Showing posts with label Lê HIếu Đằng. Show all posts
Showing posts with label Lê HIếu Đằng. Show all posts

Saturday, January 25, 2014

Cố lên! Để thành người tử tế

Cố lên! Để thành người tử tế

Posted by basamnews on January 25th, 2014
Võ Văn Tạo
Trong dòng người đến viếng cố luật gia – ngọn cờ đầu tranh đấu nóng bỏng lòng yêu nước thương dân Lê Hiếu Đằng, có mấy nhân vật đặc biệt: nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, phu nhân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Bí thư Thành ủy TP HCM Lê Thanh Hải, Phó Bí thư Thành ủy TP HCM Nguyễn Văn Đua.
Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, theo chỗ cảm nhận của tôi, cơ bản là một người tử tế, qua một số việc làm cụ thể: ký quyết định trao Giải thưởng Nhà nước (2007) về văn học nghệ thuật cho 4 văn nghệ sĩ tài danh từng gặp đại nạn suốt nửa thế kỷ sau vụ án (văn nghệ bị chính trị hóa) oan khốc Nhân văn – Giai phẩm, gồm: Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán và Hoàng Cầm; viết thư khen công dân Thiên chúa giáo ở Nha Trang Tống Phước Phúc (nuôi dưỡng hàng trăm trẻ sơ sinh có hoàn cảnh éo le và chôn cất tử tế hàng nghìn hài nhi xấu số, nhưng bị an ninh và nhiều cơ quan chức năng địa phương nghi kị, cản phá), làm nhà chức trách địa phương phải thay đổi cách đối xử ngu xuẩn và tệ bạc… và một số việc làm tử tế khác của ông Triết, không tiện kể thêm.
Tôi không quen biết phu nhân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nhưng qua chỗ bạn thân thiết, được biết bà cũng là một người tử tế, qua thái độ thiện cảm với những người biểu tình chống Trung Quốc tham tàn, bành trướng.
Những người tử tế đến viếng một người tử tế là lẽ tất nhiên. Nhưng ai cũng biết, trong trường hợp tang lễ người tử tế Lê Hiếu Đằng, những người thành tâm đến viếng làm những kẻ thiếu tử tế đang chót vót ngôi cao ở cái thể chế này không hài lòng. Vì vậy, qua tang lễ anh Đằng, niềm tin trong tôi về ông Triết và bà Sang là những người tử tế lại càng được củng cố.
Rất tiếc, tôi chưa được nghe thông tin nào về các ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đua là những người tử tế, nếu không muốn nói là ngược lại. Tuy nhiên, việc hai ông này đến viếng anh Đằng mà không ghi sổ tang, làm tôi nghĩ rằng họ đến viếng với tư cách cá nhân, không phải chấp hành việc phân công của tổ chức. Việc họ đến viếng trong tâm thế ấy, ít nhất, nếu tôi không nhầm, cũng thể hiện thái độ kính trọng đối với anh Đằng – một người tử tế. Đó là một nghĩa cử nên ghi nhận và rất đáng khích lệ.
Tuy nhiên, như mọi người đã biết, bên cạnh việc các ông Hải, ông Đua đến viếng anh Đằng, lại xảy ra sự việc “côn đồ” (mà đến con nít cũng thừa biết là an ninh) phá rối một cách không thể ngu độn, thấp kém, hèn hạ, ti tiện, thô bỉ và mất dạy hơn. Hành vi của đám “côn đồ” này – nói theo cách Giáo sư Ngô Bảo Châu: “có cố tình làm mất thể diện thể chế, chắc khó ai làm hơn”
Thiết nghĩ, chưa bàn đến khía cạnh lương tâm, bằng quyền lực và trách nhiệm của Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Thành ủy TP HCM – ông Lê Thanh Hải và quyền lực, trách nhiệm của Phó Bí thư thường trực Thành ủy TP HCM – ông Nguyễn Văn Đua, các ông rất nên (nếu không muốn nói là “phải” – xét khía cạnh trách nhiệm), và thừa khả năng buộc cơ quan an ninh (dù thuộc Bộ Công an hay Công an TP HCM) tiến hành kiểm điểm, công bố công khai và kỷ luật thích đáng kẻ đầu têu chủ trương phá rối đám tang.
Làm được như thế, dư luận xã hội sẽ có bằng chứng cụ thể để có thể nhận định rằng các ông không chỉ biết kính trọng người tử tế, mà còn thành tâm mong xã hội công nhận là người tử tế. Làm được như thế, người dân sẽ có cơ sở để tin rằng, cái thể chế này cũng có cơ may dần tử tế.
Cố lên nhé ông Hải, ông Đua!

Thursday, January 23, 2014

Thế là xong ! Chào anh Đằng !

Thế là xong !
Chào anh Đằng !

(http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/chao-anh-dang)

Thế là xong !
Anh đã từ biệt !

Anh thực sự đã yên nghỉ, đã khép lại một chu kỳ hoàn hảo : “ Trăm năm trong cõi người ta ”.

Lúc nầy, chúng ta lại nhớ lời nói đầy ý nghĩa của con người nổi tiếng Mandela, đúng với trường hợp của Anh :

“ Cái chết là điều không thể tránh khỏi. Khi một người đã hoàn thành điều người đó coi là trách nhiệm với dân tộc mình, với đất nước mình, người ấy có thể yên nghỉ.

Chúng ta có thể nhất trí, “ biểu quyết ” rằng anh Đằng đã hoàn thành trách nhiệm của mình với dân tộc và đất nước,  theo cái nghĩa là anh hết mình cho đến giờ phút trước khi hôn mê và chấm dứt hơi thở.

Anh không phải là nhân vật quan trọng ghê lắm, hay là người có chức vụ cao. Anh là con người bình thường, chính đó là ý nghĩa quan trọng, nó khơi dậy, nó động viên cho số đông người bình thường trong chúng ta những cảm xúc rộng lớn, về giá trị và trách nhiệm của một công dân, của con người bình thường, nó tạo nên mối liên thông của một làn sóng tích cực về tinh thần yêu nước và yêu dân chủ. Giờ đây, với sự so sánh, chúng ta có thể coi thường cái lớn mà rỗng, cái cao mà bên trong có chất lượng thấp. Chúng ta đều biết là anh rất tỉnh táo, sống thật với lòng mình. Trong những tháng ngày cuối, khi không nói về tình hình xã hội, thì anh hát những giai điệu bolero yêu đời với tình cảm đời thường, bằng tiếng khào khào đứt quãng của một người bịnh. Anh đi từng bước nhỏ, vui vẻ với chiếc gậy mây do anh B tặng.
Chúng ta đều yêu cái bình thường và chân thật ấy. Không ai thích sự giả dối, Đúng vậy ! Chúng ta tôn vinh những giá trị đích thật, và có quyền từ chối những gì không thật. Đó là nét truyền thống của văn hóa nuôi dưỡng dân tộc, dù một nghìn năm bị đô hộ, bởi tinh thần lạc quan và chân thực ấy mà không bị đồng hóa.

Anh đã để lại một tấm lòng, với sự chia sẻ của tất cả những ai yêu cuộc sống nầy, và yêu tận đáy lòng sự công bằng của một xã hội dân chủ. Anh đã đi bước đi tiền phong của một giai đoạn chuyển hóa, vượt lên trên và không để ý tới mọi hình thức o ép của chủ thể vô minh.

Những tiếng hô của sân hận và hẹp hòi từ đâu đó, giờ đây tiếp tục vô nghĩa !

Tất cả chúng ta đều nghe thấy tiếng sóng gào thét ở Biển Đông, tiếng gió độc rít lên từ phương Bắc. Vì nghĩa cả mà con người phải dấn thân. Lẽ nào, vì sự nhỏ nhen mà thân phận con người hóa thành cỏ rác ? Người Nhật Bản nắm chắc tay nhau sau cơn đại họa, mà chẳng tham của rơi. Lẽ nào trước nguy biến, lại tranh nhau bổng lộc không hơn kẻ dân đen “ hôi bia ” ngoài lộ ?

Anh để lại sau một điều ray rứt : một dân tộc, một đất nước, chẳng thể sống cùng nhau trong một góc trời mà lại không có cùng nhau một “ khế ước ” ? Thực dân, đế quốc còn trả lại cho dân tộc bị trị một Hiến Pháp sau khi cuộc đâm chém chấm dứt. Lẽ nào một đảng chính trị cầm đầu cuộc kháng chiến gian khổ đã thành công, lại lạm dụng thời cơ, áp đặt cho cả dân tộc phải sống đời đời dưới sự cai trị bởi một nhóm người nhân danh đảng ấy, dười hình luật do nhóm người ấy lập ra, sống cho tới già chết, bịnh chết và giao lại cho kẻ được chọn làm truyền nhân kế thừa ? Ở Việt Nam ngày nay lại mọc lên khá nhiều những ngọn núi Paektu (*) để có những giòng máu thần thánh truyền ngôi ở các tỉnh thành.

Thật là buồn cười và đáng xấu hổ trong thời đại hôm nay !

Anh cũng thường nhắc đến ông Mandela – một người dân Nam Phi bình dị mà cao cả, được thế giới kính cẩn tôn vinh – bởi những lời nói ra từ một trái tim chân thật, một tinh thần rắn rỏi, cương nghị, yêu công bằng, cũng là lúc thế giới ngoái đầu nhìn về Bắc Triều Tiên với nỗi kinh hoàng, về những chuyện giết người ở đây. Người bình thường không thể tránh nổi xót xa và ray rứt tự hỏi về một mô hình “độc tài toàn trị” của một đảng xưng là “Cách Mạng”. Nhân dân thế giới đang nghĩ ngợi trong lương tâm mình, về thân phận của người dân Bắc Triều Tiên. Nó bộc lộ một cách quá hiển nhiên sự tàn bạo mang tính quy luật của độc tài.

Nhân Dân Việt Nam chưa rơi vào tình cảnh ấy, nhưng biết rõ mình đang ở đâu trên lộ trình đi từ nô lệ đến tư do, và từ độc lập đến dân chủ ? Nơi thiếu dân chủ sẽ không bao giờ là điểm đến. Chắc chắn một điều, tâm thức Việt Nam luôn hướng về phương Bắc để cảnh giác, canh phòng cao độ,  chứ không bao giờ nhầm lẫn là điểm đến tin cậy.


Anh Đằng,

Anh đã mong muốn và tích cực đấu tranh cho một xã hội dân sự được chuyển hóa theo cách hòa bình, như kiến nghị 72 mà anh ký tên trong đó. Anh mong muốn một xã hội dân sự vì đó là nền tảng vững chắc cho độc lập dân tộc, đó cũng là nền tảng để một quốc gia phát triển. Anh đã gởi lại tâm tình của mình trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời ngắn ngủi nầy, với tinh thần đấu tranh không ngừng, như rất nhiều người con dân yêu nước khác. Anh ra đi như họ đã ra đi, vì hai chữ độc lập – dân chủ. Thái độ chọn lựa cuối cùng của anh về một sự chia ly đã củng cố và làm sáng rõ lý tưởng mà anh đã trọn đời theo đuổi.

Anh đã sống trọn vẹn với suy nghĩ của mình.

Anh không cô đơn. Anh nằm xuống có bạn bè chung quanh, có nhiều bạn trẻ tiếc thương anh và những giọt nước mắt.

Trong khi anh nằm xuống, dân tộc vẫn bước tiếp cuộc hành trình về hướng dân chủ !

Tất cả vẫy chào anh trong niềm thân thiết.

Anh có quyền an nghỉ.

