Showing posts with label VNCH. Show all posts
Showing posts with label VNCH. Show all posts

Saturday, July 19, 2014

Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958

Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958

(Đã đăng tại đây http://www.boxitvn.net/bai/28136 ngày 20/7/2014)

Trong thảo luận về hiệu lực của Công hàm Phạm Văn Đồng có vấn đề về tư cách quốc gia (state) của VNCH ở thời điểm 14/9/1958 (lúc công hàm đưa ra). Dù tâm tư, nguyện vọng của đa số dân chúng cũng như lãnh đạo miền Nam lúc đó đều cho rằng quốc gia Việt Nam chỉ là một, và ngay cả lời nói đầu hiến pháp VNCH 1956 cũng hàm ý này “[ý] thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan”.  Tuy nhiên, nhìn ở góc độ luật pháp quốc tế thì VNCH có vẻ hội đủ các tiêu chuẩn để có tư cách một quốc gia: có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có chính phủ, và có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác như nêu trong công ước Montevideo 1933. Ở thời điểm 4/1975 thì tư cách này có vẻ hiển nhiên: lúc đó VNCH đã thiết lập ngoại giao với 87 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia khác ở cấp bán chính thức, và dĩ nhiên trên thực tế cũng có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có Chính phủ, tức là hội đủ 4 tiêu chuẩn để có tư cách quốc gia.

Còn vào thời điểm 14/9/1958, thì trên thực tế VNCH cũng đảm bảo được 3 tiêu chuẩn dân số, lãnh thổ, chính phủ; và tiêu chuẩn có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác thì có vẻ vẫn đảm bảo. Theo danh sách các nước công nhận VNCH cho tới ngày 7/8/1958 lưu ở Văn khố quốc gia Úc (NAA) có tới 62 nước chính thức hoặc hàm ý công nhận VNCH. Danh sách này ở trang 40-42 (và 44,45) trong hồ sơ "Saigon - Vietnam relations with other countries general [re Republic of Vietnam also known as South Vietnam]” gồm 157 trang số hiệu NAA: A4531, V221/5, có thể truy cập trực tuyến ở http://recordsearch.naa.gov.au/SearchNRetrieve/Interface/DetailsReports/ItemDetail.aspx?Barcode=8135106&isAv=N. Xin giới thiệu bản chính và bản dịch danh sách này tới tất cả các bạn đọc có  quan tâm:

1.      Bản chính: 


2.      Bản dịch:
____________________________________
Hồ sơ V 221/5
699
18 tháng 8 năm 1958

Bộ trưởng,
Bộ ngoại giao,
Canberra.
Việt Nam: Công nhận bởi các quốc gia khác
Đính kèm là danh sách (tính đến 7 tháng 8 năm 1958) tất cả các nước hiện công nhận Việt Nam Cộng Hoà cùng với ngày mà họ công nhận nước Cộng hòa này.

