từ đầu lại chọn đá Chữ Thập để đặt một trạm nghiên cứu. Lúc triều cao, nó gần như hoàn toàn nằm dưới mặt nước, trừ một mỏm đá duy nhất cao một mét ở đầu phía Tây Nam. Phần còn lại bao gồm một vòng san hô, dài 25 km và rộng 7 km. Lí do chính khiến nó không bị chiếm đóng là hầu như chẳng có gì để chiếm ở đó. Nhưng điều này không ngăn cản lực lượng hải quân của Lưu Hoa Thanh. Ngày 21 tháng 1 năm 1988 bốn tàu Trung Quốc với công binh và vật liệu xây dựng đến và bắt tay tạo ra một cái gì đó có thể giống như một khu đất nổi. Ngày hôm sau, một tàu Việt Nam đến để xem điều gì đang diễn ra rồi rời đi không có sự cố gì xảy ra.[34]

Cho đến tận ngày đó, Việt Nam có lẽ cảm thấy khá an toàn trong khu vực này của Quần đảo Trường Sa: họ chiếm đóng tất cả mọi thứ đáng chiếm đóng. Trên rạn London, cách đá Chữ Thập 72 km về phía Nam, và trên bãi Union, khoảng 93 km về phía Đông của nó, họ kiểm soát hầu như tất cả mọi thứ nhô khỏi mặt nước. Đá Chữ Thập chỉ được chỉ coi hơn một ít so với mối nguy hiểm cho lái tàu trên tuyến đường trở về nhà. Nhưng họ đã đánh giá thấp công binh hải quân Trung Quốc. Trong 9 ngày những kẻ mới đến đã cho thấy sự quyết tâm của họ đối với môi trường biển qua việc khai phá các kênh xuyên qua rạn san hô và sau đó nạo vét các mảnh vụn san hô đủ tạo thành khu đất khô ráo 8 000 mét vuông.[35]



Đá Chữ Thập (chỗ có dâu X đỏ là căn cứ TQ năm 1988)

Chỗ có dấu X phóng to

南海永暑礁(9,37“N,112,58”E)
Căn cứ của TQ ỡ đá Chữ Thập trước đây

Phần trên đá Chữ Thập được TQ cải tạo (ảnh chụp tháng 11/2014)

Việt Nam chợt tĩnh với những gì đã xảy ra và vào ngày 31 tháng 1 đã phái hai tàu để đưa một toán công tác lên đá Chữ Thập. Nhưng nhiệm vụ này thất bại khi đối mặt với thời tiết khắc nghiệt và sự vượt trội quân số phía Trung Quốc. Ngày 18 tháng 2 Trung Quốc đã đi một bước xa hơn, cho lính thủy đổ bộ lên thể địa lí duy nhất của rạn London mà Việt Nam không chiếm đóng: đá Châu Viên (Trung Quốc gọi là Huayang [Hoa Dương]), một mỏm đá hình hạt đậu khoảng một mét rưỡi trên mực nước biển. Việt Nam tức giận và Hà Nội đã đưa ra phản đối công khai: Châu Viên chỉ cách tiền đồn gần nhất của họ 19 km. Các phương tiện truyền thông Việt Nam cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ phải đối mặt với tất cả những hậu quả nếu họ không rời khỏi hai rạn đá này. Vùng biển này gay gốc và chính trị lại trở nên gay gốc hơn.

Gần một tháng sau đó, do sợ lặp lại sự cố Châu Viên, Việt Nam có bước chuyển để giữ an toàn cho các thể địa lí trên bãi Union mà họ không chiếm. Bãi Union là một gò đá lớn dưới mặt nước, có diện tích khoảng 470 cây số vuông, bao phủ trong các rạn san hô nhú lên khỏi mặt nước ở 31 chỗ. Thể địa lí duy nhất trên bãi Union gần với định nghĩa về đảo của hầu hết mọi người là đảo Sinh Tồn (Sin Cowe) trên đó có một đơn vị trú đóng của Việt Nam vào năm 1988. Nằm cách đảo Sinh Tồn 17 cây số về phía Đông Nam là đá Gạc Ma (Johnson Reef - Trung Quốc gọi là Chigua [Xích Qua]) hầu như nằm dưới nước dù có một số mỏm đá nhô lên mặt nước, mỏm cao nhất chỉ hơn một mét trên sóng nước. Cách đá Gạc Ma ít hơn 2 km về phía Bắc là đá Cô-Lin [Collins Reef] (đôi khi được gọi là Johnson Reef North) và cách nó 15 km về phía Đông Bắc là rạn Lansdowne, cả hai đều không ở được và chủ yếu chìm dưới nước khi triều cao.[36]