 
Lúc 2 giờ, ngày 23-1-2014
Hạ Đình Nguyên

(*) Paektusan hay Bạch 
Trường Sơn là ngọn núi lửa ở biên giới Triều Tiên và Trung Quốc. Theo truyền thuyết Triều Tiên, đây là nơi Thiên tử xuống trần và sáng lập vương triều đầu tiên. Kim Nhật Thành đã tiếm dụng huyền thoại này, bày đặt ông ta ra đời ở đó (chú thích của Diễn Đàn)

Wednesday, January 22, 2014

LÊ HIẾU ĐẰNG

(Tưởng nhớ LS Lê Hiếu Đằng vừa mới mất nhà văn Pham Đình Trọng vạch ra những đối nghịch 'động trời' giữa nhân cách của ông và nhân cách/viêc làm nhiều kẻ đang ở trong hàng ngũ lãnh đạo đất nước) 
Phạm Đình Trọng
1.  Căn bệnh hiểm bột phát ở tuổi cận kề bảy mươi, Lê Hiếu Đằng hiểu rằng mình DSC02352đang tiêu những đồng vốn thời gian ít ỏi cuối cùng của cuộc đời.
Trong tâm thế đó, những người chỉ biết sống cho riêng mình, chức vụ, cấp bậc, học hàm, học vị tìm mọi cách giành được cũng chỉ nhằm để được nhận phần vật chất hơn người, có miếng ăn béo bở hơn người, có cuộc sống hả hê hơn người, những kẻ chỉ có con người sinh vật như vậy sẽ hốt hoảng run sợ, nơm nớp lo âu.
Còn những người sống bằng năng lượng tình yêu, yêu con người, yêu cuộc đời, yêu đất nước và đã say mê, tận tụy mang cả đời mình cống hiến cho tình yêu đó, ngoài con người sinh vật, họ còn có con người xã hội và con người xã hội mới là ý nghĩa cuộc sống của họ, mới là giá trị cuộc đời họ. Con người sinh vật theo qui luật tự nhiên, sinh – lão – bệnh – tử. Còn con người xã hội theo qui luật giá trị. Và những người sống bằng năng lượng tình yêu sẽ bình tĩnh nhìn lại giá trị con người xã hội của mình để lại cho cuộc đời, còn lại với cuộc đời, nhìn lại con đường mình đã chọn, nhìn lại cuộc đời mình đã sống, đã cống hiến. Trên con đường đó, mình đã làm được những gì cho đời, đã để lại được những gì có ích cho đời? Nhìn lại giá trị một cuộc đời là cái nhìn nghiêm khắc, trung thực, thẳng thắn.
Nghiêm khắc. Trung thực. Thẳng thắn. Nhà thơ Cộng sản Pháp Louis Aragon đã từng viết những lời chân thành, nồng nhiệt về đảng Cộng sản: Mon parti m’a rendu mes yeux et ma mémoire / Je ne savais plus rien de ce qu’un enfant sait / Que mon sang fût si rouge et mon coeur fût français / Je savais seulement que la nuit était noire. . . Được Tố Hữu, nhà thơ Cộng sản Việt Nam chuyển ra tiếng Việt là: Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng / Trước như tuổi thơ tôi nào biết được / Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước / Tôi chỉ biết là đêm tối mênh mông. . . Chân thành mang tài năng ra cống hiến cho đảng Cộng sản như vậy để rồi đến khi nhìn lại cuộc đời mình, nhà thơ L. Aragon lại phải chân thành thốt lên: “J’ ai gache ma vie, c’est tout” (Tôi đã phung phí cả đời mình, có vậy thôi). Cuộc đời ngắn ngủi vì thế vô cùng quí giá nhưng vì lầm lẫn đi với đảng Cộng sản mà phung phí cả cuộc đời quí giá của một tài năng như Louis Aragon thì còn gì đau xót hơn!
Nghiêm khắc. Trung thực. Thẳng thắn. Lê Hiếu Đằng nhận ra: “Đã có thời gian dài nuôi ảo tưởng về đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ nghĩa Xã hội” (Lê Hiếu Đằng. Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh). Không bi quan, yếm thế, buông xuôi như nhà thơ lớn L. Aragon chỉ biết than đã phung phí cả cuộc đời, Lê Hiếu Đằng nhìn nhận căn nguyên sai lầm, ảo tưởng: “Vấn đề là trước đây chúng ta chưa có đủ điều kiện, dữ liệu để nhận thức một số vấn đề sống còn của đất nước, nhưng hiện nay tình hình trong nước và trên thế giới đã thay đổi, vì vậy chúng ta phải nhận thức lại một số vấn đề trước đây.”
Nhận thức lại, Lê Hiếu Đằng thấy: “Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái, biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân” (Lê Hiếu Đằng. Tuyên bố công khai ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam)
Chưa cần nhắc đến sai lầm, ảo tưởng của chủ nghĩa Cộng sản, chưa tính đến sự man rợ mất tính người của chuyên chính vô sản mà đảng Cộng sản Việt Nam đã thực thi suốt gần một thế kỉ qua gây nhiều tội ác với dân tộc Việt Nam. Chỉ nhìn hình ảnh đảng Cộng sản Việt Nam trong hiện tại đã thấy rõ “thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích” cướp bóc của dân, tàn phá đất nước.
 DSC00923
2.  Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ là đảng của những người như Bùi Thanh Quyến, thời chiến tranh là anh lính “B quay”, đào ngũ, một kẻ chỉ có con người sinh vật, không có con người công dân, con người xã hội, trốn chạy về phía sau bình yên giữ lấy mạng sống của con người sinh vật. Kẻ hèn nhát, chạy trốn trách nhiệm công dân đó nhận ra nơi an toàn, nơi dung dưỡng, tiến thân tốt nhất cho những con người sinh vật chính là đảng Cộng sản cầm quyền. Việc khó là chui lủi từ nơi giáp mặt với bom đạn chết chóc về làm anh lính an nhàn ở huyện đội quê nhà bình yên hắn còn làm được thì từ anh lính huyện đội trở thành đảng viên Cộng sản chỉ là chuyện nhỏ.
Bây giờ không phải chỉ có con người sinh vật, anh lính đào ngũ Bùi Thanh Quyến có quyền cao chức trọng mà cả gia đình anh ta chia nhau chiếm giữ quyền chức bổng lộc trong đảng Cộng sản cầm quyền. Bố, Bùi Thanh Quyến, là Ủy viên Trung ương đảng, Bí thư tỉnh ủy. Con trai mới ba mươi tuổi, chức tước xã hội đã là phó giám đốc một sở trong tỉnh của bố, của cải bòn rút được của gã trai mới ba mươi tuổi đó là biệt phủ hoành tráng mà những quan đại thần có công khai quốc thời phong kiến cũng không có được. Con rể tuổi mới trên ba mươi là quan đầu huyện dưới bóng bố vợ bí thư tỉnh ủy Bùi Thanh Quyến!
Ủy viên Trung ương đảng, Bí thư tỉnh ủy Hải Dương Bùi Thanh Quyến chính là bản sao, là phép nhân sự gian dối man trá của Ủy viên Trung ương đảng, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế Hồ Xuân Mãn. Hồ Xuân Mãn đã về hưu, đã hết quyền uy nên đã lộ mặt thật. Bùi Thanh Quyến còn đang là lãnh chúa đầy quyền uy với bầy tôi, đầy thế lực và tiền bạc để vô hiệu mọi sự xăm soi của bề trên và còn đang là gương mặt đương đại của đảng Cộng sản nên còn được bưng bít che giấu để giữ uy danh cho đảng nhưng cũng là giữ lại khối u di căn ung thư trong cơ thể đảng Cộng sản.
Vinh thân phì gia, giá áo túi cơm, những câu thành ngữ dân gian chỉ những kẻ chỉ có con người sinh vật, chỉ biết bản thân, chỉ biết giá trị vật chất, chỉ biết hưởng thụ. Bố con Ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh ủy Bùi Thanh Quyến là những người như vậy, những đảng viên có chức quyền, những trụ cột của đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay.
Những phường giá áo túi cơm vào đảng Cộng sản Việt Nam, ngồi trên ghế quyền lực bây giờ chỉ để vinh thân phì gia nhiều lắm, nhìn đâu cũng thấy. Ông thợ rừng Nông Đức Mạnh khi ngồi lên chiếc ghế Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam liền đôn đáo chạy vạy, đổi chác để anh con trai học hành không đến nơi đến chốn phải đi bán sức lao động cơ bắp ở nước ngoài trở thành người có đủ bằng cấp đại học khoa học và đại học chính trị để ngồi vào ghế Ủy viên Trung ương đảng nhiều đặc quyền đặc lợi.
Anh trai là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thành ủy thành phố lớn nhất nước, em trai liền trở thành chủ những dự án thâu tóm, chiếm đoạt phi pháp, bất lương hàng ngàn hecta đất đai và con trai ông Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thành ủy đó liền có suất học bổng từ ngân sách Nhà nước đi học nước ngoài để rồi nhanh chóng được đưa vào điểm xuất phát trên bệ phóng cao tốc phóng vào vòng thăng tiến quyền lực của đảng Cộng sản cầm quyền. Một điểm xuất phát cao, đầy thuận lợi cho con trai ông Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thành ủy: Bí thư đảng ủy phường, Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố mau lẹ lên Phó Chủ tịch quận!
Khi những người Cộng sản Việt Nam còn có lí tưởng cao đẹp, họ còn giữ bộ mặt sạch sẽ, tử tế, không một ông quan chức cộng sản nào dám ngang nhiên đưa lũ con cái vắt mũi chưa sạch ra chiếm vị trí của những hiền tài đất nước. Chẳng còn lí tưởng cao đẹp, kiên trì Chủ nghĩa Xã hội chỉ để các ông quan cộng sản ăn trên ngồi trốc, vinh thân phì gia thì ông Ủy viên Bộ Chính trị, trưởng ban Tổ chức Trung ương đảng mới thản nhiên đưa cô con gái 23 tuổi học ngành báo chí chưa viết nổi một bài báo nhảy tót lên làm sếp lớn một doanh nghiệp lớn của Nhà nước, một vị trí đòi hỏi phải là hiền tài đất nước đã được thử thách, khẳng định. Làm việc đó, ông Ủy viên Bộ Chính trị, trưởng ban Tổ chức Trung ương đã chứng tỏ đảng Cộng sản của ông chẳng còn mảy may lí tưởng vì dân vì nước và ông cũng chẳng cần giữ bộ mặt liêm chính trước dân.
Chỉ nêu vài dẫn chứng trong muôn vàn sự thật tồi tệ của hiện thực hôm nay cũng đủ thấy đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ chỉ còn là nơi hội tụ kiếm chác, nơi kiếm chức quyền, bổng lộc, kiếm sự vinh thân phì gia của những con người sinh vật mà thôi! Không hề thấy bóng dáng con người xã hội ở những đấng bậc đang là quan chức từ thấp đến cao của đảng Cộng sản cầm quyền, đang quản lí xã hội, chăn dắt dân đen.
3.  Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ là đảng của những tập đoàn lợi ích sử dụng quyền lực Nhà nước cướp bóc, ức hiếp dân, xâu xé tài nguyên đất nước, xâu xé tanh bành, nát vụn non sông gấm vóc. Chỉ một ngành Hàng Không dân dụng cũng có nhiều tập đoàn lợi ích kiếm chác từ đất sân bay hàng không.
Một tập đoàn lợi ích núp bóng quân sự – an ninh – quốc phòng chiếm giữ đất sân bay làm sân golf, xây biệt thư kinh doanh. Những tập đoàn lợi ích khác tìm mọi cớ bỏ sân bay cũ xây sân bay mới tốn kém hàng chục tỉ đô la để họ kiếm chác. Chỉ xem tập đoàn lợi ích chiếm đất sân bay làm sân golf cũng thấy những tập đoàn lợi ích này quyền uy như thế nào, lộng hành như thế nào.
Sân bay Tân Sơn Nhất có tổng diện tích 2500 ha nhưng mới có 1150 ha đất được sân bay sử dụng, khai thác. Ngay sau 1975 những người quản lí đất nước không có tầm nhìn xa, chỉ nhìn thấy những lợi lộc trước mắt chia chác nhau, đã không biết rằng khoảng đất trống rộng lớn quanh sân bay, vừa là đất dự trữ, vừa là không gian đệm ngăn cách sân bay với khu dân cư nên họ đã cho công binh dọn sạch hàng rào thép gai và mìn trên khoảng đất trống đó rồi cắt hơn ngàn ha đất dự trữ của sân bay chia cho tướng sĩ. Nay nhà cửa trùng điệp của các khu gia đình quân đội đã bao quanh và lấn đến sát mép sân bay. Diện tích đất sân bay chỉ còn vẻn vẹn 1150 ha! Việc này là chuyện đã qua, không xét đến nữa. Đáng xem xét là 1150 ha đất còn lại đang tiếp tục bị tập đoàn lợi ích núp bóng quân đội xâu xé.
1150 ha đất sân bay nhưng ngành Hàng không quốc gia chỉ thực sự được sử dụng chưa đến một phần năm diện tích đó. Chuyển sang thời bình, đất nước cần tập trung nguồn lực phát triển kinh tế dân sự. Sân bay, thời bình là đất kinh tế và thời chiến sẽ là đất quân sự vì thế thời bình phải dành toàn bộ sân bay giao thương thuận tiện nhất cho ngành Hàng không quốc gia. Nhưng với uy thế của đội quân vừa chiến thắng trong cuộc chiến tranh khốc liệt, mặc dù đã có sân bay quân sự Biên Hòa, quân đội vẫn chiếm giữ tới 545 ha đất sân bay Tân Sơn Nhất. Hàng không dân dụng chỉ có 205 ha, chưa bằng nửa đất sân bay quân sự. 400 ha mặt bằng còn lại là đất dùng chung cho cả quân sự và dân sự.
Với vị trí vô cùng thuận lợi, sân bay Tân Sơn Nhất là một HUB, điểm trung chuyển hàng không, tốt nhất Đông Nam Á. Sau năm 1975, với sự cấm vận của Mĩ, sân bay Tân Sơn Nhất đành để mất vị trí HUB cho sân bay Don Mueang, Thái Lan, xây dựng từ năm 1914 bé nhỏ và lạc hậu. Thái Lan lập tức phải xây sân bay Suvarnabhumi lớn hơn, hiện đại hơn đón nguồn lợi to lớn do vị trí HUB từ Tân Sơn Nhất chuyển sang.
Mĩ bỏ cấm vận Việt Nam, với vị trí đắc địa, sân bay Tân Sơn Nhất giành lại vị trí HUB, nhộn nhịp trở lại liền thiếu nghiêm trọng bãi đỗ đón nhận những chuyến bay quá cảnh, đón nhận nguồn lợi to lớn cho đất nước. Năm 2007 Chính phủ quyết định quân đội phải chuyển 30 ha đất quân sự ở sân bay Tân Sơn Nhất cho Hàng không dân dụng để dân dụng có thêm 30 bãi đỗ máy bay. Quân đội không chấp hành. Chỉ 30 ha đất nhỏ bé trong 545 ha đất mênh mông được mang danh đất quân sự đang bỏ không, quân đội cũng không chịu nhả. Các hãng hàng không quốc tế sau nhiều lần máy bay của họ đến Tân Sơn Nhất phải bay lượn nhiều vòng trên bầu trời chờ bãi đỗ đành phải bỏ Tân Sơn Nhất tìm đến các sân bay ở Singapore, Hong Kong, Thái Lan quá cảnh. Đất nước mất một nguồn thu lớn, ổn định và ngày càng lớn.
Ngang nhiên chống lệnh Chính phủ, không giao 30 ha đất cho Hàng không dân dụng mở rộng sân bay, với lí do đất an ninh quốc phòng, quân đội giữ đất lại để chuyển 157 ha đất sân bay cho tập đoàn lợi ích núp bóng quân đội làm sân golf, xây biệt thư kinh doanh kiếm lời đút túi riêng.
Ngang nhiên chống lệnh Chính phủ, chống cả quyết định 1946/2009QĐ-CP của Chính phủ qui định nơi làm sân golf: “Các dự án sân golf không được sử dụng đất lúa, đất màu và đất qui hoạch xây dựng khu công nghiệp, các khu đô thị, đất rừng.  .  . Địa điểm qui hoạch sân golf chủ yếu ở vùng trung du, miền núi”.
Với lí do đất an ninh quốc phòng, tập đoàn lợi ích núp bóng quân đội thẳng thừng từ chối không cho Hàng không Dân dụng chuyển bớt những chuyến bay cự li ngắn trong nước từ sân bay Nội Bài đã bị quá tải sang sân bay Gia Lâm đã bỏ không nhiều năm. Giữ sân bay Gia Lâm làm của riêng của quân đội không phải để sử dụng cho an ninh quốc phòng mà chỉ để cho tập đoàn lợi ích núp bóng quân đội cắt đất sân bay và chiếm thêm 40 ha đất ruộng màu mỡ trồng lúa của dân làm hai sân golf. Sân golf bao vây, lấn sát lề bảo hiểm đường băng sân bay Gia Lâm. Sân golf lấp và đôn cao trên những hồ đầm vốn là nơi chứa nước thoát từ sân bay. Nay mỗi trận mưa xuống, sân bay Gia Lâm thành hồ nước mênh mông, lính ra giăng lưới, kéo vó bắt cá trên đường băng. Nước quanh năm úng dưới nền sân bay làm đường băng sụt lún, nút vỡ ngày càng nặng.
Hai vấn đề phải đặt ra là:
Một. Thế lực quân sự dung túng cho nhóm lợi ích núp bóng quân đội dám coi DSC01829thường lợi ích đất nước, dám chống lệnh Chính phủ với năm, sáu ông Ủy viên Bộ Chính trị là thành viên, chống cả văn bản pháp luật của Chính phủ, chiếm giữ hàng trăm ha đất hiểm yếu, chiến lược về quân sự, đất sinh lợi của đất nước về kinh tế ở hai sân bay chiến lược, trọng yếu nhất nước làm đất giải trí cho vài kẻ sẵn tiền, làm đất sinh lợi cho một nhóm lợi ích, thế lực quân sự đó phải có quyền uy ở cấp Ủy viên Bộ Chính trị và quyền uy của Ủy viên Bộ Chính trị đó đã trở thành quyền uy của một tập đoàn lợi ích bất chính.  
Hai. Tập đoàn lợi ích núp bóng quân sự dám chống lại lệnh Chính phủ, không giao 30 ha đất quân sự ở sân bay Tân Sơn Nhất cho Hàng không quốc gia vì các thành viên trong cái Chính phủ đó cũng chẳng tốt đẹp, tử tế, nghiêm minh gì, cũng đều có những tập đoàn lợi ích phía sau chiếm đất của công và cướp đất của dân. Nếu không được quyền lực Nhà nước cấp Chính phủ bảo kê thì chủ đầu tư Ecopark làm sao huy động được 3000 cảnh sát chiến đấu của bộ Công an trong cuộc cưỡng chế bất hợp pháp 500 ha đất của nông dân Văn Giang, Hưng Yên!
Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay là đảng của những nhân cách và những thế lực như vậy. Nhân cách Lê Hiếu Đằng không thể đứng chung đội ngũ với những nhân cách đó. Trước đây Lê Hiếu Đằng vào đảng để cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày nay Lê Hiếu Đằng đóng góp cho đời, đóng góp cho đất nước bằng việc rời bỏ một đảng đã trở thành thế lực tàn phá đất nước, cản trở sự phát triển của đất nước.