(đã kí)
(D.C Nutter)
Thứ trưởng

DANH SÁCH CÁC NƯỚC CÔNG NHẬN NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ
1.             Hoa Kì                                     26.10.1955
2.             Pháp                                        -
3.             Vương quốc Anh                    -
4.             Úc                                           -
5.             New Zealand                           -
6.             Thái Lan                                  -
7.             Nhật Bản                                 -
8.             Ý                                             -
9.             Trung Hoa QDĐ                     27.10.1955
10.           Hàn Quốc                                -
11.           Hà Lan                                    1.11.1955
12.           Philippines                              2.11.1955
13.           Tây Ban Nha                           3.11.1955
14.           Cuba                                        -
15.           Haiti                                        -
16.           Bolivia                                     6.11.1955
17.           Ecuador                                   -
18.           Brazil                                       8.11.1955
19.           Liberia                                     -
20.           Nicaragua                                -
21.           Chile                                        10.11.1955
22.           Hi Lạp                                     -
23.           Luxembourg                            11.11.1955
24.           Argentina                                                12.11.1955
25.           Costa Rica                               13.11.1955
26.           Canada                                    14.11.1955
27.           Lào                                          15.11.1955
28.           Thổ Nhĩ Kỳ                             18.11.1955
29.           Bỉ                                            22.11.1955
30.           Áo                                           23 11.1955.
31.           Tây Đức                                  5.12.1955
32.           Vatican                                    9.12.1955
33.           Liên minh Nam Phi                 14.12.1955
34.           Honduras                                                12.12.1955
35.           Venezuela                                15.12.1955
36.           Guatemala                               -
37.           Colombia                                 6.1.1956
38.           Sudan                                      5.2.1956
39.           Jordan                                     21.2.1956
40.           Bồ Đào Nha                            24.5.1955
41.           Đan Mạch                               3.1.1957
42.           Lebanon                                  5.3.1957
43*.         Ghana                                      6.3.1957
44*.         Ma-rốc                                    18.6.195
45*.         Tunisia                                    3.8.1957
46*.         Malaysia                                  31.8.1957
47.           Thụy Sĩ                                   1.4.1958
48.           Thụy Điển                               3.7.1958
49*.         Iraq                                          2.8.1958
--------------------------------
50.           Indonesia
51.           Na Uy
Indonésia và Na Uy tương ứng đã xin giấy chấp nhận tổng lãnh sự và lãnh sự ở Sài Gòn, theo luật pháp quốc tế coi như một công nhận “theo pháp lí “(de jure")
-------------------------------
Các nước sau đây không thông báo chính thức công nhận nhưng đã bỏ phiếu cho VN gia nhập Liên Hiệp Quốc, hàm ý công nhận VN:
52.           Ireland (Ai-len)
53.           El Salvador
54.           Peru
55.           Panama
56.           Uruguay
57.           Iran
58.           Ethiopia
59.           Cộng hòa Dominica
-------------------------------
60.Ấn Độ:               Ấn Độ đã bổ nhiệm một Tổng lãnh sự ở Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự
61. Miến Điện:        Miến Điện đã nhận một Tổng lãnh sự của Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự; điều này tương đương với việc công nhận "trên thực tế" (de facto)
62. Campuchia:       Vả lại. Campuchia và Việt Nam đã trao đổi đại diện.

(Danh sách cập nhật đến ngày 7/8/1958)
_________________________________
* Nước được Việt Nam Cộng Hòa công nhận.



Monday, January 28, 2013

VNDCCH hay CHDCVN?


VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ hay CỘNG HOÀ DÂN CHỦ VIỆT NAM?


Trong bản dự thảo Hiếp pháp 2013 do một nhóm các trí thức biên soạn có đề xuất tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà(VNDCCH). Tôi thống nhất với ý kiến đóng góp trên một số diễn đàn là vì lí do đoàn kết, hoà giải hoà hợp toàn dân có lẽ không nên sử dụng thứ gì đã trở thành biểu tượng riêng của một bên. Riêngvới  cái tên nước VNDCCH, có lẽ còn một lí do nữa về mặt ngôn ngữ mà như nhiều người đã chỉ ra là không đúng với trật tự từ trong tiếng Việt. Hiến pháp là một bản văn vô cùng hệ trọng nên cần đảm bảo tính đúng đắn cả về nội dung lẫn hình thức. Trên tinh thần đó, trong bài này tôi cố gắng phân tích làm sáng tỏ có đúng là tên ‘nước VNDCCH’ là có vấn đề về ngôn ngữ hay không.