Tối 13 tháng 3, Hải quân Việt Nam phái 3 tàu chia nhau đi tới đá Gạc Ma, đá Collins và đá Lansdowne. Thật không may cho những người trên tàu, các con tàu cũ rỉ sét này[37] đã bị phía Trung Quốc phát hiện, họ đã chạy tới ngăn chặn với một lực lượng lớn hơn và trang bị vũ khí nhiều hơn. Rạng sáng ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam chiếm được đá Collins và Lansdowne (và vẫn duy trì sự kiểm soát ở đó cho đến ngày nay). Chiến dịch đá Gạc Ma biến thành thảm họa. Đích xác chuỗi sự kiện là gì vẫn còn tranh cãi nhưng có vẻ như Việt Nam đổ bộ trước trên một chiếc thuyền nhỏ chở đầy các dụng cụ xây dựng, và cắm cờ trên san hô. Sau đó quân Trung Quốc đến và đã cố nhổ bỏ các lá cờ. Hai bên to tiếng với nhau và sau đó xô xát. Các tường trình phía Trung Quốc nói rằng một lính Việt Nam nổ súng và làm bị thương một lính Trung Quốc sau đó họ rút lui khi các tàu Việt khai hỏa bằng súng máy. Phía Việt Nam nói điều ngược lại: Trung Quốc bắn chết phó chỉ huy của lực lượng đổ bộ Việt Nam và rút lui trước khi tàu của họ nổ súng. Điều lạ là một bộ phim tuyên truyền do Hải quân Trung Quốc đưa ra năm 2009 để chào mừng kỉ niệm lần thứ 60 của hải quân cho thấy phiên bản của Việt Nam đáng tin hơn. Video này, bây giờ đã có trên YouTube, được quay từ một trong các tàu Trung Quốc và cho thấy lính Việt Nam đứng trong nước sâu tới gối khi thủy triều dâng lên các rạn san hô. Sau đó nhiều cột nước lớn tung toé xung quanh các binh sĩ Việt Nam khi tàu Trung Quốc nổ súng. Trong vài giây hàng người mong manh đã hoàn toàn biến mất và 64 chết trong sóng nước: các khẩu súng máy là của Trung Quốc và các nạn nhân là Việt Nam. Người Trung Quốc đã thắng trận Gạc Ma với ưu thế.

Gạc Ma và các thể địa lí lân cận

Căn cứ Gạc Mạ (2/2006)

Chigua Reef, Nansha Islands, Sansha City, Hainan Province, China
Căn cứ TQ ở Gạc Ma trước đây

Căn cứ Gạc Ma (8/2014)

Với 3 tàu yểm trợ hoạt động của Việt Nam cũng bị phá hủy, người Trung Quốc có thể tự do hơn trong hành động trong vài tuần kế tiếp. Họ đã chiếm 3 rạn đá: Chữ Thập, Châu Viên và Gạc Ma. Tới ngày 8 tháng 4 năm 1988 họ đã chiếm thêm 3 rạn đá nữa: Kennan hoặc McKennan Reef - một phần của bãi Union cách đảo Sinh Tồn (do Việt Nam chiếm đóng) 19 km về phía Đông, đá Subi cách đảo Thị Tứ (do Philippines chiếm đóng) 15 km và đá Lạc/Gaven phần của bãi Tizard mà đảo Ba Bình (đảo lớn nhất trong Quần đảo Trường Sa và đảo duy nhất do Đài Loan chiếm đóng), và Nam Yết (do Việt Nam chiếm đóng) cũng nằm trên đó.

Danh sách này cho thấy mức độ hoạch định và nguồn lực mà nhà nước Trung Quốc đã dành cho chiến dịch này. Dù đối mặt với kháng cự vũ trang và thời tiết xấu họ đã chiếm 6 rạn san hô chủ yếu nằm dưới mặt biển và chỉ trong vòng hai tháng đã xây dựng xong các nhà giàn sinh sống, các cơ sở tiếp tế và các ụ phòng thủ. Hơn nữa, mỗi một trong 6 rạn san hô này là vị trí chiến lược nằm trong vòng một vài km của các đảo chính do các đối thủ TQ nắm giữ và từng rạn chưa từng bị chiếm đóng trước năm 1988. Các đoàn điều tra đã thực hiện công việc của mình một cách xuất sắc. Trung Quốc hiện nay đã có nhiều hơn một chỗ đứng trong Quần đảo Trường Sa.