Friday, December 6, 2013

Đôi điều tâm huyết với Đảng!

Đôi điều tâm huyết với Đảng!
Nguyễn Minh Đào
Sáng nay, đọc báo Tuổi Trẻ đăng tin “Xe chở bia gặp nạn, hàng trăm người “hôi của”, tôi buồn cho xã hội mình đang sống có biết bao điều tệ hại như chuyện nầy, diển ra nhan nhản nghe thấy hàng ngày qua các kênh truyền thông và giận những người dân vô lương, sao nở nhẩn tâm ngang nhiên ăn cướp những lon bia của chiếc xe bị nạn, cho dù người tài xế kêu khóc, van xin! Sau đó ít phút mở hộp thơ thấy bạn tôi chuyển đến bài “Có một người phải chết – Vì làm nghề cô giáo” trên trang Yahoo, viết về cô giáo Phan Thị Mộng Tuyền ở Trà Vinh tự tử chỉ vì cô bị buộc tội oan “đốt lửa phỏng tay” cháu bé học trò của cô. Theo bài viết: “Cô khẩn khoản viết trong thư tuyệt mệnh (gởi lại cho chồng) rằng: "Em đã bị mời và bị chửi rất nhiều nên em cảm thấy rất là chán nản chỉ muốn chết cho xong, nhưng em biết là khi em chết đi anh rất là đau khổ nhưng phải chịu thôi". Cô viết vậy rồi vào nhà vệ sinh ở trường, uống chai thuốc trừ sâu tự tử”. Đọc xong bài nầy tôi muốn khóc! Thương cho số phận nghiệt ngã của cô giáo Tuyền, sao cô lại nông nổi tìm đến cái chết hủy hoại đời mình, để lại nổi đau cho người thân và căm giận những kẻ có “trái tim bằng đá”, dồn ép cô vào con đường cùng!! Chưa hết, tôi mở trang BVN và viet-studies đập ngay mắt tôi các tin bài về ông Lê Hiếu Đằng, rồi đến ông nhà báo Phạm Chí Dũng ly khai khỏi Đảng…
Trong một buổi sáng, sơ sơ ghi nhận mấy thông tin trên, đủ vẽ nên bức tranh u ám toàn cảnh hiện thực đất nước “ngàn năm văn hiến”, một thời “ra ngỏ gặp anh hùng” và nội tình một đảng “lừng lẩy” tiếng tăm năm xưa “lãnh đạo đánh thắng hai đế quốc to” … Hiện thực nầy nó đã, đang và sẽ tiếp tục diển ra, chừng nào các vị cầm quyền cấp cao của Đảng chưa chịu “mở mắt” trước cảnh “dầu sôi lửa bỏng” của đất nước và của chế độ!
Vài năm nữa tôi tám mươi tuổi và gần sáu mươi năm tuổi đảng, sinh ra trong một gia đình có “truyền thống cách mạng”, ở mộtlàng quê được vinh danh hai lần “anh hùng”. Gần trọn đời gắn bó với Đảng, góp phần bé nhỏ của mình tạo dựng chế độ nầy, tôi không thể không suy nghĩ những gì diển ra trong xã hội mình đang sống và trong đảng cầm quyền mình còn là một thành viên.
Là cán bộ của Đảng hoạt động thực tiển và từ nghỉ hưu đến nay, tôi có những trải nghiệm trong cuộc sống, đoan chắc hơn nhiều vị lãnh đạo Đảng cấp cao hiện nay, tôi hiểu rõ “đảng của mình” và đồng bào, đồng chí của mình ngày xưa cũng như ngày nay. Tôi có nhiều điều muốn nói với Đảng trên tinh thần xây dựng của người đảng viên và đã ít nhất một lần tôi làm điều này qua hình thức một bức tâm thư trực tiếp trao tay người đứng đầu Nhà nước, nhưng không hề được phản hồi, như “nước đổ lá môn” làm tổn thương lòng tự trọng của tôi, nên tôi nhất định không nói gì trực tiếp với Đảng nữa, có điều gì cần nói, tôi gởi gắm lòng minh qua những trang mạng tin cậy mà thôi. Tôi mong chờ mõi mòn hàng ngày, hàng giờ Đảng có những đổi thay, tránh nguy cơ sụp đổ chế độ và đưa đất nước thoát qua cơn khủng hoảng chánh trị, kinh tế; nhất là khủng hoảng lòng tin trong quần chúng, nhưng sự mong chờ cạn kiệt dần! Đã có lúc sự bực bội đè nặng trong lòng, tôi muốn chọn con đường như ông Lê Hiếu Đằng và ông Phạm Chí Dũng đang đi, nhưng tôi cố kềm chế, nén lòng chờ đợi Đảng…!
Chuyện ông Lê Hiếu Đằng và tiếp theo là ông Phạm Chí Dũng tuyên bố ra khỏi Đảng đang làm dậy lên “cơn sóng ngầm” trong lòng những ai quan tâm đến vận nước và sự tồn vong của chế độ. Tôi chắc rằng sự việc nầy sẽ tác động dây chuyền, rồi đây sẽ còn những người đảng viên một thời “trung thành” với lý tưởng cộng sản, nối gót theo bước đi của hai ông. Trước sự kiện nầy, tôi mong các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, cũng như các cơ quan “bảo vệ Đảng” hãy bình tâm nhìn nhận, suy xét với tinh thần khách quan, cầu thị. Và, để ngăn chặn làn sóng ly khai trong đảng có thể xãy ra và củng cố niềm tin của người dân, Đảng tiếp tục tồn tại làm tròn sứ mạng của mình, chỉ có con đường duy nhất là Đảng phải thay đổi tận gốc tư tưởng và hành động, trở về trong lòng dân tộc, đặt Tổ quốc trên hết, xem lợi ích quốc gia, dân tộc làm trọng, tuân thủ mọi qui luật cuộc sống trong thế giới hiện đại…
Mặt đất dưới chân Đảng đang rung chuyển, tôi mong Đảng hãy kịp thời hành động, đừng để quá muộn!!
N.M.Đ

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 6-12-13

Wednesday, December 4, 2013

Tuyên bố ra khỏi đảng của ông Lê Hiếu Đằng

(nguồn: http://www.viet-studies.info/kinhte/ThuLeHieuDang.jpg)

Tuesday, September 3, 2013

Vài ý kiến về đề xuất thành lập một đảng chính trị mới cho Việt Nam

Lữ Phương

Việc thành lập một đảng chính trị mới đang nói tới ở đây là một đảng giả định, mang tên “Đảng Dân Chủ Xã hội” do Lê Hiếu Đằng đề xuất. Anh Đằng là một cán bộ đã 45 tuổi Đảng, hoạt động ở các đô thị miền Nam trong thời kỳ chiến tranh “chống Mỹ”, sau 1975 từng đảm nhận vai trò lãnh đạo trong Mặt Trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh suốt một thời gian dài. Đề xuất của anh đã làm dấy lên trong  dư luận trong và ngoài nước một  không khí tranh cãi sôi nổi, hào hứng, quyết liệt  ít thấy . Là chỗ quen biết anh Đằng, sau khi theo dõi những cuộc tranh luận nói trên, tôi  xin được góp thêm với công luận mấy ý kiến sau đây:

***

1. Điều tôi có thể khẳng định đầu tiên là đề xuất  ấy chỉ là  ý kiến đột xuất của riêng Lê Hiếu Đằng khi anh đối mặt với căn bệnh ngặt nghèo mà mình vướng phải, từ  đó nẩy ra ý định nhìn lại cả một đời hoạt động đã qua và đã bày tỏ những dằn vặt cá nhân của mình về những hoạt động đó trong bài “ Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” . Khi bài này xuất hiện trên một trang mạng lập tức được anh Hồ Ngọc Nhuận – một nhà báo cũng là một nhân sĩ ngoài Đảng, thuộc “lực lượng thứ ba”  đối lập với chính quyền Sài Gòn trước đây, sau 1975 đã cùng hoạt động với anh Đằng trong ban lãnh đạo Mặt trận Thành phố Hồ Chí Minh – lên tiếng tán thưởng bằng một bài viết hết sức nhiệt tình mang tên “Phá Xiềng”. 