1. Có lẽ ai cũng có thế thấy tiếng Việt nói chung thành phần chính đi trước thành phần phụ. Trong giai đoạn trước đây nền giáo dục nước ta mới vừa chuyển từ chữ Hán sang chữ ‘quốc ngữ’ và việc sử dụng chữ ‘quốc ngữ’ thật sự chỉ trở nên phổ biến từ năm 1945 trở đi. Trong giai đoạn phôi thai ấy việc ‘bê nguyên xi’ cách diễn đạt kiểu Hán (phụ trước chính sau) vào tiếng Việt là điều dễ hiểu. Hơn nữa, lúc đó hầu như chưa có c ông trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nào. Chỉ cần lướt qua cái tựa ngược của một trong những quyển ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên là ‘Việt Nam Văn Phạm’ (đáng lẽ là Văn phạm Việt Nam, xuất bản năm 1941 và đến năm 1980 còn tái bản) và cách ghi chức danh ngược của một trong những tác giả của nó là ‘Văn phạm học giáo sư, Sư phạm cao đẳng học đường cựu học sinh’ (đáng lẽ là giáo sư ngữ pháp, cựu học sinh trường cao đẳng Sư phạm [Pháp]) Phạm Duy Khiêm, cũng đủ thấy rằng cái mà chúng ta gọi là ‘Việt Nam Văn phạm’ trước đây chỉ là một sự sao chép ngữ pháp tiếng Tây/Tàu chứ không thật sự là ngữ pháp tiếng Việt (ngay cả cái tên sách mà cũng bị sai ngữ pháp VN!). Dù vậy, cùng với sự phát triển trong việc nghiên cứu tiếng Việt và trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, việc vay mượn ngày càng có ý thức hơn nên tình trạng nói ngược, viết ngược đã giảm dần. Cứ đọc các sách báo cũ thời Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của, tới thời Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, tới thời Tự Lực Văn Đoàn (lẽ ra phải Văn Đoàn Tự Lực), rồi thời trước 1975 ở cả 2 miền và sau 1975 đến nay ta sẽ thấy có sự phát triển rõ rệt. Chúng ta dần dần vay mượn chữ Hán có ý thức hơn: chỉ mượn từ không mượn cấu trúc trừ khi cấu trúc có tác dụng làm gọn gàng cách diễn đạt, ngay cả khi mượn từ cũng có ý thức đảo lại theo thứ tự của tiếng Việt, trừ những trường hợp gây nhầm lẫn, ví dụ ‘ý dân’ thay vì ‘dân ý’, ‘kinh thánh’thay vì ‘thánh kinh’, ‘phương Tây’ thay vì ‘Tây phương’, ‘ông lão’ thay vì ‘lão ông’….  Trong tên gọi cũng có sự phát triển như thế, lúc đầu là Gia Định báo, Nam Kì nhựt trình, Đại Nam đăng cổ tùng báo, Hà thành ngọ báo, Hà Nội báo, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Tự lực văn đoàn,…. Việt Nam quốc Dân đảng, Đông Dương Cộng sản đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh hội…, về sau thành Tiểu thuyết thứ Bảy, tạp chí Bách Khoa, báo Thần Chung, báo Nhân dân… Đảng Lao động VN, Đảng Dân chủ VN,... Trong bối cảnh đó. có vẻ tên nước VNDCCH cũng đã theo trật tự ngược của chữ Hán và sau này chuyển thành trật tự xuôi trong CHXHCNVN[i].