Lưu Hoa Thanh đã thắng. Chiến lược ‘nước xanh’ của ông bây giờ là một thực tế. Đặng Tiểu Bình thưởng cho ông hàm đô đốc thực thụ, một chỗ trong Quân Uỷ Trung ương của cả Đảng và nhà nước và một ghế trong Quốc hội. Bốn năm sau đó, sau khi Đặng Tiểu Bình nghỉ hưu, ông trở thành một thành viên của nhóm bên trong nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc: ban Thường vụ Bộ Chính trị. Trong tất cả các vai trò này ông tiếp tục thúc đẩy ngày càng nhiều nguồn lực dành cho hải quân. Ông yêu cầu, và đã nhận được nhiều tàu lớn, công nghệ tốt hơn và giúp cho giấc mơ của ông về lực lượng hải quân nước xanh có đầy đủ năng lực. Nhưng Trung Quốc nói chung đạt được gì? Bây giờ họ đã có thêm nhiều căn cứ mới trên Biển Đông, nhưng còn gì khác? Điều tốt nhất có thể nói là việc chiếm đóng đã ngăn chặn các nước khác tăng cường các vị trí của họ. Không nước nào khác có thể khoan dầu hoặc độc quyền hoạt động đánh bắt cá trong vùng nhưng dù tất cả công sức bỏ ra cho việc chiếm giữ và xây dựng căn cứ, Trung Quốc cũng thế - không thể làm các điều đó.

**********

Từ ngày đắc cử, tổng thống Philippine, Fidel (Eddie) Ramos, đã phải đấu tranh với một làn sóng mạnh mẽ tình cảm chống Mĩ. Sự phẫn uất đối với ủng hộ trước đó của Washington đối với chế độ độc tài Marcos kết hợp với trào lưu chủ nghĩa dân tộc sâu sắc hơn, làm nên kết quả bỏ phiếu của Thượng viện Philippines, trong tháng 9 năm 1991, tống Hoa Kì ra khỏi hai căn cứ quân sự rộng lớn. Căn cứ không quân Clark đã thực sự đóng cửa vào ngày 15 tháng 6 năm 1991 khi núi lửa Pinutabo phun trào, trút xuống nó hàng ngàn tấn vụn đất đá. Việc bỏ phiếu có nghĩa là điều đó sẽ không được chỉnh sửa. Ngày 24 tháng 11 năm 1992, cờ sao sọc đã được kéo xuống lần cuối cùng tại căn cứ hải quân vịnh Subic. Ngày hôm sau Philippines trên thực tế không còn khả năng tự vệ. Tệ hơn nữa, trợ cấp hàng năm mà Mĩ cấp cho lực lượng vũ trang Philippines (AFP) cũng biến mất. Tài trợ thiếu thốn trong nhiều năm, hải quân và không quân không thể nào lấp đầy khoảng trống để lại do sự ra đi của người Mĩ. Hải quân của một quốc gia với vô số đảo mà chỉ gồm khoảng 50 tàu tuần tra và vận chuyển cổ điển dư thừa của Mĩ thời chiến tranh thế giới thứ hai và lực lượng không quân chỉ có 5 máy bay phản lực F5 hoạt động được, sản xuất vào năm 1966.

Sau nhiều năm trì trệ kinh tế xen lẫn với hỗn loạn chính trị, mục tiêu của Ramos là cố gắng sử dụng tiềm năng dầu chưa được khai thác của nước này để giúp người dân thoát cảnh đói nghèo. Từ khi có các cuộc thăm dò đầu tiên trong thập niên 1970 đã có những hi vọng rằng sự giàu có hơn nữa nằm ở ngoài khơi. Vì vậy, tháng 5 năm 1994, chính phủ Ramos bí mật chấp thuận đơn của công ti Philippines, Alcorn Petroleum (một công ti con của một công ti Mĩ, Vaalco Energy, tiến hành đánh giá trên giấy tiềm năng dầu khí tại một khu vực ngoài khơi bờ biển Palawan. Mặc dù không dính dáng đến bất cứ công việc khảo sát hay khoan trên biển, điều này bị cho là vi phạm Tuyên bố Manila, một thỏa thuận vào năm 1992 giữa 6 thành viên của ASEAN lúc đó (Hiệp hội các nước Đông Nam Á) phải thực hành kiềm chế trong hành động ở Biển Đông. Năm 1992, Trung Quốc đã trao quyền khoan cho công ti Mĩ, Crestone, trong một khu vực xa hơn về phía Tây và Việt Nam đã trao cho công ti Mĩ khác, Conoco, các lô chồng lấn với khu chuyển nhượng của Crestone (xem chương 5 để biết thêm về điều này). Tuy nhiên, sau khi tin tức về cuộc khảo sát rò rỉ ra ngoài, Trung Quốc phản đối điều mà họ coi là xâm phạm chủ quyền của mình. Ngòi nổ đã loé lên cho một cuộc khủng hoảng khu vực.