Sau bài viết đó của anh Nhuận, đây đó đã phát sinh dư luận cho rằng việc thành lập một đảng mới đối lập, đương đầu với Đảng Cộng sản đã là một thực tế đang được xúc tiến và xúc tiến  bởi một nhóm người đang nuôi tham vọng nào đó về chính trị. Nhưng theo chỗ tôi biết thì trên thực tế chưa hề có một cá nhân nào hoặc một nhóm người nào đó thực sự có ý định kết tập nhau lại để  bắt tay vào việc hình thành ra cái đảng chính trị này cả. Tất cả chỉ mới manh nha trong sự gợi ý từ bài viết của anh Đằng và riêng anh Đằng cũng cho biết, ngay cả khi có điều kiện để hiện thực hoá ý tưởng ấy thì trong tình trạng bệnh tật không biết đi đến đâu hiện nay, anh cũng không thể nào đứng ra đảm đương được. Anh Đằng không ngây thơ đến nỗi không hiểu  tính chất đầy khó khăn và phức tạp của một dự án chính trị như vậy.

2. Qua việc tiếp xúc trực tiếp với anh và những văn bản mà anh đã công bố,  tôi có thể khẳng định thêm rằng khi gợi ra vấn đề “đa đảng” nói trên, anh Đằng không hề đề ra mục tiêu lật đổ hay thay thế Đảng cộng sản đang lãnh đạo nhà nước và xã hội Việt Nam. Động lực thực sự của anh là muốn đưa ra một giải pháp thiết thực, góp phần dân chủ hoá đời sống chính trị của đất nước, từ đó cùng góp sức với Đảng cộng sản, tìm kiếm những giải pháp phù hợp  thực tế để mau chóng đưa đất nước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Suy nghĩ này của anh thật ra không có gì mới mẻ vì đã được nhiều nhân vật hoạt động và một số nhà nghiên cứu (kể cả những người trong Đảng) nói tới từ lâu,  quan trọng nhất là chỉ ra được nguyên nhân mọi sai lầm lặp đi lặp lại của Đảng cộng sản cầm quyền: đó là việc Đảng đã coi cái ý thức hệ Mác-Lênin của riêng mình như chân lý duy nhất đúng, ép buộc toàn xã hội  phải thừa nhận, căn cứ vào đó thiết lập quyền độc tôn lãnh đạo,  không màng đến  phản ứng của cuộc sống thực tiễn, nguyện vọng của đông đảo nhân dân.  

Tất cả mọi sự phản biện dai dẳng đưa đến những đề xuất  tìm kiếm một giải pháp điều chỉnh lại hướng đi cho đất nước cũng xuất phát từ đó: trong thời kỳ mới này, Việt Nam cần phải chuyển mình sang thể chế dân chủ để hình  thành một tập hợp dân tộc đồng thuận, trong và ngoài nước, dựa trên đó cùng nhau tìm ra những giải pháp thoát khỏi được sự bế tắc bấy lâu nay. Trong ý hướng dân chủ hoá đời sống chính trị đó, vấn đề kiểm soát quyền lực –  cụ thể là  không để nhà nước dùng sự độc tôn quyền lực triệt tiêu sự sống độc lập của xã hội công dân, kết quả là biến sự độc tôn đó thành chỗ dựa cho các tập đoàn lợi ích cấu kết với nhau để thao túng nhà nước – đã được đặt ra ngày càng gay gắt, dưới nhiều hình thức, từ việc lên tiếng của những cá nhân đến những kiến nghị tập thể mở rộng cho nhiều người tham gia.

3. Vấn đề “đa đảng” mà Lê Hiếu Đằng nêu ra chỉ nhắc lại những suy nghĩ chung nẩy sinh từ quá trình thảo luận tìm kiếm con đường dân chủ hoá cho Việt Nam, diễn ra cả hơn hai thập kỷ đã qua. Và không phải chỉ như vậy vì có lúc các ý tưởng ấy đã thể hiện trong thực tế, cụ thể qua sự xuất hiện công khai một số đảng chính trị mà thách thức rất đáng chú ý là việc ông Hoàng Minh Chính một cựu đảng viên đứng ra “phục hồi” một đảng ra đời vào thời kỳ cách mạng 1945 mệnh danh là Đảng Dân Chủ. Gọi là “phục hồi” một đảng cũ (thực chất là do Đảng Cộng sản chủ động lập ra) nhưng trong khi đó ông Chính lại dời vị trí nội địa của nó ra hải ngoại để một số nhân vật bên ngoài chi phối, vì thế nỗ lực của ông đã không giữ được tính chính danh cần phải có để có thể hoạt động, nhất là không đủ thực lực để vượt qua được sự trấn áp của Đảng cộng sản.

Đảng chính trị mang tên “Dân chủ Xã hội”  do Lê Hiếu Đằng đề xuất đã đi theo một hướng hoàn toàn khác: là kết quả của cuộc vận động trong nước nhưng không ra đời một cách tự phát từ cuộc sống xã hội mà lại bắt nguồn từ nội bộ Đảng cộng sản, cụ thể từ sáng kiến của những đảng viên bất đồng, xin ra khỏi Đảng với một số lượng tương đối nào đó để có thể khởi xướng và thành lập.  Thực chất của cái thực thể chính trị được Lê Hiếu Đằng đề xuất đã bộc lộ rõ trong điều kiện giả định đó: Đảng Dân chủ Xã hội sẽ không thể nào trở thành hiện thực nếu chưa có đủ số đảng viên cộng sản ly khai cần thiết. Vì thế sẽ là tất nhiên khi thấy anh Đằng chưa nói gì đến cương lĩnh, tổ chức, điều lệ của đảng, và cũng là tất nhiên nữa khi chúng ta chưa thấy có dấu hiệu nào cho biết đã có một sự chuẩn bị tối thiểu để làm việc đó. Câu hỏi về sự chín muồi hay chưa của tình hình để sự đề xuất này có thể đi vào thực tế thiết tưởng cũng không có ý nghĩa bao nhiêu.

Vì thế, muốn nhìn ra cho rõ hình hài của cái thực thể chính trị mới này tôi thấy không dễ. Tuy vậy nếu cố gắng  đi sâu vào những gì Lê Hiếu Đằng gợi ra qua các bài viết của anh, chúng ta vẫn có thể hình dung ra được đôi nét rất khái quát của nó. Khác hẳn về phương pháp hoạt động với Đảng cộng sản, đó là điều rõ ràng nhất: nếu một bên là chuyên chính, dựa vào đường lối  từ bên trên để “cải tạo” bên dưới, buộc bên dưới phải vâng phục (cộng sản) thì một bên sẽ là dựa vào bên dưới – Lê Hiếu Đằng nói đến nhiều lần cái “xã hội dân sự” đang lớn mạnh  – để hoạt động, lấy nguyện vọng của bên dưới hình thành đường lối, căn cứ vào đó tạo ra áp lực tác động lên trên, buộc Đảng cộng sản phải tiến hành những cải cách căn bản và thiết thực (dân chủ xã hội).

Khác nhau về phương pháp hoạt động nhưng xét về mặt mục tiêu, hai thực thể chính trị ấy vẫn có thể gặp nhau trên những định hướng lý thuyết khả dĩ về một mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống: hạn chế sự bóc lột mù quáng và vô độ của chủ nghĩa tư bản, đề cao quyền sở hữu về sức lao động của những người công nhân, bảo vệ môi trường tự nhiên, lành mạnh hoá môi trường văn hoá xã hội …Với những tương đồng giả định đó, nếu ra đời được, Đảng Dân Chủ Xã hội sẽ đảm nhận một chức năng đặc biệt trong mô hình “lưỡng đảng” kiểu  Việt Nam, ở đó  Đảng cộng sản vẫn là chủ thể lãnh đạo còn Đảng Dân chủ Xã hội sẽ giữ vai trò của một lực lượng “đối trọng hợp pháp”, không hoàn toàn là một thứ đảng bù nhìn vuốt đuôi (như ở Trung quốc) nhưng cũng không phải là một đảng chống đối nhằm “giải thể” Đảng cộng sản để thay thế như người ta có thể tưởng tượng ra.  

4. Nhìn chung lại, tôi thấy đề xuất thành lập Đảng Dân chủ Xã hội của Lê Hiếu Đằng đã đặt nền trên mấy nhận định sau đây:

  • Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản hiện nay đã tỏ ra hoàn toàn bất lực trong công cuộc phát triển lành mạnh của đất nước, vì vậy đang đưa dân tộc vào một cuộc khủng hoảng xã hội trầm trọng, có nguy cơ để mất chủ quyền vào thế lực bành trướng phương Bắc.
  • Tình trạng đó được quy về phương thức lãnh đạo chuyên chính của Đảng cộng sản với một đường lối áp đặt, xa rời thực tế, mất lòng dân, cho nên biện pháp dân chủ hoá sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là điều kiện cấp bách để giải quyết cuộc khủng hoảng nói trên. 
  • Trong tình thế cực đoan như hiện nay, sự ra đời của một đảng mới gần gũi với Đảng cộng sản về mục tiêu nhưng khác về phương pháp là phương thức tốt nhất, để vừa dân chủ hoá thể chế chính trị ở Việt Nam, vừa tạo ra một môi trường cạnh tranh thúc đẩy Đảng cộng sản tự dân chủ hoá và canh tân.


Qua sự tìm hiểu như trên, giả sử như tiếp cận được gần đúng suy nghĩ của Lê Hiếu Đằng, nếu bỏ qua một số biểu đạt có tính chất cảm tính vì những bức xúc đặc biệt của anh, tôi cho rằng những suy nghĩ ấy cần được đón nhận một cách  thiện chí vì bản thân cái phần cốt lõi trong bài viết của anh đã bắt nguồn từ một thiện chí không thể không ghi nhận. Những anh em quen biết anh Đằng lâu năm đều nhận thấy anh thuộc loại đảng viên ít chịu khoan nhượng trước những sai trái, cho nên hoạt động trong một môi trường phải tận mắt chứng kiến quá nhiều những điều đi ngược lại lý tưởng ban đầu của anh, nghiêm trọng, dai dẳng đến phi lý, anh không thể không tiếp nối những người đi trước (như tướng Trần Độ đã mất ), lên tiếng phê phán những sai trái ấy với tinh thần trách nhiệm cao nhất của một đảng viên mà cũng là của một công dân. Gọi anh là kẻ “phản bội”, “chuyển hệ” hoặc theo đuôi các “thế lực thù địch”,  xuyên tạc tư tưởng để bôi nhọ nhân thân của anh v.v… là những quy kết đầy ác ý.

Còn về vấn đề “”đa đảng” mà anh xởi lên, như đã nói ở trên, thật sự đó vẫn chỉ là một đề xuất giả định, đúng hơn là một khuyến cáo có tính chất định hướng cho Đảng cộng sản – chứ không phải cho những thực thể chính trị khác – mà anh vẫn còn là một thành phần, mục đích không có gì khác hơn là thúc đẩy sự canh tân thể chế, vì lợi ích của dân tộc mà cũng là vì Đảng của anh. Vốn là  một khuyến cáo công khai đề xuất trực tiếp, nếu không đồng ý với anh thì điều quan trọng nhất để những nhà lãnh đạo Đảng ứng phó là chỉ đạo những nhà lý luận của mình, dưới hình thức một cuộc đối thoại cũng công khai, minh bạch trả lời từng điểm một các vấn đề đã được nêu ra, nhân dịp này thành thật công bố đường lối giải quyết những khó khăn hiện nay của Đảng (nhất là với chủ nghĩa bành trướng phương Bắc),  không phải chỉ với riêng anh mà với cả đông đảo  những người thuộc nhiều thế hệ khác nhau, đã nghĩ như anh và tạo ra động lực để anh bộc lộ. Không làm như vậy mà lại né tránh các vấn đề đó, trong khi đó lại cho mở ra chiến dịch công kích anh hết sức thô bạo –  cơ sở lập luận không dựa vào đâu ngoài những công thức tuyên truyền  xa rời thực tế (như tính chất “khoa học” của chủ nghĩa Mác-Lênin,  sự chọn lựa của Đảng và của nhân dân là một, cổ vũ đa đảng là làm rối loạn xã hội  v.v…), đương nhiên coi đó như những chân lý quyền uy, không cần thuyết phục –  những nhà lý luận của Đảng đã không gặt hái được gì ngoài  những chống trả quyết liệt của nhiều xu hướng phản biện khác nhau.   

5. Để giữ tính chất nghiêm túc cho đề xuất của Lê Hiếu Đằng, thiết nghĩ  chúng ta cần vượt lên cuộc tranh cãi ồn ào đang diễn ra để tìm hiểu thêm vấn đề này theo  một viễn cảnh chuyển đổi xã hội rộng lớn hơn mà ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra ngày càng rõ ràng, đặc biệt là những ý hướng canh tân mạnh mẽ xuất phát từ trong nội bộ Đảng cộng sản. Trong xu thế ấy, việc đề xuất công khai và trực tiếp của Lê Hiếu Đằng về vấn đề “đa đảng”là  một đột biến quan trọng, có khả năng mở ra một hướng mới cho quá trình đấu tranh trong nội bộ Đảng về sự cần thiết phải có những chuyển hoá triệt để về lãnh đạo: cuộc đấu tranh dân chủ hoá đời sống chính trị của đất nước từ nay trở đi sẽ không chỉ giới hạn trong việc “phản biện” trên lời nói về những chính sách sai lầm của Đảng mà cần tranh đấu tạo ra một định chế phân tán quyền lực để ngăn chặn những sai lầm ấy một cách có hiệu lực. Việc kiểm soát quyền lực này không đụng chạm tới cương lĩnh của Đảng cộng sản (đó là chuyện nội bộ của những người cộng sản) mà chỉ đặt vấn đề thiết lập một định chế mới để buộc Đảng cộng sản phải tuân thủ những quy định dân chủ về “kiểm soát và cân bằng quyền lực” khi đem cương lĩnh của mình ra thực hiện.