2.Tuy nhiên, để thuyết phục hơn ta hãy xét thêm trường hợp một đối tượng có có nhiều thuộc tính (hay một danh từ có nhiều định ngữ) thì trật tự từ sẽ ra sao. Theo quan sát cá nhân, trong tiếng Việt nếu một đối tượng có nhiều thuộc tính thì trật tự diễn đạt thường là đi từ thuộc tính tổng quát dần tới thuộc tính cụ thể. Ví dụ tiệm cơm Việt Sài Gòn, tiệm cơm Thái Krung Thep. Trong ví dụ này ta đi từ tiệm (cửa hàng) nói chung tới tiệm bán món cụ thể hơn là cơm, rồi xác định cụ thể hơn là tiệm bán cơm Việt/Thái,nhưng vẫn là một tiệm bán cơm Việt/Thái chung chung nào đó; chính cái tên riêng cuối cùng Sài Gòn/Krung Thep xác định cụ thể tiệm cơm ta muốn nói. Thực tế ngôn ngữ có những trường hợp một đối tượng có nhiều thuộc tính nhưng không phải có tầng bậc đơn giản như trong ví dụ vừa nêu mà có thể chỉ cùng một tầng hay pha trộn. Trong trường hợp các thuộc tính chỉ cùng một tầng bậc thì tuỳ theo sự quan tâm của chúng ta mà có thể đặt thuộc tính liên quan đứng trước. Ví dụ trong tên gọi trường trung học kĩ thuật dân lập Cát Tiên, ta có 3 thuộc tính trung học, kĩ thuật và dân lập cùng trực tiếp định tính cho trường nhưng theo 3 tiêu chí khác nhau (bậc học/loại hình/nguồn kinh phí), nếu ta quan tâm hơn về nguồn kinh phí chẳng hạn thì ta có thể đổi lại là trường dân lập [trung học kĩ thuật] Cát Tiên... Tuy nhiên, khi ra văn bản chính thức quy định đặt tên các trong trường hợp như thế này thì nên nhất hoán. Trước đây Bộ Giáo dục không chú ý điều này (hoặc có thể do có 2 Bộ lo việc học) nên xảy ra trường hợp trường Phổ thông trung học X nhưng lại là trường trung học kĩ thuật Y … rất trái khoái.

Bây giờ trở lại với vấn đề của chúng ta về tên nước. Với nước, ta có nhiều loại nước (nước Cộng hoà, Vương quốc… ), rồi loại nước có thể có tính chất cụ thể (dân chủ/liên bang/nhân dân…)[ii] và sau cùng thuộc tính cụ thể tức là tên riêng của nước. Như vậy, viết nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam, như phân tích bên trên, có vẻ là cách viết phù hợp với trật tự trong tiếng Việt nhất mà cũng phù hợp với cách viết của các ngôn ngữ khác (đối với tiếng có trật tự tự đảo ngược thì theo các thuộc tính sẽ đi theo thứ tự ngược lại - từ cụ thể dần tới tổng quát). Đây cũng là cách mà ta vẫn quen dùng để gọi các nước khác như Cộng hoà Pháp, Cộng hoà LB Đức, CH NDTH, CHDCND Lào, Vương quốc Anh, Vương quốc Hồi giáo Brunei….

3. Ngoài ra, theo cách hiểu thông thường thì Việt Nam, Pháp, Đức… là tên nước, còn những từ đi kèm theo như’ Cộng Hoà, Dân Chủ, Nhân Dân, Liên bang… ‘ nói lên thể chế, tính chất… của nước chứ không phải của tên nước. Chính vì vậy mà cả chính ta lẫn người nước ngoài đều dịch ‘nước VNDCCH’ thành ‘Democratic Republic of Vietnam’ (tiếng Anh – republic trong tiếng Anh là “nước [theo chế độ] cộng hoà”), 越南民主共和国 (tiếng Trung: ‘Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà quốc’ chứ không phải ‘Cộng Hoà Dân Chủ Việt Nam quốc’)… Một trường hợp hoàn toàn tương tư là Đông Đức trước đây có tên là ‘nước Cộng hoà Dân chủ Đức’(Democratic Republic of Germany). Nếu cho rằng ‘VNDCCH’ là đúng thì ta phải nói ‘nước Đức Dân chủ Cộng hoà’, hoặc tương tự ‘nước Lào Nhân dân Dân chủ Cộng hoà’ hay ‘nước miền Nam Việt nam Cộng hoà’… !