Thuyền trưởng Joefel Alipustain là người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả. Ông và các đồng đội của mình trên chiếc tàu đánh cá Analita đang sắp tiến hành công việc bình thường của họ ngày 10 tháng 1 năm 1995 thì phát hiện một điều bất thường. Nhô lên mặt biển vài mét, nằm bên trên những con sóng khổng lồ trên các cột to, là bốn mặt sàn lớn, mỗi mặt sàn có ba hoặc bốn lô cốt bát giác. Trong mùa mưa bão, ở ngư trường truyền thống của đoàn đánh cá này, một khối đá hình móng ngựa ngập nước khi triều cao đã bị chiếm đóng. Và những kẻ chiếm đóng khó mà hài lòng khi bị phát hiện; người trên tàu Analita nhanh chóng thấy mình bị các tàu thù địch vây quanh. Ngạc nhiên, họ phát hiện ra những kẻ xâm phạm là Trung Quốc, 114 km gần Philippines hơn so với chỉ một vài tháng trước. Những người trên tàu đã bị giữ một tuần tới khi được trả tự do với điều kiện không được nói cho ai biết những gì họ đã thấy. Nhưng cam kết đó chỉ kéo dài cho tới khi Analita về tới bến và thế giới nhanh chóng biết được tên nơi họ bị giam giữ: đá Vành Khăn (Mischief Reef, Trung Quốc gọi là Meiji Jiao [Mĩ Tế tiêu], Philippines gọi là Panganiban)[38].Và vị trí của đá Vành Khăn ở đâu? Hầu như nằm ngay chính giữa khu vực được Alcorn Petroleum khảo sát[39]

Nhà chức trách Philippines phủ nhận. Họ một mực cho rằng ‘điều đó không thể là sự thật’. Chính phủ đã có những điều khác trong đầu. Manila đang chủ trì cuộc họp mặt Kitô giáo lớn nhất trong lịch sử: 4 triệu người đến xem Giáo Hoàng John Paul II cử hành Thánh Lễ (Khu vực cũng đã phần nào bị phân tâm bởi trận động đất Kobe cũng trong tuần đó.) Chỉ sau khi Giáo Hoàng rời khỏi thành phố thì chính quyền Ramos mới có thể chuyển sự chú ý của mình ra biển. Một máy bay hải quân đã được phái đi nhưng dường như không thể tìm thấy bất kì bằng chứng về lô cốt trên sàn. Người Trung Quốc đã đi vào một hình thức chối bỏ khác: không có sự việc gì cả với chiếc thuyền đánh cá, họ nói, và không có căn cứ trên đá Vành Khăn. Nhưng tới ngày 9 tháng 2 chính phủ Ramos đã có bằng chứng ảnh chụp trưng cho báo chí thế giới thấy và câu chuyện của Trung Quốc cũng thay đổi. Vâng, có các công trình kiến trúc, họ thừa nhận, nhưng chúng do Ngư chính xây, không phải hải quân. Tuy nhiên, điều đó dường như không phải để giải thích sự hiện diện của các đĩa thu sóng vệ tinh trên các túp lều hoặc 8 tàu vận chuyển hải quân vũ trang xung quanh rạn san hô này. Sau đó, họ nói với các nhà chức trách Philippines rằng căn cứ này do các nhân viên hải quân ‘cấp thấp’ không có thẩm quyền thích đáng xây lên.[40] Nhưng ý tưởng rằng hàng trăm tấn gỗ và thép, các đơn vị nhà tiền chế, thiết bị thông tin liên lạc và tất cả những con người và vật liệu cần thiết để thiết lập 4 cơ sở này có thể được vận chuyển hàng trăm cây số mà không có sự cho phép chính thức quả là chuyện buồn cười.[41]

Đá Vành Khăn (Chỗ có dấu X  là  chỗ TQ xây căn cứ )

Chỗ có dấu X phóng to

中华人民共和国--美济礁
Căn cứ TQ ở đá Vành Khăn (chỗ đánh dấu X trên bản đồ)

Ở Manila phản ứng tức giận lại bị làm trầm trọng thêm bởi cảm giác bất lực. Sau khi tổng thống Marcos đổ và Chiến tranh Lạnh kết thúc, công chúng và các chính trị gia cho rằng nước này không phải đối mặt với mối đe dọa nào từ bên ngoài và cứ theo đó mà bỏ phiếu. Năm 1989, với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng, Ramos đã đề xuất kế hoạch hiện đại hóa quân sự $ 12,6 ti trong 15 năm. Ông đã cố dành ưu tiên cho kế hoạch đó một lần nữa sau khi trở thành tổng thống, nhưng nó vẫn nằm chắc trên kệ. Phải mất đến hai tuần sau khi Ramos trình bày rõ rằng lực lượng hải quân Trung Quốc đã lao lách xây dựng một cơ sở ngoài khơi cách bờ 209 km mà không ai để ý thì cuối cùng Quốc hội mới dành cho thời gian để thảo luận về kế hoạch này.[42] Đạo luật Hiện đại hóa đã được phê chuẩn trong vòng vài ngày nhưng nghị quyết để thực sự thực hiện nó phải mất thêm gần 2 năm nữa mới được thông qua.[43] (Năm 1997, do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, hầu hết các nguồn tài trợ đều biến mất.) Tháng 2 năm 1995, do bị nhiều trì hoãn, Ramos không có phương án quân sự. Ông đã bị Bắc Kinh lừa dối. Hoa Kì, vẫn còn giận về việc ngưng hợp đồng về căn cứ quân sự và lo lắng nhiều hơn bởi các sự kiện ở Bosnia, nên không vội vã giúp đỡ. Ông quay sang các nước láng giềng để thay vào.