Trước một xu thế như vậy, sự phản ứng ứng quyết liệt của một số cán bộ Đảng, quen bám víu (một cách lén lút) vào thứ lý luận giáo điều về “chuyên chính vô sản”, dứt khoát không chia quyền với bất cứ ai, là hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng  nhìn vào lịch sử của phong trào cộng sản thế giới, người ta nhận thấy quan niệm ấy không phải lúc nào cũng được áp dụng một cách tuyệt đối, máy móc, nhất là  trong những tình thế khó khăn cần linh động nhân nhượng để đừng mất tất cả (“dĩ nhất biến ứng vạn biến” như Hồ Chí Minh hay nói): việc Đảng cộng sản Đông Dương, cuối năm 1945 ra thông báo căn cứ vào “tình hình thế giới và hoàn cảnh trong nước” bấy giờ để  tự  giải tán là một thí dụ . Trong những tình hình như vậy, vấn đề “đa đảng” không còn là một khái niệm thiêng liêng, một nguyên tắc bất dịch mà là một công cụ trong đấu tranh, cần phải được sử dụng để bảo vệ mục đích theo đuổi của mình. Vấn đề thành công hay thất bại trong trong việc quyết định này hoàn toàn tuỳ thuộc vào bản lĩnh của những người có đảm lược sử dụng công cụ đó.

Ngay trong điều kiện đã giành thắng lợi rồi mà muốn bảo vệ quyền lực một cách lâu bền, công cụ đó vẫn không thể tiên quyết coi như một cấm kị. Thực tế cho chúng ta biết có khá nhiều hình thức “đa đảng” đã được những đảng cầm quyền sử dụng có lợi cho mình. Có thể cho phép một loạt đảng “hiệp thương” tồn tại  để làm “kiểng” cho chế độ một đảng độc tài. Cũng có trường hợp các đảng  gọi là “đối lập trung thành” được luật pháp cho hoạt động công khai nhưng trên thực tế đã bị đảng cầm quyền khống chế (một cách hợp pháp và cả bất hợp pháp)  để duy trì quyền lãnh đạo thống trị của mình. Cũng có trường hợp công cụ đa đảng được dùng trong thể chế “đa nguyên đa đảng” ở đó các đảng đối lập, vì một lý do văn hoá, lịch sử nào đó, luôn chiếm vị trí thiểu số, nhưng cũng có những trường hợp được sử dụng trong thể chế “nhất nguyên đa đảng”, ở đó chỉ có  hai đảng thay nhau cầm quyền  bằng những phương pháp khác nhau nhưng có cùng mục đích bảo vệ những giá trị chung của một chế độ cả hai đều chia sẻ. Trước thực tế phức tạp của cuộc đấu tranh quyền lực, việc tuyệt đối hoá một quan niệm “độc đảng” có nội dung nào đó để duy trì sự độc tôn quyền lực cho Đảng của mình trong mọi trường hợp là một thái độ không thực tế. Nhất là lại thuần tuý  bằng trấn áp và bạo lực thì không những không thực tế mà còn nguy hiểm: đảng chính trị đó chỉ tích tụ những toan tính bạo lực ngược chiều, trước sau gì cũng “quỵ sụm” hoặc bị đánh đổ bằng con đường  bạo lực do mình tạo ra.

***

Sẽ là một thiếu sót nếu bài này chấm dứt mà không có vài lời sau đây xin thưa cùng những người quen hay không quen đã bày tỏ thái độ đồng tình, cổ vũ đề xuất của Lê Hiếu Đằng: a) Đề xuất của anh  chỉ là một khuyến cáo với Đảng cộng sản.  Tán thành nhưng xem đây chỉ như một sáng kiến “cải lương”, “thoả hiệp” hoặc “ảo tưởng” cũng không sao, nhưng đừng quên rằng đây là một hình thức tranh đấu mới nẩy sinh từ bên trong hàng ngũ  những người cộng sản trước tình thế mới. b)Thực chất của đề xuất đó là chuyển hoá thể chế chuyên chính sang  dân chủ pháp quyền, ở đó hình  đa đảng là một công cụ đấu tranh thực hiện bằng phương pháp nội tại của những người cộng sản bất đồng.  Cần xuất hiện những suy nghĩ khác có nội dung phù hợp với những bước đi thích hợp hơn. c) Công việc cực kỳ khó khăn, xin đừng quá bồng bột coi đề xuất này như một thứ phép màu mang đến khả năng chấm dứt ngay được di sản nặng nề của độc tài, chia rẽ, hận thù  do quá khứ để lại. Cũng đừng quên trong chính trị, vấn đề  “đa đảng” chỉ là một công cụ đấu tranh: viễn cảnh về một xã hội mà công cụ đó cần vượt qua và nhắm tới mới là mục tiêu quan trọng hơn.