Như phân tích trên, cách gọi nước VNDCCH khá rõ là cách gọi sai lầm của quá khứ. Đó là cái sai phổ biến của thời chuyển từ nền Nho học sang quốc ngữ mà chúng ta phải chấp nhận không thể chỉnh sửa vì cái sai đó đã thuộc về lịch sử. Hiện nay việc sửa đổi hiến pháp/dự thảo hiếp pháp mới đã tạo cho ta cơ hội để làm lại từ đầu, có lẽ ta nên tận dụng cơ hội này để chỉnh lại/đặt mới tên nước (cũng như những điều khác) cho đúng, không để sai sót xảy ra thêm một lần nữa.



[i] Trong tên gọi này từ XHCN là một [ngữ] tính từ mà nhiều người vẫn còn dùng lẫn lộn với [ngữ] danh từ CNXH, theo suy đoán có cách thành lập mô phỏng từ cách thành lập tính từ “thuần Việt” kiểu ‘cao cổ’ (trong huơu cao cổ), ‘to gan’(trong cô bé này to gan thật), ‘rộng họng” (trong chú trai này rông họng quá)…
[ii] Các tính chất này có vẻ cùng tầng bậc.

Tuesday, July 31, 2012

Quan hệ về kế thừa chủ quyền biển Đông của các nước liên quan

QUAN HỆ QUYỀN KẾ THỪA BIỂN ĐÔNG



Biểu đồ 1 cho thấy đến đời Thanh thì ít ra có 4 nước (Thanh, VN, Brunei và Philippines thuộc TBN) cùng chia sẻ chủ quyền đối với biển Đông. Còn theo biểu đồ 2 thì có thể có tới 7 bên chia sẻ chủ quyền đối với biển Đông. Dù có thể còn một vài chỗ tranh cãi như ở mục 3 và 5 (ở biểu đồ 1) hoặc mục 10 và 11 (biểu đồ 2), nhưng nhìn chung tác giả có vẻ đã có cách tiếp cận đúng. Đặc biệt theo quan điểm của tác giả, TQ hiện nay không phải là quốc gia kế thừa chính thống nhà Nguyên (Mông Cổ mới là quốc gia kế thừa chính thống). Theo đó, việc TQ hiện nay đòi hỏi các phần lãnh thổ của nhà Nguyên mở rộng do xâm lược giống như Turkey viện dẫn rằng mình là nước kế thừa đế quốc La Mã (thủ đô Istanbul từng là thủ đô Constantinople của La Mã khi xưa), mà nước Anh (ít ra phần phía Nam) từng thuộc La Mã, vậy Turkey có quyền đòi hỏi chủ quyền đối với Anh(?!) (tác giả dùng ví dụ giả định Úc đòi chủ quyền Canada vì cho mình là nước “kế thừa” đế quốc Anh thay vì ví dụ như trên).



Biều đồ 1 (từ xa xưa cho tới nhà Thanh)

  1. 214 TCN, Tần chinh phục Bách Việt ở Lĩnh Nam.
  2. 207 TCN, nước Nam Việt độc lập (Triệu Đà).
  3. 111 TCN, nhà Hán tiêu diệt Nam Việt.
  4. 544, nước Vạn Xuân độc lập (Lí Bí/Bôn).
  5. 601, nhà Tuỳ tiêu diệt nước Vạn Xuân.
  6. 968, Đại Việt độc lập với Nam Hán.
  7. 971, Nam Hán bị nhà Tống tiêu diệt.
  8. 1279, Mông Cổ (Nguyên) chinh phục Tống.
  9. 1368, nhà Minh đánh đuổi Mông Cổ khỏi Trung Quốc.
  10. 1644, nhà Thanh thay thế nhà Minh.
  11. 192, nước Champa thành lập.
  12. 1692, Việt Nam tiêu diệt Champa.
  13. thế kỉ 1 AD, nước Phù Nam thành lập.
  14. 550, Phù Nam chinh phục Chân Lạp thành chư hầu. Năm 628, Chân Lạp cuối cùng mất nước.
  15. thế kỉ 18, Việt Nam chiếm khu vực đồng bằng sông Cửu Long (sau này là Nam Kì) của Cao Miên (Campuchia).
  16. thế kỉ 15, Vương quốc Hồi giáo Brunei thành lập.
  17. 1571, Tây Ban Nha chinh phục vùng Bắc và Trung Philippines, thành lập nước Philippines thuộc Tây.
(theo The sovereignty inheritance relationship of coastal States in the South China Sea in the ancien times  trên blog của Níbó Lónggēn Guāténg 尼伯龙根·蜗藤)