Đó là một bước ngoặt. Mãi cho đến tháng 1 năm 1995, việc bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông thật sự mới chỉ ảnh hưởng một mình Việt Nam - và vào lúc Hà Nội bị quốc tế cô lập. Tất cả các thể địa lí do Trung Quốc chiếm được đều hoặc ở Quần đảo Hoàng Sa hoặc chạy dọc theo cạnh phía Tây của Quần đảo Trường Sa, xa các bên tranh chấp khác. Nhưng với việc chiếm lấy đá Vành Khăn ở cạnh phía Đông, lần đầu tiên Trung Quốc đã lấn vào vùng biển do một thành viên của ASEAN tuyên bố chủ quyền. Sau động thái này của Trung Quốc, không những Philippines mà cả Malaysia, Brunei và Indonesia đều cảm thấy bị đe dọa trực tiếp. Việt Nam, do gia nhập ASEAN tháng 7, cũng đã vận động hành lang để có chung một lập trường vững chắc. Ngay cả Singapore, thường vẫn thích ưu ái Bắc Kinh, cũng đã quan ngại. Sau đó trong một cuộc phỏng vấn đáng nhớ với BBC, cựu thủ tướng Lí Quang Diệu (Lee Kuan Yew) so sánh các hành động của Trung Quốc với ‘một con chó lớn leo lên một cây và giơ cao chân ra dấu là nó có mặt ở đó để cho các con chó nhỏ hơn trong khu vực biết rằng con chó lớn đã qua đó và nó sẽ trở lại.’[44]

Nhưng ASEAN cũng không có phương án quân sự: không một thành viên nào sẵn sàng mạo hiểm gây chiến với Trung Quốc. Cấm vận cũng ở ngoài tầm, nên thay vào đó, vào ngày 18 tháng 3, họ đã đưa ra một tuyên bố với lời lẽ mạnh mẽ bày tỏ mối quan ngại nghiêm trọng, kêu gọi tất cả các bên kiềm chế thực hiện những hành động gây mất ổn định khu vực và đe dọa hòa bình và an ninh Biển Đông và đặc biệt kêu gọi sớm có giải pháp cho những vấn đề gây ra bởi các diễn biến gần đây ở đá Vành Khăn. Đây là một đàm phán khá khó khăn theo tiêu chuẩn ASEAN, nhưng nó không có ảnh hưởng ngoài biển: các lô cốt vẫn nằm trên các mặt sàn. Trung Quốc vẫn giữ thái độ bất hợp tác. Tháng 4, tại Diễn đàn ASEAN-Trung Quốc mới tổ chức lần đầu, rõ ràng đó là nơi có thể thảo luận về vấn đề này, Bắc Kinh chỉ đơn giản là không chấp nhận đưa nó vào chương trình nghị sự. Thay vào đó vấn đề đã được nêu lên, và theo như tường thuật là khá mạnh mẽ, tại một cuộc họp không chính thức trước đó. Chính phủ Philippines cho biết họ hài lòng với sự ủng hộ, nhưng các công trình kiến trúc vẫn còn trên rạn san hô.

Bắc Kinh từ chối thảo luận về vấn đề này tại các cuộc họp chính thức của khu vực mà Ramos mong muốn. Vì vậy Ramos buộc phải đồng ý theo kênh ưa chuộng của Trung Quốc - thảo luận song phương – để thay vào, và tháng 8, hai bên đã thống nhất ‘bộ quy tắc ứng xử’ để tránh những sự cố trong tương lai: nhiều báo cáo hơn, nhiều giấy hơn, nhưng vẫn không có sự thay đổi thực tế. Ngay từ đầu, Trung Quốc đề xuất Philippines cùng phát triển triển vọng dầu khí trong những khu vực mà TQ yêu sách – trên thực tế là đòi hỏi Philippines công nhận các quyền lãnh thổ của họ ở Quần đảo Trường Sa. Chính sách này - được gọi là vừa chiếm lấy vừa đàm phán, hay ngắn gọn hơn, vừa lấy vừa đàm - là một cái gì đó mà không một bên tranh chấp nào sẵn sàng chấp nhận.