Xong đúng ngày 2-9-2013

L.P

Thursday, August 29, 2013

Đừng gây thêm nữa tội ác với dân tộc, với lịch sử

ĐỪNG GÂY THÊM NỮA TỘI ÁC VỚI DÂN TỘC, VỚI LỊCH SỬ

Posted by basamnews on August 27th, 2013
PHẠM ĐÌNH TRỌNG
1.  BÓNG ĐEN NHỮNG VỤ ÁN CHÍNH TRỊ Ô NHỤC TRONG QUÁ KHỨ ĐANG TRỞ LẠI
 Đọc những bài viết phê phán ông Lê Hiếu Đằng trên báo Quân Đội Nhân Dân, báo Nhân Dân, báo Đại Đoàn Kết, báo Công An Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng .  .  . tôi lại nhớ đến những bài viết rầm rộ, đồng loạt, tới tấp đánh NVGP (Nhân Văn Giai Phẩm) trên các báo ở miền Bắc hồi những năm 1956, 1957.
Những bài viết phê phán ông Lê Hiếu Đằng sao giống khẩu khí, giọng điệu, giống cả thái độ quyền uy lấn lướt, giống cả sư hằn học nhỏ nhen, muốn làm sống lại cả không khí ngột ngạt, căng thẳng thời đánh NVGP đến thế. Chỉ khác chút ít về độ nóng và qui mô.
Đánh NVGP lệnh công khai phát ra từ chót vót trên cao. Những bài viết và nói nảy lửa của ông Tố Hữu phát ra từ cung đình nhà Đỏ như phát súng lệnh. Đồng loạt các nhà nghiên cứu, các văn nghệ sĩ ào ào nhảy vào đánh túi bụi những mục tiêu đã được chỉ định. Đánh để cố tách xa mình ra khỏi NVGP, để bày tỏ lòng trung thành với đảng, để lập công với đảng nên không thiếu một tên tuổi nào, không sót một tờ báo nào trong cuộc đánh hội đồng này.
Ngày nay mượn cớ đánh bài Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh của ông Lê Hiếu Đằng để đánh phá cả phong trào đấu tranh đòi dân chủ hóa đất nước mà chỉ có dăm tờ báo với vài người viết tên tuổi lạ hoắc có thể coi là vô danh. Có thể họ có tên tuổi đấy nhưng phải núp dưới cái tên xa lạ thì cũng coi như vô danh. Báo Nhân Dân còn bắt kẻ vô danh đó phải đeo thêm vòng lá ngụy trang rậm rì là người Mĩ gốc Việt Amari TX. Chỉ có một giáo sư cung đình, giáo sư của đảng xung trận. Càng thấy sự yếu thế, sự bất chính, không có lẽ phải trong trận đánh phá, răn đe tiếng nói rất chính đáng của người dân, tiếng nói rất bình thường của cuộc sống trong một xã hội dân sự.
Mức độ có khác, qui mô và khí thế có khác nhưng nội dung thì hoàn toàn là sự tái hiện lại vụ Nhân Văn Giai Phẩm, vụ Xét Lại Chống Đảng trong quá khứ, là quyền uy độc tài đánh phá ngăn chặn đòi hỏi tự do dân chủ, là lực lượng chuyên chính về tư tưởng bảo vệ quyền uy, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của Nhà nước đảng trị chống trả lại tiếng nói vì dân vì nước.
Đúng như nhìn nhận của ông Nguyễn Hữu Đang, một trong những nhân vật hàng đầu của NVGP, phong trào NVGP thực chất là:
“Chống lại sự biến chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ chế độ chuyên chính thông thường đã bắt đầu có xu hướng cực quyền, còn gọi là toàn trị, tiếng Pháp là totalitarisme, tiếng Anh là totalitarian, trong đó con người bị cưỡng bức toàn diện, triệt để nhiều khi tàn nhẫn đến vô nhân đạo, phi nhân văn, biến con người bị trị thành nô lệ của một tập đoàn thống trị ít người và duy ý chí, tuy nhân danh cách mạng mà hành động, nhưng hiệu quả khách quan của hành động lại phản tiến hóa. Sự biến chất này do ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông, cả hai đều tự nhận là chủ nghĩa Mác-Lênin! Rất tiếc là lúc ấy Đảng Cộng sản Việt Nam tin là như thế.” (Phạm Xuân Nguyên. Ông Đang. Talawas. 12. 02. 2007)
NVGP chỉ là tiếng nói của trí thức, nghệ sĩ đòi tự do sáng tạo trong một xã hội dân chủ. Nhưng đảng Cộng sản Việt Nam, lúc đó còn có tên là đảng Lao động Việt Nam, và những người có đặc quyền, đặc lợi trong đảng sợ mất vị trí độc tôn liền vu cho NVGP là một tổ chức phản động chống đảng và lật đổ Nhà nước Cộng sản. Ông Tố Hữu khi đó là Ủy viên Trung ương đảng Lao động Việt Nam, đặc trách công tác văn hóa, văn nghệ, truy chụp:
“Lật bộ áo Nhân Văn – Giai Phẩm thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trốt kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm .  .  .” (T.9. Sách “Qua Cuộc Đấu Tranh Chống Nhóm Phá Hoại Nhân Văn Giai Phẩm Trên Mặt Trận Văn Nghệ.”. Tố Hữu. Nhà xuất bản Văn Hóa. Hà Nội. 1958).
“Trong cái công ty phản động Nhân Văn – Giai Phẩm ấy thật sự đủ mặt các loại “biệt tính”: từ bọn Phan Khôi, Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An, từ bọn Trốt kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ và tư sản phản động, và đều ngoan cố giữ lập trường quyền lợi giai cấp cũ của mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ.” (T. 17. Sách đã dẫn)
Cuộc đấu tố địa chủ trong cải cách ruộng đất diễn ra ở bãi đấu tố trên cánh đồng. Ở đó người đấu tố càng tỏ ra sôi sục căm thù vạch ra được nhiều tội ác của địa chủ càng được đánh giá là có giác ngộ giai cấp, càng được đảng tin cậy, cất nhắc. Vì thế người đấu tố phải cố lên gân lập trường giai cấp, phải tưởng tượng ra đủ các tội vu oan giá họa làm cho một nông dân hiền lành chỉ nhờ biết tổ chức làm ăn, chịu khó cần cù khuya sớm và tằn tiện ki cóp mà có đủ ruộng cày cấy và có cuộc sống tạm đủ ăn cũng trở thành địa chủ cường hào gian ác phải nhận bản án tử hình.
Cuộc đấu tố NVGP diễn ra trên mặt báo, trên trang sách cũng đòi hỏi người đấu tố phải lên gân lập trường giai cấp và giàu sức tưởng tượng như bần cố nông đấu tố địa chủ. Vì thế những tiếng nói chỉ đòi dân chủ xã hội, đòi tự do sáng tác của những trí thức nghệ sĩ chân chính muốn được sáng tạo cũng trở thành “một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trốt kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm.  .  .”
Bài viết Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh của ông Lê Hiếu Đằng chỉ là tiếp nối tiếng nói NVGP nửa thế kỉ trước đòi tự do dân chủ:
“Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập: lập pháp, hiến pháp, tư pháp độc lập. Tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng. Cần có Quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới. Sau đó bầu Quốc hội lập pháp để ĐCS sẽ qua bầu cử bình đẳng mà trở thành người lãnh đạo.
Tôi nghĩ trong một thời gian dài ĐCS sẽ là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được. Các nhà lãnh đạo ĐCS cần tự tin điều đó. Dần dần các Đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh. Nếu xã hội không có lực lượng đối lập sẽ trở thành một con bệnh SIDA khó trị, chờ chết mà thôi.
Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (theo ngôn ngữ của Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu). Không có tự do thì không thể có khoa học, văn học, nghệ thuật, báo chí… thật sự. Do đó Hiến Pháp 1946 đã qui định những quyền tự do của con người. Đó là vấn đề quyền con người. Nhưng giờ đây chế độ toàn trị đã phản bội tước đoạt tất cả các quyền cơ bản đó, vất bỏ tuyên ngôn nhân quyền và nhai đi nhai lại luận điệu mỗi nước có hoàn cảnh riêng, có vấn đề nhân quyền riêng. Họ không biết rằng đó là quyền cơ bản và phổ quát mà loài người đã đấu tranh qua nhiều thế hệ.” (Lê Hiếu Đằng. Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh).
Trước sự tha hóa trong quyền lực không thể cứu vãn của đảng Cộng sản Việt Nam nếu cứ độc đảng, ông Lê Hiếu Đằng đề xuất: “Tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi đảng, hoặc không còn sinh hoạt đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo). Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi đảng và thành lập một đảng mới, chẳng hạn như đảng Dân Chủ, Xã Hội, những đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị đảng Cộng sản bức tử phải tự giải tán”
Đề xuất đó là lời nhắc nhở nghiêm khắc cho đảng Cộng sản Việt Nam phải sửa mình, cất mình lên thoát khỏi sự trượt dài trong tha hóa vì quyền lực, tạo cơ hội cho đảng Cộng sản Việt Nam có chính danh lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong cuộc cạnh tranh chính trị lành mạnh: “Các đảng, các tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với đảng Cộng sản trong cuộc bầu cử hợp pháp .  .  .” Đó là thiện chí Lê Hiếu Đằng. Đó cũng là trung thực Lê Hiếu Đằng, đảng tính Lê Hiếu Đằng.
Nhưng như đỉa phải vôi, ông Trọng Đức trên báo Quân Đội Nhân Dân ngày 18. 08. 2013 giật mình, hốt hoảng la lối: “Thực chất các lời khuyên “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” đưa ra gần đây một cách rất “tâm huyết”, chẳng qua chỉ nhằm tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản mà thôi.”
Ông Linh Nghĩa trên báo Công An Nhân Dân ngày 24. 08. 2013 truy chụp: “Vấn đề nghiêm trọng hơn là ở chỗ ông Lê Hiếu Đằng thách thức pháp luật và kêu gọi xóa bỏ chế độ hiện hữu, bao gồm cả vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam”.
Còn ông người Mĩ gốc Việt Amari TX thì ngày 22. 08. 2013 lên báo Nhân Dân vu vạ: “Ðọc bài của một “nhà bất đồng chính kiến” công bố gần đây, tôi không ngạc nhiên và cũng không bất ngờ về nhân vật mà các phần tử cơ hội, bất mãn đang ra sức tung hứng như “ngọn cờ” để chống phá Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCS Việt Nam) và Nhà nước CHXHCN Việt Nam.”, “Bài viết của ông là sự thóa mạ chủ nghĩa Mác, mạt sát ÐCS Việt Nam và chế độ chính trị – xã hội hiện nay ở Việt Nam, đòi thay đổi chính trị bằng cách thành lập một đảng phái khác.” (Ngôn từ, khẩu khí, thái độ và lối mòn tư duy thâm căn cố đế của ông Amari TX làm người đọc cứ ngờ ngợ rằng ông người Mĩ gốc Việt này như đang sống và đã sống hàng năm hàng đời trong căn hộ khu tập thể nào đó được Nhà nước cấp cho cán bộ ở Trung Tự, Kim Liên, Đội Cấn, Hà Nội).
Đúng là tiếng hô hoán, giọng truy chụp quyền uy và vu vạ chính trị ngày nào để tạo dựng lên vụ NVGP ô nhục!
2.  NHỮNG CHIÊU TRÒ DỰNG TỘI
Coi thường người dân, lừa dối người dân là một bài bản của những người tạo ra vụ NVGP. Bài bản nhẫn tâm và bất lương đó đến nay vẫn được sử dụng khi ông Trọng Đức viết: “Tại Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, vừa có quyền lập hiến, lập pháp, vừa có quyền giám sát tối cao, vừa có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Nếu nhìn vào cơ cấu đại biểu Quốc hội sẽ thấy, các tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội đều có đại diện của mình trong Quốc hội. Quốc hội Việt Nam do toàn thể nhân dân Việt Nam bầu ra để thay mình thực hiện quyền lực Nhà nước. Do vậy, quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Việc duy trì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 theo quyết định của Quốc hội, do vậy, cũng thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân.”
Quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư nguyện vọng của tuyệt đại đại số nhân dân mà khi Quốc hội vừa đòi thảo luận có nên sát nhập Hà Tây vào Hà Nội không thì ông Ủy viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời là Chủ tịch Quốc hội liền gạt phắt: “Việc sát nhập Hà Tây vào Hà Nội, Bộ Chính trị đã quyết định rồi!” Các đại biểu Quốc hội đành cúi mặt câm lặng rồi răm rắp giơ tay biểu quyết theo quyết định của đảng!
Hơn chín mươi phần trăm đại biểu Quốc hội là đảng viên Cộng sản thì đảng muốn gì chả được, đảng bảo sao Quốc hội cũng phải nghe. Vì thế Hiến pháp mới có điều 4 ngang nhiên tước đoạt quyền công dân của người dân. Vì thế bộ luật tố tụng hình sự mới có điều 79, điều 88, điều 258 trắng trơn vi phạm Hiến pháp.
Hơn chín mươi phần trăm đại biểu Quốc hội là đảng viên của đảng tham nhũng mà ông Trọng Đức bảo Quốc hội đó “thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân” thì đó là sự miệt thị, xỉ nhục dân đấy, ông Trọng Đức ạ!
Thần linh hóa, tôn giáo hóa đảng Cộng sản Việt Nam. Bất biến, định mệnh hóa, tuyệt đối hóa sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam, ai động đến sự cai trị đó, đòi pháp luật hóa, chính danh hóa sự cai trị đó là nhảy thách lên mang chuyên chính tư tưởng ra trấn áp. Đó là khởi sự của vụ NVGP và cũng là khởi sự của vụ việc hôm nay. 
 Một ông người Mĩ gốc Việt ở tận bên kia Thái Bình Dương mà hùng hồn tuyên bố về sự lãnh đạo bất biến của đảng Cộng sản Việt Nam như một định mệnh nghiệt ngã đối với dân tộc Việt Nam: “Sự lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước đã trở thành nguyên tắc nhất quán. Nguyên tắc “bất biến” là vừa phải giữ vững quyền lãnh đạo chính trị của Ðảng với Nhà nước, vừa phải bảo đảm sự lãnh đạo của Nhà nước, làm cho Nhà nước trở thành một nhà nước dân chủ mới. (Amari TX. Vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam là một yếu tố khách quan. Báo Nhân Dân 22. 08. 2013).
3.  ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỰC TẾ LỊCH SỬ 
Những nhà viết lịch sử đảng, những nhà lí luận, những cán bộ tuyên huấn của đảng suốt mấy chục năm qua đều một giọng cường điệu hóa, anh hùng ca hóa công tích của đảng Cộng sản Việt Nam mà không chịu nhìn vào thực tế là những sai lầm liên tiếp trong quá khứ, tham nhũng không có điểm dừng trong hiện tại của đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ thảm họa này đến thảm họa khác. 
Thảm họa cải cách ruộng đất đánh sập từ gốc rễ đạo lí Việt Nam, đánh tan tác văn hóa làng xã tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.
Thảm họa Nhân Văn Giai Phẩm, thảm họa ngụy tạo ra vụ Xét lại chống đảng đã giam cầm, đầy ải, giết dần giết mòn những tài năng, tinh hoa nhất của dân tộc Việt Nam.
Thảm họa cải tạo tư sản ở miền Bắc sau năm 1954, cải tạo tư sản ở miền Nam sau năm 1975 tước đoạt quyền làm chủ của những chủ tư sản biết tổ chức sản xuất kinh doanh tạo ra việc làm cho người lao động, tạo ra của cải cho xã hội. Những cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân đang làm ăn có lãi và đang phát triển mạnh mẽ khi chuyển vào tay Nhà nước xã hội chủ nghĩa liền thua lỗ rồi tan hoang. Cải tạo tư sản đã hủy hoại, xóa sổ cả một nền sản xuất công nghiệp tự chủ đang lớn mạnh của người dân, của đất nước.
Thảm họa tập trung cải tạo thực chất là tù đày lực lương ưu tú nhất của xã hội miền Nam cũng là tài sản con người của dân tộc Việt Nam, đẩy một nửa dân tộc Việt Nam ra khỏi vòng tay Mẹ hiền Tổ Quốc Việt Nam. Từ đó dẫn đến thảm họa thuyền nhân vùi xác hơn nửa triệu người dân Việt Nam dưới đáy biển. 
Thảm họa mất đất mất biển. Những mảnh đất mang hồn thiêng tổ tiên người Việt Nam, thấm đẫm máu nhiều thế hệ người Việt Nam, những tên đất chói lọi trong lịch sử Việt Nam đã bị Nhà nước Cộng sản Việt Nam cắt sang đất Tàu Cộng!
Thảm họa khai thác bô xít Tây Nguyên tàn phá môi trường, tàn phá văn hóa Tây Nguyên, làm chảy máu lâu dài nền kinh tế đất nước. Dự án khai thác bô xít Tây Nguyên liên tục ngốn nguồn vốn lớn hàng chục ngàn tỉ, hàng trăm ngàn tỉ đồng của nền kinh tế đất nước nhưng không làm ra một đồng tiền lãi, không bao giờ có lãi ở thời hiện tại!
Thảm họa Vinashin, Vinalines làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng vốn ngân sách Nhà nước, tạo ra đổ vỡ dây chuyền làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản, đẩy nền kinh tế đất nước vào khủng hoảng kéo dài, không thể cất mình lên nổi.
Thảm họa tụt lại sau thế giới, lạc lõng với thế giới. Năm 1975 Thái Lan phải ngước nhìn lên sự phát triển của kinh tế, xã hội miền Nam Việt Nam thì nay Thái Lan phải ngoái lại phía sau nhìn sự ì ạch của kinh tế xã hội Việt Nam vì Thái Lan đã vượt xa Việt Nam vài chục năm rồi và càng ngày Thái Lan càng bỏ xa Việt Nam.
Thảm họa trách nhiệm. Ở các nước dân chủ, bằng lá phiếu và bằng tự do ngôn luận, tự do báo chí, người dân thực sự có vai trò quyết định đến việc chấp chính của đảng cầm quyền và người cầm quyền. Chỉ một đổ vỡ nhỏ trong đời sống xã hội hoặc đời sống kinh tế đất nước, người cầm quyền phải đứng ra nhận trách nhiệm bằng việc từ chức, đảng cầm quyền cũng mất quyền lãnh đạo. Chỉ vì quyết liệt hạn chế gia tăng dân số không được lòng dân mà đảng Quốc Đại đương quyền ở Ấn Độ không nhận đủ số phiếu bầu của người dân để tiếp tục cầm quyền và bà Thủ tướng lừng lẫy công lao với đất nước Ấn Độ Indira Gandhi cũng mất chức Thủ tướng. Có dân chủ, đổ vỡ khó tái diễn và không thể có đổ vỡ dây chuyền, đổ vỡ lan rộng trong tất cả các mặt đời sống xã hội. Ở ta những thảm họa lớn gây chết chóc hàng trăm ngàn người dân như thảm họa cải cách ruộng đất, giết chết cả nền văn học nghệ thuật như thảm họa Nhân Văn Giai Phẩm, làm đình đốn cả nền kinh tế như thảm họa Vinashin nhưng những người cầm quyền không ai chịu trách nhiệm, không ai rời vị trí quyền lực, cùng lắm là luân chuyển từ vị trí này sang vị trí khác như sau thảm họa cải cách ruộng đất. Đảng độc quyền thì cứ bình thản cầm quyền. Người yếu kém và có tội cứ thản nhiên nắm quyền. Thảm họa cứ tiếp diễn và lan rộng ra cả xã hội. Xã hội Việt Nam hôm nay thực sự là thảm họa đối với dân tộc Việt Nam văn hiến.
4.  ĐỐI THOẠI VỚI NHỮNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
Một đảng như vậy mà ông người Mĩ gốc Việt, Amari TX, ông người Việt gốc Đảng, Trọng Đức và ông giáo sư của đảng, Hoàng Chí Bảo, huyền thoại hóa:
“Trong khi một loạt nước xã hội chủ nghĩa có lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội dài hơn lần lượt sụp đổ, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn đứng vững và nhờ đổi mới đúng đắn, nhân dân còn đạt thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được rất nhiều nước ca ngợi. Ðiều đó chứng tỏ ÐCS Việt Nam không chỉ tài tình trong lãnh đạo toàn dân chống chiến tranh xâm lược, mà còn thật sự xứng đáng là người lãnh đạo xây dựng đất nước trong thời bình, ngay cả khi bối cảnh quốc tế có những biến động khôn lường.” (Amari TX. Bài đã dẫn)
“Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đem lại những quyền lợi cơ bản cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động. (Trọng Đức. Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bệnh”. Báo Quân đội Nhân dân. 18. 08. 2013).
“Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện với lịch sử vẻ vang hơn 80 năm, trong đó đã cầm quyền liên tục gần 70 năm nay, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đã tồn tại và hoạt động chỉ vì Dân và Dân tộc. Đảng ta không có mục đích nào khác ngoài mục đích phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài phấn đấu hy sinh để đem lại lợi quyền cho dân, để dân là chủ và làm chủ. Dân ủy thác cho Đảng trọng trách. Sứ mệnh, địa vị và trọng trách của Đảng là sự lựa chọn của dân, là sự tin cậy mà dân dành cho Đảng, đòi hỏi Đảng phải thực thi tốt nhất để không phụ lòng tin của dân.” ( GS. TS. Hoàng Chí Bảo. Trọng sự thật và chân lí để hành động có trách nhiệm. Quân đội Nhân dân 25. 08. 2013).
Ông giáo sư của đảng, Hoàng Chí Bảo, giật tít bài viết là “Trọng sự thật và chân lí để hành động có trách nhiệm” nhưng chính ông Hoàng Chí Bảo đã viết những điều hoàn toàn không có sự thật, lại càng xa vắng chân lí và ông giáo sư của đảng đang hành động hoàn toàn vô trách nhiệm với đất nước, với dân tộc và với lịch sử. Đọc những điều ông giáo sư của đảng viết tôi cứ nghĩ đến con chim cảnh được chăm bẵm trơn lông mượt da suốt ngày véo von hót làm đẹp lòng người nuôi chim.
Đọc những điều ông giáo sư của đảng viết, tôi lại nhớ đến bài thơ Cường Quốc Dân Oan của ông bạn nhà báo Lê Phú Khải đã đăng trên nhiều trang báo mạng năm trước: “Những ngày tôi đang sống / Sử gia sẽ viết gì? / Đàn ông uống thuốc rầy giữ đất / Đàn bà cởi truồng chống đảng / Thuốc trừ sâu pha đậm / Thành nghị quyết trung ương / Đất đai là sở hữu toàn dân / Giao cho cha con Bá Kiến / Tự do cưỡng chế thu hồi / Từ Cà Mau đến tận Hà Giang” Và một bài mới gần đây cũng của nhà báo Lê Phú Khải: “Đất nước nghèo như cọng cỏ, cọng rơm / Đi ô sin khắp năm châu bốn biển / Nhưng ra đường là gặp tướng / Ra đường là gặp dân oan”. Ông giáo sư của đảng véo von rằng “Dân ủy thác cho đảng trọng trách”. Người đàn ông thân cô thế cô phải uống thuốc rầy giữ đất ủy thác cho đảng làm luật đất đai là sở hữu toàn dân để lũ quan tham nhân danh Nhà nước đến cướp đất của người dân thân cô ư? Những người đàn bà Việt Nam nghèo khổ phải đi làm ô sin khắp thiên hạ lấy tiền gửi về nuôi gia đình, những cô gái phải mang thân gái hơ hớ tuổi hai mươi đi làm vợ ông già tật nguyền, làm nô lệ tình dục cho người thiểu năng trí não xứ người kiếm sống ủy thác cho đảng cứ tham nhũng làm cho người dân khốn cùng ư?
Thưa ông người Mĩ gốc Việt Amari, ông có biết sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã mang lại hạnh phúc lớn lao như thế nào cho người dân các nước đó không? Nước Đông Đức Xã hội chủ nghĩa là nước phát triển nhất, có đời sống cao nhất trong các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ, Đông Đức sát nhập với Tây Đức thì Đông Đức chỉ là vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển và nghèo khổ của nước Đức thống nhất. Tây Đức phải san sẻ, dồn của cải tiền bạc vào vực dậy miền Đông để nước Đức trở thành nền kinh tế lớn nhất châu Âu như hôm nay. Niềm hạnh phúc được thể hiện mình, được đóng góp cho đất nước và sự thành đạt của bà Angela Merkel, một công dân bình thường Đông Đức nay là Thủ tướng nước Đức thống nhất chính là hình ảnh người dân Đông Đức khi thoát khỏi chủ nghĩa xã hội mất tính người đấy, thưa ông Amari.
Bất hạnh thay người dân Việt Nam không có được hạnh phúc đó vì lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam không thoát ra được học thuyết giai cấp hư vô để trở về với dân tộc có thật, không có được sự đồng cảm chia sẻ với nỗi đau khổ mất mát của người dân sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa, không nắm lấy cơ hội giải thoát cho nhân dân mà lại đưa đất nước, đưa dân tộc ra làm mồi cho nước lớn Tàu Cộng đổi lấy sự bảo trợ của nước lớn Tàu Cộng để duy trì chủ nghĩa xã hội, duy trì đặc quyền đặc lợi của đảng nên khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ thì lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vội vã hốt hoảng sang Thành Đô gặp lãnh đạo đảng Cộng sản Tàu Cộng. Cho đến nay đến Quốc hội Việt Nam vẫn không được biết tí gì về những kí kết ở Thành Đô liên quan đến vận mệnh đất nước Việt Nam, liên quan đến số phận dân tộc Việt Nam.
Người dân lo lắng cho vận nước chỉ biết rằng: Tháng 9. 1990 kí kết Thành Đô giữa lãnh đạo hai đảng Cộng sản Việt – Trung. Từ đó hàng năm đến ngày tưởng niệm đồng bào chiến sĩ ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc năm 1979, các báo chính thống đều phải câm lặng không được viết một chữ về sự kiện bi tráng này. Từ đó quan hệ Việt – Trung là quan hệ bất bình đẳng mà phần thua thiệt, tủi nhục thuộc về Việt Nam. Tàu Cộng ngang nhiên cấm dân Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam. Tàu đánh cá Tàu Cộng tràn vào biển Việt Nam. Tàu chiến Tàu Cộng lùng xục tuần tra trên biển Việt Nam, cướp bóc, bắn giết dân Việt Nam. Chủ quyền đất nước bị xâm phạm, tính mạng và nguồn sống của người dân bị mất, danh dự dân tộc bị làm nhục nhưng chỉ có người phát ngôn bộ Ngoại giao tuyên bố phản đối lấy lệ. Còn lực lượng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thì hoàn toàn khoanh tay đứng nhìn! Tháng 12. 1999, kí kết hiệp định biên giới với Tàu Cộng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã cắt nhượng cho Tàu Cộng hàng ngàn kilomet vuông đất đai của tổ tiên trong đó có điểm cao 1509 ở Hà Giang, nửa thác Bản Giốc ở Cao Bằng, cả tòa thành cổng nước ở Lạng Sơn.
Giáo sư của đảng, ông Hoàng Chí Bảo viết: “Việc tuyên truyền lập một Đảng mới, một Đảng khác, lại kêu gọi đa nguyên đa đảng để xây dựng dân chủ, coi đó là quyền công dân chính đáng, kêu gọi những ai đang muốn ra khỏi Đảng hoặc không còn sinh hoạt Đảng nữa hãy cùng tham gia thành lập đảng mới như các ông Lê Hiếu Đằng, Hồ Ngọc Nhuận gần đây đưa ra là điều không thể chấp nhận.” Không chấp nhận có một đảng khác bên cạnh đảng Cộng sản không phải chỉ là tiếng nói của riêng ông Hoàng Chí Bảo mà là tiếng nói chung của những người đang có nhiều đặc quyền, đặc lợi trong đảng Cộng sản đương quyền.
Nhưng bài viết của ông Lê Hiếu Đằng Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh cũng là tiếng nói chung của hàng chục triệu người Việt Nam thức tỉnh không chấp nhận sự tiếp tục độc quyền thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Một đảng đã vay nợ của nhân dân Việt Nam quá nhiều máu. Một đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ thảm họa này đến thảm họa khác. Một đảng đã cắt cả đất đai thiêng liêng của tổ tiên sang nhượng cho nước đàn anh cùng ý thức hệ. Một đảng đang lún sâu trong tham nhũng không phương cứu chữa.
Dùng bạo lực chuyên chính vô sản bóp chết những tiếng nói chính đáng đòi tự do dân chủ của trí thức, văn nghệ sĩ trong vụ NVGP đã giết chết cả một nền khoa học và văn học nghệ thuật, biến lao động sáng tạo của những trí tuệ và tâm hồn chỉ còn biết ăn theo, nói leo chính trị, kìm hãm sự phát triển của xã hội, của đất nước. Đó là một tội ác! Những tội đó còn ghi khắc mãi trong lịch sử đau thương của đất nước này. Đừng gây thêm tội ác nữa với dân tộc, với lịch sử Việt Nam.
27. 08. 2013
PĐT