Biểu đồ 2 (Từ cuối nhà Thanh cho đến nay)
    



1.      1911, Trung Quốc Dân quốc (THDQ) thay thế triều đại nhà Thanh

2.      1917, Chính phủ miền Nam được thành lập

3.      1927, Chính phủ miền Nam đánh dep Bắc thành công, thống nhất Trung Quốc.

4.   1937, Nhật xâm lược toàn TQ. 1942 phát động chiến tranh Thái Bình Dương, lần lượt chiếm các nước ven biển Đông. 1945, Nhật Bản bị đánh bại. Chủ quyền của Nhật Bản đối với biển Đông là do xâm lược, và do đó nói giao lại sau chiến tranh (biểu thị bằng đường chấm chấm) là không công bằng.

5.      1945, THDQ khôi phục kiểm soát toàn bộ Trung Quốc.
6.      1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh bại Quốc Dân Đảng, Quốc Dân Đảng rút về Đài Loan. Trung Quốc cùng một lúc có hai chế độ ở Bắc Kinh và Đài Bắc.
7.      1885, Việt Nam bị Pháp đưa vào chế độ vào bảo hộ.
8.      1946, Pháp lấy lại thuộc địa Đông Dương.
9.      1954, theo hiệp định Genève, Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam chia thành miền Bắc Việt và Nam Việt ở vĩ tuyến 17 độ Bắc. Về quyền lợi trên biển, Nam Việt Nam sở hữu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Bắc Việt sở hữu Vịnh Bắc Bộ.
10.   1955, Việt Nam Cộng Hoà thay thế nước Việt Nam, nắm quyền chế độ miền Nam Việt Nam.
11.  1975, Việt Nam Cộng Hoà bị Mặt trận giải phóng miền Nam và Bắc Việt Nam tiêu diệt, lập ra nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
12.  1976, miền Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam kết hợp, thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
13.   giữa thế kỉ 19 Vương quốc Hồi giáo Brunei bắt đầu nhường lại đất đai, lập ra Sarawak và Sabah thuộc Anh.
14.  1888, Vương quốc Anh và Brunei, Sarawak và Sabah đã ký một thỏa thuận để biến chúng thành nước bị bảo hộ, hình thành nên Bắc Borneo thuộc Anh.
15.  1945, Vương quốc Anh lấy lại Bắc Borneo thuộc Anh.
16.  1967, Sarawak và Sabah độc lập cùng với Malaysia và Singapore sớm hình thành Liên bang Malaysia. Brunei vẫn tiếp tục là lãnh thổ ở nước ngoài của Anh.
17.  1984, Brunei độc lập.
18.  1898, Tây Ban Nha thất bại trong cuộc chiến tranh Tây Ban Nha-Mĩ, nhượng lại Philippines cho Hoa Kì, Philippines thuộc Tây Ban Nha thành Philippines thuộc Mĩ.
19.  1946, Philippines độc lập.
20.  Từ giữa cho đến cuối thế kỉ 19, Hà Lan thôn tính dần dần của Vương quốc Hồi giáo Nam Borneo sáp nhập vào Đông Ấn thuộc Hà Lan.
21.  1945, Hà Lan nỗ lực để khôi phục lại sự cai trị Đông Ấn thuộc Hà Lan đi đến chiến tranh với các lực lượng độc lập.
22.  1949, Hà Lan công nhận độc lập của Indonesia.

(theo Sovereign inheritance relationship of the relevant countries of the South China Sea in modern times trên blog của Níbó Lónggēn Guāténg尼伯龙根·蜗藤)
-------------------------