Vậy tại sao Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn vào cuối năm 1994? Nguyên cớ ban đầu rất có thể là thông báo của Philippines về kế hoạch phát triển dầu khí. Nhưng cũng có những lí do nội bộ. Nhà phân tích khu vực Ian Storey ở Singapore cho rằng đó là kết quả của việc chạy đua quyền lực trong tầng lớp chóp bu của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào lúc quyền lực của Đặng Tiểu Bình suy giảm.[45] Người kế tục do Đặng Tiểu Bình chọn, Giang Trạch Dân, không phải từ quân đội nên cần sự ủng hộ của lãnh đạo PLA cũng như các phe phái dân tộc chủ nghĩa nếu ông nắm vị trí đứng đầu. Năm 1994, một người cũng được Đặng Tiểu Bình bảo trợ, Đô đốc Lưu Hoa Thanh, là uỷ viên chủ chốt trong ban Thường vụ Bộ Chính trị và là phó chủ tịch Quân Uỷ Trung ương - hai cơ quan đầu não trong chính trường Trung Quốc. Có vẻ rất có nhiều khả năng là ông đã thấy việc chiếm đóng đá Vành Khăn là một phần quan trọng của chiến lược ‘nước xanh’ và rằng một chính trị gia khôn ngoan như Giang Trạch Dân sẽ hoàn toàn ủng hộ nó. Động thái này rõ ràng là một thành công. Lực lượng Trung Quốc chiếm đóng đá Vành Khăn cho đến hiện nay và hậu quả [với Trung Quốc] nằm ở mức tối thiểu.

Các láng giềng của Philippines đã rút ra bài học từ cuộc khủng hoảng. Tháng 4 năm 1995, chính phủ Indonesia phát hiện rằng Trung Quốc đã đưa ra yêu sách đối với vùng biển gần Quần đảo Natuna, trong vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia. Được báo động bởi các sự kiện tại đá Vành Khăn, Jakarta quyết định phương án tốt nhất của họ là ngăn chặn. Tháng 8 năm 1996, Indonesia, Malaysia và Brunei tổ chức tập trận chung ở Borneo, tại rìa phía Nam của Biển Đông. Tháng sau đó, Indonesia tổ chức tập trận hải quân lớn nhất từ trước đến nay xung quanh quần đảo Natuna: 27 tàu, 54 máy bay và gần 20 000 nhân viên đã tham gia vào trò chơi chiến tranh, với đỉnh cao là một cuộc tấn công đổ bộ lên hòn đảo mà dự án khí tự nhiên nhiều tỉ đô la của Exxon sẽ triển khai ở đó. Hải quân Trung Quốc đã cử 5 tàu tới quan sát cuộc tập trận nhưng chỉ để cho thấy chắc chắn rằng Bắc Kinh đã nhận được thông điệp, tổng tham mưu trưởng Trung Quốc, Phó Toàn Hữu, được mời đến Jakarta họp với Tổng thống Suharto và những người đứng đầu quốc phòng của ông.[46] Trung Quốc vẫn cứ giữ nguyên yêu sách phần phía Bắc của mỏ khí nhưng cho đến rất gần đây, chẳng hành động gì nhiều để khẳng định nó. (Một vài sự cố kể từ năm 2012 đã cho Indonesia lí do để quan ngại lại, trong đó có nhiều sự cố trễ hơn sau này.)

Sau nhiều tháng Indonesia nói chuyện nhẹ nhàng nhưng vung vẩy một cây gậy lớn còn Philippines thì làm ngược lại, tình hình ở Biển Đông ổn định đúng thời gian có cuộc họp hàng năm của Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC). Do trùng hợp ngẫu nhiên cuộc họp tháng 11/1996 tổ chức tại Manila, có đến 21 người đứng đầu chính phủ tham gia. Nó đã cho Giang Trạch Dân có cơ hội để thực hiện chuyến thăm Philippines lần đầu tiên của người đứng đầu nhà nước Trung Quốc. Khi APEC kết thúc, ông đã dành ba ngày gặp gỡ và chào đón các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và chính trị của nước này. Vào đầu ngày thứ hai, tổng thống Ramos tổ chức cho Giang Trạch Dân và đoàn tuỳ tùng một chuyến đi thuyền vào sáng sớm trên Vịnh Manila. Khi họ ăn sáng, một ban nhạc Hải quân Philippines đánh lên một loạt bản nhạc từ một tập bài hát có tựa Sailing Together to the 21st Century (Cùng đáp tàu đến thế kỉ thứ 21). Hai nhà lãnh đạo đã xuống sàn cùng hát bài song ca ‘Love Me Tender’ của Elvis Presley. Khi khoảng 60 khách vỗ tay, tình trạng thù địch của đá Vành Khăn dường như ở quá xa xôi. Nhưng ngoài biển, chẳng có gì thay đổi. Gần đúng hai năm sau chuyến đi tàu karaoke, Hải quân Trung Quốc đã chuyển nhà giàn trên đá Vành Khăn thành lô cốt bê tông với bến tàu và sân đỗ trực thăng. Trung Quốc đã vừa đàm vừa lấy.