Tuesday, August 27, 2013

Chuyện ông Lê Hiếu Đằng và những điều phải nói

Có vẻ hầu hết các phân tích của tác giả trong bài sau là hợp lí nhưng cũng có vài chỗ tôi không hoàn toàn đồng ý với tác giả, ví dụ như ý "[v]ẫn ở trong ĐCSVN mà kêu gọi, thành lập đảng, đẻ ra một đảng kiểu "anh em" của ĐCSVN với cùng ý thức hệ và chủ nghĩa Mác-Lenin thì hoá ra chỉ "bình mới rượu cũ", vô nghĩa."  Hãy xét lời kêu gọi của ông Đằng "[v]ậy tại sao chúng ta, hàng trăm đảng viên, không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới". Đã tới nước như vậy thì rõ ràng ông Đằng đã 'de facto' ra đảng rồi, chỉ còn chờ lúc thích hợp (có được nhiều người cùng làm) sẽ tuyên bố chính thức ra đảng và lập đảng mới cho tròn 'thủ tục'. Còn nếu thực tế còn quá khó khăn do bị ngăn cản, đàn áp... (điều này có khả năng xảy ra rất lớn theo phân tích của tác giả) mà việc tuyên bố tập thể này không xảy ra được thì chắc chắn ông Đằng sẽ có một hình thức thích hợp nào đó để chính thức ra khỏi đảng (chứ chẳng lẽ để bị họ ra tay khai trừ). Ngoài ra, ông Đằng cũng nêu rõ "CN Mác-Lênin CNXH đã lạc điệu, không còn phù hợp nữa và đã sụp đổ tan tành ở ngay quê hương  Xô Viết. Và hiện nay là cuộc đấu tranh trên thế giới về dân quyền, dân sinh, dân chủ, tự do, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường" và "nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là cương quyết đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ, tôn trọng, thực hiện những lý tưởng của biết bao thế hệ cha anh chúng ta về một nước VN hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội, văn minh và giàu mạnh." Không rõ tác giả LDĐ dựa vào đâu (có lẽ từ cái tên DCXH chăng?) để nói ông Đằng lập ra 'đảng mới với cùng ý thức hệ và chủ nghĩa Mác-Lenin'. Thế thì sao không thử chờ xem ra sao mà nói là 'bình cũ rượu mới', vô nghĩa? Ông Đằng đã viết, đã trả lời phỏng vấn, rồi viết tiếp... từ hôm đó tới nay để làm rõ hơn ý mình và cho thấy cũng khá rõ thái độ dứt khoát của ông. 

===================================================

Chuyện ông Lê Hiếu Đằng và những điều phải nói

Sun, 08/25/2013 - 21:01 — ledienduc
Lê Diễn Đức
Ông Lê Hiếu Đằng, luật gia, trong bài "Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh..." và hai bài khác sau đó đã khởi xướng thành lập đảng Dân chủ Xã hội.
Trong bối cảnh nhóm 72 nhân sĩ trí thức kiến nghị sửa đổi hiến pháp đòi bỏ điều 4, Mạng lưới các bloggers trẻ ra "Tuyên bố 258" đề nghị huỷ bỏ điều 258 về quyền tự do báo chí của Bộ Luật hình sự, và cùng với việc Nguyễn Phương Uyên nói trước toà án rằng, chống đảng không phải là chống Tổ quốc, dân tộc - khởi xướng, kêu gọi thành lập đảng Dân chủ Xã hội của ông Lê Hiếu Đằng đã gây ra một liệu pháp sốc, gây tranh cãi.
Ông Đằng nói:
"Tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo). Vậy tại sao chúng ta, hàng trăm đảng viên, không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ Xã hội, những Đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị Đảng Cộng sản bức tử phải tự giải tán.
Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều này? Chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này, mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta. Không thể rụt rè, cân nhắc gì nữa".
Ngay lập tức, với bài "Phá xiềng", ông Hồ Ngọc Nhuận, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mở màn cho sự ủng hộ này. Ông kêu gọi các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) bỏ đảng để tham gia Đảng Dân chủ Xã hội:
"Tôi kêu gọi các bạn đảng viên cộng sản thật sự yêu nước, từng cả đời dấn thân đấu tranh vì lý tưởng độc lập Tổ Quốc, tự do dân chủ và nhân đạo, nhưng ngày càng nhận thấy đã bị đảng mình phản bội, mà số này là rất đông, hãy mạnh dạn dứt khoát đứng vào hàng ngũ Đảng Dân chủ Xã hội mới. Đặc biệt các đảng viên trẻ và giới trẻ nói chung hãy nắm lấy cơ hội làm nên lịch sử. Vì đất nước thời nào cũng vậy, đặc biệt những lúc lâm nguy, là luôn thuộc về tuổi trẻ, là của tuổi trẻ.
Đứng vào hàng ngũ Đảng mới để tính toán nợ nần với quá khứ lịch sử, với dòng tộc, với chính mình; giũ sổ với đảng cầm quyền toàn trị; mở một trang mới cho tương lai dân tộc. Đứng vào hàng ngũ Đảng Dân chủ Xã hội mới ngày nay là yêu nước. Không chần chờ, đắn đo, hay e sợ bị bắt bớ, trù úm".
Ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận với một quá khứ khó khăn là đã từng ủng hộ chế độ cộng sản, tranh đấu nội thành chống lại Việt Nam Cộng Hoà và tham gia chính quyền cộng sản suốt từ 30/4/1975 đến nay.
Cái quá khứ của họ đè nặng lên cả sự tỉnh ngộ vì thấy mình bị phản bội, lừa lọc, đã tạo ra mối nghi ngờ.
Ông Hà Sĩ Phu đã phải viết:
"Tội nghiệp thay cho những người Cộng sản thức tỉnh, dù ở những mức độ khác nhau, nhưng cứ lên tiếng một điều gì dũng cảm, ích nước lợi dân là lập tức bị cả “ba phía” xúm vào lăng mạ, cánh thủ cựu thì bảo đó là sự bất mãn, cơ hội, thoái hóa biến chất, cánh “chống cộng cực đoan” thì lập tức gọi họ là “dân chủ cuội” hoặc cò mồi, hỏi sao trước đây không nói bây giờ mới nói, nếu phản tỉnh thật thì thử chửi nhân vật này nhân vật kia xem nào ?! Còn các “dư luận viên CS” thì dùng cả hai chiêu thức, trà trộn vào cả hai cánh nói trên".
Ông Lê Hiếu Đằng đã dựa vào một tiền đề cơ bản để thành lập đảng Dân chủ Xã hội. Ông "nói công khai minh bạch, và hơn nữa vấn đề đa đảng đó là chủ trương của ĐCS thôi. Cho đến bây giờ tôi hỏi các luật sư và luật gia – bản thân tôi cũng là luật gia – thì tôi thấy là chưa có văn bản pháp lý nào cấm việc đa nguyên đa đảng cả. Mà theo nguyên tắc luật pháp, không cấm là người dân có quyền thực hiện".
"Không có điều khoản nào trong Hiến pháp và các luật của Việt Nam cấm công dân Việt Nam thành lập và tham gia một chính đảng khác ngoài ĐCSVN. Tuy nhiên, Điều 79 Bộ luật Hình sự có quy định trừng phạt người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Như vậy, việc thành lập hoặc tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền nhân dân sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này. Nói cách khác, hoạt động thành lập và tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền sẽ không được coi là bất hợp pháp", ông Trần Vũ Hải, luật sư, đã gửi một lá thư cho lãnh đạo ĐCSVN với nội dung như vậy.
Tuy nhiên, trung thực nhìn nhận rằng, uy tín và ảnh hưởng của ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận không cao đối với quần chúng, khó tạo ra được một phong trào đối kháng mới, hoặc thúc đẩy cuộc đối kháng hiện tại bùng lên mạnh hơn, nên có vẻ nhà cầm quyền không có phản ứng mạnh, trừ một số bài viết trên báo Quân đội Nhân Dân, đó là  "Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh" (18/08/13), “Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch” (20/08/13) vá "Màn tung hứng vụng về” (23/08/13) chỉ trích ông Lê Hiếu Đằng “đầy những lỗi tư duy, lập luận phiến diện, hàm hồ, ấu trĩ”.
Nhìn lại Ba Lan
Công đoàn Đoàn kết muốn ra hoạt động công khai cũng phải được sự cho phép của chính quyền cộng sản, đăng ký ở toà án theo luật hiện hành. Các khẩu hiệu tranh đấu của Công đoàn Đoàn Kết đều dựa trên hiến pháp và luật lệ của nhà cầm quyền CS.
Khi cao trào tranh đấu đạt mức tột đỉnh, dồn ĐCS vào chân tường, giải pháp cuối cùng vẫn là Hội nghị Bàn Tròn, cho bầu cử tự do một phần vào tháng 6/1989, bầu 100 ghế Thượng nghị viện và 1/3 số ghế quốc hội. Phe đối lập đã phải chấp nhận giải pháp dung hoà sau khi thắng cử: Thủ tướng của chúng tôi và Tổng thống của các anh. Tướng W. Jaruzielski, Tổng bí thư ĐCS kiêm Bộ trưởng quốc phòng làm Tổng thống. Phải đợi tới khi bầu cử toàn quốc, Lech Walesa đắc cử Tổng thống mới chấm dứt vai trò của ông ta và năm 1991 bầu cử tự do toàn phần với thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết, Ba Lan mới thực sự trở thành quốc gia dân chủ, tự do.
Thế nhưng năm 1994, sau một nhiệm kỳ của chính phủ, nghịch lý ở chỗ, Liên minh Cánh Tả Dân chủ (SLD) chiếm đa số phiếu và lên cầm quyền. SLD bao gồm các thành viên cựu cộng sản. ĐCS Ba Lan đại hội lần cuối và giải tán năm 1991, nhưng những người cựu đảng viên CS đã liên kết thành lập một đảng theo khuynh hướng xã hội dân chủ. Chủ tịch đảng là ông A. Kwasniewski, từng là Bộ trưởng thời CS, đã ra tranh cử tổng thống, đánh bại huyển thoại Lech Walesa và giữ chức Tổng thống Ba Lan tới hai nhiệm kỳ (1995-2005).
Rõ ràng những đảng viên CS Ba Lan đã lột xác, thay đổi và chiến thắng trong một môi trường mà hiến pháp cấm ĐCS hoạt động. Ông Majkowski, Bộ trưởng Phủ Tổng thống nói một câu chí lý: "Con người được quyền thay đổi".
SLD trong vòng hơn hai thập niên qua là một trong những lực lượng chủ yếu trên chính trường Ba Lan.
Nhìn qua Miến Điện
Ngày 1 tháng Tư năm 2012 cuộc bầu cử nghị viện lần đầu tiên trong gần 22 năm, phe đối lập có cơ hội để giành 47 ghế trong quốc hội 600 ghế. Không nhiều nhặn gì, nhưng là cái tát đối với quân đội cầm quyền kể từ năm 1962. Cuộc bỏ phiếu cho thấy những thay đổi tương tự như cuộc bầu cử chuyển tiếp ở Ba Lan vào năm 1989.
Bà Aung San Suu Kyi được tự do đi vận dộng bầu cử và phe đối lập đã giành được gần như toàn bộ số phiếu. Nhưng đây là có sự chấp thuận của giới cầm quyền quân sự. Họ đồng ý cho phép một tiến trình như vậy. Họ đã từng phủ nhận kết quả bầu cử vào năm 1990 với thắng lợi hơn 60% số phiếu và chiếm 80% ghế quốc hội của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ và duy trì tình trạng giam giữ bà Aung San Suu Kyi mười mấy năm trời.
Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của bà Aung San Suu Kyi mặc dù không thoả mãn, nhưng họ không nhìn thấy con đường nào khả dĩ hơn để tham chính.
"Đất nước Miến Điện với 59 triệu người là một trong 20 quốc gia nghèo nhất trên thế giới (660 USD thu nhập GDP bình quân đầu người một năm), và 1/3 dân số sống dưới mức nghèo. Để duy trì một đội quân 400 ngàn lính phải chi tới 40% GDP quốc gia. Phần còn lại bị ăn cắp phần lớn bởi các quan chức quân sự và doanh nhân bắt tay với chính phủ. Chỉ 1% GDP được dành cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe. (...) Chế độ đã chi rất nhiều tiền bạc xây dựng thủ đô mới Naypyidaw. Nhà ở của các quan chức được bao quanh bởi sân golf nối với Rangoon bằng đường cao tốc có tám lằn xe. Quân đội vẫn tiếp tục chia lợi nhuận từ các hợp đồng bán dầu và khí đốt cho Trung Quốc".
"Chính quyền quân sự công bố xây dựng "một nền dân chủ có kỷ luật". Họ hy vọng rằng trong bối cảnh này, bà Aung San Suu Kyi sẽ kêu gọi Mỹ và Liên minh châu Âu dỡ bỏ lệnh trừng phạt kinh tế nghiêm trọng".
Rất may mắn, bước chuyển hoá tiệm tiến của Miến Điện mang lại hiệu quả. Đất nước này đang đi dần tới con đường dân chủ.
Thực tế Việt Nam
Đại đa số quần chúng thờ ơ với chính trị, chỉ chăm chú cho đời sống cơm gạo hàng ngày, chấp nhận sống chung với dịch tham nhũng và văn hoá phong bì. Một cuộc biểu tình chống quân xâm lược Trung Quốc giỏi lắm cũng khoảng vài trăm người tham gia. Nông dân bị tước đoạt đất đai hay công nhân bị bóc lột nìn chung có ý thức chính trị kém, họ đình công hay khiếu kiện chỉ vì miếng ăn. Đi ăn mày như một bà cụ ở Hà Nội mà đi khiếu nại vẫn tin tưởng ở đảng. Trong một bối cảnh như thế, chờ mong một cuộc xuống đường vĩ đại làm thay đổi chế độ là hoang tưởng.
Những cá nhân tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền không nhiều, mới chỉ tạo ra được sự chú ý tới một phần dư luận, báo chí quốc tế, các tổ chức nhân quyền, chính phủ các nước phương Tây, để gây áp lực lên nhà cầm quyền.
Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang cầm quyền và cai quản đất nước. Không bao giờ họ chấp nhận chia xẻ quyền lực và sẵn sàng đập tan mọi lực lượng phản kháng. Ra đời một chính đảng song song, với chủ trương không chống đối, nhưng cạnh tranh lành mạnh thì bằng cách nào? Chắc chắn phải chấp nhận một số luật chơi của ĐCS, phải được ĐCS đồng ý chấp nhận. Có thể xem như một thứ "dân chủ cuội". Nhưng không thể khác. Các đảng phái ra đời tự do chỉ có thể đòi hỏi trong môi trường dân chủ, điều mà trong xã hội Việt Nam chưa có.
Trong cái thế bị kìm kẹp này, nếu ra đời được một đảng chính trị, độc lập với ĐCSVN thì quả là bước đi tốt cho một sự chuyển hoá. Đa đảng không phải là dân chủ nhưng có một đảng rồi, hy vọng theo tiến trình sẽ nảy sinh và phát triển ra hai ba, bốn, năm... cùng với những biến chuyển khác.
Thế nhưng đáng tiếc, sự khởi xướng và lời kêu gọi của ông Lê Hiếu Đằng ít tính khả thi, vì chẳng ai đi bỏ một đảng có lý tưởng, giờ là lý tưởng tiền hay sổ hưu, để đi theo một cái đảng khơi khơi, không hề có cương lĩnh và chương trình hành động chính trị. Hơn nữa, nếu "tính sổ" với ĐCSVN và thấy bị phản bội, lẽ ra ông phải tuyên bố từ bỏ đảng CSVN ngay lập tức. Như thế mới có sức thuyết phục và thu hút. Vẫn ở trong ĐCSVN mà kêu gọi, thành lập đảng, đẻ ra một đảng kiểu "anh em" của ĐCSVN với cùng ý thức hệ và chủ nghĩa Mác-Lenin thì hoá ra chỉ "bình mới rượu cũ", vô nghĩa.
Ông nói “dù đứng trước bạo lực, cường quyền nào, anh em chúng tôi cũng không nao núng, lùi bước, vì một khi đã dấn thân là chấp nhận hy sinh”, nhưng phát động của ông quá bức xúc và nôn nóng, chưa có sự chuẩn bị. Không những thiếu vắng cương lĩnh, chương trình hành động, mà cả dàn nhân lực để sàng lọc, tuyển dụng thành viên cho đảng. Và một điều nữa cần biết: chưa có tín hiệu nào cho thấy ĐCSVN chấp nhận điều này.
Kết luận
"Nhưng dù cho đảng của những người bỏ đảng ấy không lập ra được vì lý do nào đó thì tiếng hô hào của họ cũng giúp đánh tan được phần nào nỗi sợ hãi đang bao trùm, cũng là góp tiếp những bước đi cho sự hình thành xã hội dân sự", ông Hà Sĩ Phu viết.
Tôi đồng ý với nhận định này và ủng hộ ông Lê Hiếu Đằng và Hồ Ngọc Nhuận trên nguyên tắc. Giá như đây là lời kêu gọi cho một cao trào bỏ ĐCS thì tốt hơn và sau đó mới là bước tiếp theo.
Nhưng dẫu sao cũng cảm phục hai ông đã dũng cảm nói lên nguyện vọng của mình và của xã hội. Rằng, loại bỏ sự độc quyền cai quản đất nước của ĐCSVN là nhu cầu bức thiết nhằm tạo tính cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả. Một mình một sân, vừa đá bóng vừa thổi còi trong suốt mấy chục năm qua, thiết nghĩ đã quá đủ để chứng minh rằng, ĐCSVN bó tay, bất lực trước tình trạng tham nhũng hoành hành, luật lệ lộn xộn, bất công phổ cập. Chế độ hai nhà nước song song tồn tại (cơ quan đảng và cơ quan của chính phủ) chỉ làm tổn hại ngân sách và vô ích.
© 2013 Lê Diễn Đức - RFA Blog (http://www.rfavietnam.com/node/1748)