Ước muốn thu tóm các đảo ở Biển Đông bắt đầu với việc phất cờ dân tộc chủ nghĩa và kết thúc bằng một cuộc chạy đua khẳng định chủ quyền các mỏ dầu tiềm năng và quyền đánh cá. Chưa có cuộc chiếm đóng nào mang lại phần thưởng mong đợi. Thay vào đó chúng đã tạo ra sự bất an thường xuyên, ngăn chặn việc khai phá các nguồn tài nguyên biển và ép các nhà chính trị đi vào các trận đấu võ mồm và có các cử chỉ sô-vanh hiếu chiến vào lúc mà họ có thể muốn tìm kiếm sự hợp tác khu vực hơn. Trung Quốc là kẻ đến sau trong bữa tiệc Trường Sa nhưng mỗi lần họ chiếm thêm một thể địa lí, vị thế đàm phán của Bắc Kinh trở nên mạnh mẽ hơn. Thế thì những lợi ích thiết thực nào họ đã đạt được? Chỉ có những tác động tiêu cực trong việc ngăn chặn những bên khác không làm nên thắng lợi. Bắc Kinh rõ ràng xem đây là một chiến lược dài hạn để cuối cùng sẽ buộc các nước khác chia sẻ quyền chủ quyền (sovereign rights). Nhưng họ sẽ chia sẻ hay không? Có một thay thế cho ‘mạnh là đúng’ (‘might is right’) hay không? Các nguyên tắc của luật pháp quốc tế có thể cung cấp một thay thế hay không?

-----------------------
* Tên dịch từng chữ hai thể địa lí ở Biển Đông (Nguy Hiểm từ North Danger Reef [cụm Song Tử] và Ranh Ma/Mãnh từ Mischief Reef [đá Vành Khăn]) mà việc chiếm đóng của TQ vẫn còn gây tranh cãi và cũng là hai đặc điểm đáng lưu ý của các tranh chấp ở Biển Đông trong giai đoạn này. (ND)

=============================
Xem thêm: (bản song ngữ chương này)





[1] Spencer Tucker, D’Argenlieu, Georges Thierry, in Spencer Tucker (ed), The Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social and Military History, 2nd edn (Santa Barbara, California, 2011).
[2] Quoted in Stein Tonnesson, Vietnam 1946: How the War Began (Berkeley, 2010).
[3] Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline, Modern Asian Studies, vol. 40 (2006), 157.
[4] Michael Sullivan, The Meeting of Eastern and Western Art, rev. edn (Berkeley, 1997), 99.
[5] Ulises Granados, Chinese Ocean Policies Towards the South China Sea in a Transitional Period, 19461952, The China Review, vol. , no. 1 (2006), 153.
[6] Stein Tønnesson, The South China Sea in the Age of European Decline, Modern Asian Studies, vol. 40 (2006), 1, esp. 33.
[7] Ibid, 21.
[8] Daniel J. Dzurek, The Spratly Islands Dispute: Whos On First, Maritime Briefings, vol. 2, no. 1 (1996), 15. Có thể xem tại https://www.duriac.ibrupublicationsviewid222.
[9] Phỏng vấn cá nhân với Ramir Cloma, con trai của Filemon Cloma, ngày 22/7/2012.
[10] Ibid.
[11] A.V.H. Hartendorp, History of Industry and Trade of the Philippines: The Magsaysay Administration (Manila, 1958), 209-30; Jose V. Abueva, Arnold P. Alamon and Ma. Oliva Z. Domingo, Admiral Tomas Cloma: Father of Maritime Education and Discoverer of FreedomlandKalayaan Islands (Quezon City, National College of Public Administration and Governance, University of the Philippines, 1999), 36.
[12] Monique Chemillier Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands (Leiden, 2000), 42.
[13] Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline, Modern Asian Studies, vol. 40 (2006), 1, esp. 50.
[14] Monique ChemillierGendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands (Leiden, 2000).
[15] Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline, Modern Asian Studies, vol. 40 (2006), 1, esp. 50.
[16] Rodolfo Severino, Where in the World is the Philippines? (Singapore, 2010).
[17] A.V.H.  Hartendorp, History of Industry and Trade of the Philippines: The Magsaysay Administration (Manila, 1958).
[18] Rodolfo Severino, Where in the World is the Philippines? (Singapore, 2010).
[19] Daniel J. Dzurek, The Spratly Islands Dispute: Whos On First, Maritime Briefings, vol. 2, no. 1 (1996),19. Available at https://www.dur.ac.uk/ibru/publications/view/?id=232.
[20] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea (London, 1982).
[21] Robert S. Ross, The Indochina Tangle: China’s Vietnam Policy 19751979 (New York, 1988).
[22] Chinese amphibious assaults in the Paracel Archipelago SRD-SR44. USArmy Special Research Detachment, Fort Meade, January 1974. Available from USArmy Military History Institute.
[23] US Embassy Saigon, Weekly Roundup January 16 1974 US Embassy Saigon. Available at http://aad.archives.gov/aad/createpdf?rid=10696&dt=2474&dl1=1345. See also RVNCaptain Ha Van Ngac, The January 19, 1974 Naval Battle for the Paracels against the Peoples Republic of Chinas Navy In the East Sea (Austin, Texas, 1999), 40.
[24] Ho Van Ky Thoai, Valor in Defeat: A Sailors Journey [Can Truong Trong Chien Bai: Hanh Trinh Cua Mot Thuy Thu] (Centreville, Virginia,  self-published).
[25] US Embassy, Saigon, telegram GVN/PRC DISPUTE OVER PARACEL ISLANDS, 17 January 1974. Có thể xem tại http://aad.archives.gov/aadcreatepdf?rid=4752&dt=2474&dl1=1345.
[26] Kiem Do and Julie Kane, Counterpart: A South Vietnamese Naval Officers War (Annapolis, Maryland, 1998).
[27] Foreign Relations of the United States 19691976, vol. 18, China, 19731976, Document 66. Có thể xem tại http://history.state.gov/historicaldocuments/frus1060-76v18/d66.
[28] China: Peoples Liberation Army (Washington, JPRS Report, Foreign Broadcast Information Service, JPRSCAR, 22 January 199O.
[29] Garver, John W, Chinas Push through the South China Sea: The Intersection of Bureaucratic and National Interests, China Quarterly 132 (December 1992) 9991028.
[30] You Ji, The Evolution of China’s Maritime Combat Doctrines and Models: 19492001, RSIS Working Papers, no. 22 (Singapore, May 2002). Available at httpdrintueduhandle102.204422.
[31] Yang Guoyu (ed), Dangdai Zhongguo Haijun [The Modern Chinese Navy] (Beijing, 1987), cited by John W. Garver, Chinas Push through the South China Sea: The Interaction of Bureaucratic and National Interests, The China Quarterly, no. 132 (1992), 9991028.
[32] Muốn biết thêm về điều này xem Chương 9 quyển Vietnam: Rising Dragon (New Haven, Connecticut, and London, 2010).
[33] Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China’s Territorial Disputes (Princeton, New Jersey, 2008), 292.
[34] Chen Hurng, ‘The PRCs South China Sea Policy and Strategies of Occupation in the Paraceland Spratly Islands’, Issues & Studies, vol. 36, no. 4 (2000), 95131.
[35] John W. Garver, ‘Chinas Push through the South China Sea: the Interaction of Bureaucratic and National Interests’, The China Quarterly, no. 132 (1992), 9991028.
[36] David Hancox and Victor Prescott, ‘A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys Amongst those Islands’, Maritime Briefings, vol. 1, no. 6 (1995). Có thể xem tại https://www.dur.ac.ibru/publications/view/?id=229.
[37] Two of the ships were American-built Second World War tank landing craft left behind at the end of the Vietnam War. HQ-505 was formerly the USS Bulloch County, built in 1943. The third was a freighter.
[38] Chinese Navy Detains Filipino Fishermen in Spratlys: Report, Agence France Presse, Manila, 24 January 1995; Lianhe Zaobao (United Morning Post), Singapore, 25 January 1995, 34, quoted in Chen Hurng, The PRCs South China Sea Policy and Strategies of Occupation in the Paracel and Spratly Islands, Issues & Studies, vol. 36, no. 4 (2000), 95131
[39] Liselotte Odgaard, ‘Between Deterrence and Cooperation: Eastern Asian Security after the Cold War’, IBRU Boundary and Security Bulletin, vol. , no. 2 (1998), 73 (map). Có thể cem tại https://www.dur.ac/ibru/publications/view/?id=131.
[40] Philippines Orders Forces Strengthened in Spratlys, Reuters News Service, 15 February 1995, quoted in Ian James Storey, Creeping Assertiveness: China, the Philippines and the South China Sea Dispute, Contemporary Southeast Asia, vol. 21 (1999), 95118.
[41] ‘Dragon Flexes its Muscles in Islands Dispute’, Independent on Sunday, 19 March 1995, quoted ibid.
[42] ‘Spratlys Tension Helps Push Forces Upgrade’, Jane’s Defence Weekly, 25 February 1995, quoted ibid.
[43] . Renato Cruz de Castro, ‘The Aquino Administration’s 2011 Decision to Shift Philippine Defense Policy from Internal Security to Territorial Defense: The Impact of the South China Sea Dispute,’ Korean Journal of Defense Analysis, vol. 24 (2012), 67.
[44] East Asia Today, BBC, Interview with Lee Kuan Yew, broadcast 6 June 1995.
[45] Ian James Storey, Creeping Assertiveness: China, the Philippines and the South China Sea Dispute, Contemporary Southeast Asia, vol. 21 (1999), 95-118.
[46] China Accepts Natuna’s Drill, Says Indonesia, AFP report, Straits Times, 12 September 1996, 21.




No comments: