Showing posts with label PCA. Show all posts
Showing posts with label PCA. Show all posts

Saturday, August 27, 2016

Phán quyết theo Luật Biển làm lộ chủ nghĩa dân tộc nguy hiểm của Trung Quốc

Phán quyết theo Luật Biển làm lộ chủ nghĩa dân tộc nguy hiểm của Trung Quốc

Ruling Reveals Dangerous Chinese Nationalism

Dương Danh Huy
National Interest (25/8/2016)


Phán quyết gần đây của Toà trọng tài theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) cho vụ Philippines kiện Trung Quốc đã được nhiều chính phủ đang âu lo về căng thẳng gia tăng ở biển Đông hoan nghênh. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, nó đã kích động phản đối tràn đầy.

Như dự đoán, chính phủ Trung Quốc tái khẳng định vị thế kiên định không công nhận thẩm quyền của Tòa và không chấp nhận phán quyết. Quân đội TQ bắt đầu trò chơi chiến tranh mới và công bố tuần tra trên không ở biển Đông. Một đô đốc cảnh báo Hoa Kì rằng hoạt động tư do đi lai của Mĩ có thể "thành ra tai họa", trong khi một đô đốc khác tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ dừng lại nửa chừng việc xây dựng đầy tranh cãi của họ trên quần đảo Trường Sa, và nói thêm rằng "Hải quân Trung Quốc sẵn sàng phản ứng với bất kì hành vi xâm phạm quyền hoặc gây hấn". "Quân đội Giải phóng Nhân dân đã sẵn sàng," một nguồn tin có quan hệ với quân đội Trung Quốc nói với Reuters. "Chúng tôi sẽ tiến tới đánh cho họ dập mũi như Đặng Tiểu Bình đã làm với Việt Nam hồi năm 1979."

Như thể không chịu thua kém về nhiệt tình yêu nước, tập đoàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc tuyên bố sẽ xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở biển Đông, giải thích rằng "việc xây dựng trạm điện hạt nhân biển sẽ được sử dụng giúp vào việc kiểm soát hiệu quả của Trung Quốc ở biển Đông ".

Theo tường thuật, WeChat và các microblog được đa số dân Trung Quốc sử dụng hàng ngày đã bị tràn ngập với hai hình ảnh. Một là một bức thư kêu gọi các cựu chiến binh đăng kí nhập ngũ lại, với những ý kiến tương tự nhau, "nếu có chiến tranh thì tôi sẽ trở lại mặt trận theo lệnh gọi." Hình ảnh thứ hai là bản đồ lãnh thổ của Trung Quốc có vẽ đường chín đoạn, với chú thích rằng "Đây là lãnh thổ Trung Quốc, không thể đánh mất dù một tấc đất."

Trang đầu tờ Nhân dân nhật báo tuyên bố "Chúng tôi không đòi một tấc đất nào không thuộc về chúng tôi, nhưng chúng tôi sẽ không từ bỏ mảnh đất nào vốn là của chúng tôi".

Nhiều người Trung Quốc cho rằng vụ trọng tài này là một âm mưu của Mĩ, Nhật (4 trong 5 thẩm phán do Chủ tịch Toà án Quốc tế về Luật Biển lúc đó là người Nhật bổ nhiệm) và Philippines cướp của Trung Quốc lãnh thổ có chủ quyền cũng như "quyền lịch sử" đối với 80% biển Đông. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã đi xa tới mức buộc tội các thẩm phán là đã bị tiền bạc làm lung lạc.

Tuy nhiên, khi đọc kỹ phán quyết này thì thấy rằng phần lớn ủa lời kêu ca này là sai lệch.


Không phải là một phán quyết về lãnh thổ

Thứ nhất, về vấn đề lãnh thổ, thật ra Tòa đã không đưa ra bất cứ tuyên bố nào thiệt hại dù chỉ một tấc lãnh thổ của Trung Quốc, hay lãnh thổ thuộc bất kì quốc gia khác về mặt đó, điều này là phù hợp với sự kiện là toà không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Việc quy kết mà Toà thực hiện cho Philippines liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lí, một khái niệm được định nghĩa trong UNCLOS khác với khái niệm lãnh thổ. Mặc dù Toà cũng đưa ra các quyết định đối với các rạn đá và các bãi đá nằm dưới mặt nước khi triều cao, trong luật pháp quốc tế đó không phải là "đảo" và do đó không phải lãnh thổ mà quốc gia nào có thể đòi chủ quyền đối với nó. Nói vắn tắt, Tòa không đụngchạm vào bất kì phần nào của trái đất mà về mặt luật pháp có thể là lãnh thổ của một nước nào đó. Tất cả các bên tranh chấp, cụ thể là Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines và Việt Nam, vẫn có thể tranh nhau tất cả các vùng lãnh thổ đảo mà họ có thể đã tranh  nhau trước khi có vụ kiện này.

Điều đáng chú ý là Malaysia và Việt Nam, hai nước cũng yêu sách chủ quyền toàn bộ hoặc một phần quần đảo Trường Sa, đều không phản đối hay phàn nàn rằng Tòa án đã bằng cách nào đó làm điều sai trái cho chủ quyền lãnh thổ của họ.

Thế thì tại sao Trung Quốc lại phản đối về chủ quyền lãnh thổ? Lí do đầu tiên là các yêu sách họ đưa ra hoàn toàn trái ngược với các chuẩn mực của luật pháp quốc tế, cụ thể là các yêu sách đối với các bộ phận của biển mà không một quốc gia có thể tuyên bố chủ quyền hợp pháp. Lí do thứ hai là chính phủ TQ đang cố xuyên tạc phán quyết, vốn là về EEZ, thành về chủ quyền lãnh thổ - điều này là để bênh vực quan điểm của họ rằng Tòa không có thẩm quyền phán quyết đối với vụ kiện cũng như để thúc đẩy tình cảm dân tộc, lợi dụng niềm tin tràn lan rằng người nước ngoài đã đánh cắp lãnh thổ Trung Quốc lúc nước này còn yếu.


Phán quyết là về EEZ và quyền lịch sử

Vậy chính xác là Toà quyết định điều gì về EEZ? Hai điều. Thứ nhất, khi một nước kí kết UNCLOS thì việc đó làm triệt tiêu mọi yêu sách về quyền lịch sử của nước đó trong EEZ của nước khác. Đáng chú ý là sự triệt tiêu này không bao gồm các yêu sách chủ quyền lãnh thổ đảo và các vùng biển về thuộc về chúng. Thứ hai, không có vùng lãnh thổ nào ở quần đảo Trường Sa thoả các đòi hỏi của UNCLOS để được hưởng EEZ. Những quyết định này áp dụng cho cả Philippines lẫn Trung Quốc.

Đối với quyết định của Tòa án về quyền lịch sử trong vùng EEZ của các nước khác, tình cảm dân tộc bùng phát của Trung Quốc dường như không nắm được sự kiện rằng quyết định của Toà thật ra phù hợp với vị thế của Trung Quốc về đường chín đoạn từ khi đường này được vẽ lần đầu cho đến ít nhất một vài thập kỉ trước.

Dù một số người có thể tin là Trung Quốc có "quyền lịch sử" đối với vùng biển được bao bọc trong đường đó, điều đó chỉ đơn giản là lịch sử nguỵ tạo, mới được nguỵ tạo về điều đó. Lúc đương nhiệm, Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) Mã Anh Cử (Ma Ying-jeou) đã tuyên bố rằng khi chính phủ Quốc Dân Đảng của Trung Hoa lần đầu chấp nhận đường đó vào năm 1947, đường đó có ý mô tả một yêu sách đối với các đảo mà nó bao quanh, chứ không phải yêu sách về quyền đối với vùng biển và đáy biển. Sau đó Trung Quốc giữ nguyên lập trường ban đầu này qua việc thừa nhận công ước Vienna về lãnh hải và thềm lục địa trong thập niên 1950. Đáng nói là trong các thập kỉ 1960 và 1970, khi Indonesia, Malaysia, Philippines và Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền với các phần khác nhau của thềm lục địa trong phần phía Nam của biển Đông, những phần kéo dài tới ngay bên trong đường chín đoạn, cả Trung Quốc lẫn THDQ đều không phản đối.

Suốt các cuộc đàm phán UNCLOS III kết thúc vào năm 1982, Trung Quốc là nướcủng hộ mạnh mẽ chế độ đặc quyền kinh tế 200 hải lí cho các quốc gia ven biển, và họ chưa bao giờ đưa ra khái niệm về quyền lịch sử đối với các vùng biển và đáy biển bên trong đường chín đoạn. Một số học giả Trung Quốc nhận ra điều này và cho rằng vào lúc đó, Trung Quốc quên mất về quyền lịch sử. Biết rằng vào lúc đưa ra đường chín đoạn không phải là một yêu sách về quyền đối với khoảng biển, và cho đến các cuộc đàm phán UNCLOS III Trung Quốccũng chưa bao giờ khẳng định quyền đó, sẽ chính xác hơn khi nói rằng Trung Quốc vẫn chưa sáng chế ra các quyền này hơn đã quên mất chúng đi.

Mãi cho đến năm 1992, Trung Quốc mới đưa ra yêu sách đầu tiên đối với thềm lục địa ở phần phía Nam của biển Đông, khi họ kí hợp đồng ủy quyền cho Crestone, một công ty Mĩ, khai thác dầu trong vùng bãi Tư Chính (Vanguard Bank). Như vậy năm 1992 là năm mà khái niệm về "quyền lịch sử" của Trung Quốc đối với đáy biển bên trong đường chín đoạn được hình thành lần đầu. Bằng chứng có ý chứng tỏ "lịch sử có từ thời xa xưa" về những quyền đó đã được nguỵ tạo sau sự thai nghén năm 1992 này.

Nói một cách đơn giản, tình cảm dân tộc chủ nghĩa tràn trề cho "quyền lịch sử" đối với khoảng biển bên trong đường chín đoạn là kết quả của niềm tin phổ biến nhưng sai lầm rằng Trung Quốc đã yêu sách và thực thi các quyền đó ít nhất là từ năm 1947.

Ngoài sự việc là lịch sử nguỵ tạo không có sức nặng pháp lí, một khi mà một nước đã tự nguyện kí kết một hiệp ước với hầu hết phần còn lại của thế giới, và đã được hưởng lợi từ hiệp ước đó thì nước đó không thể xé bỏ nó và sáng chế ra cái gì khác mà mình họ tự nghĩ là tương xứng hơn với sự phát triển hải quân của mình.

Với quan điểm của Tòa về "quyền lịch sử", quyết định của Toà rằng không có thể địa lí nào của quần đảo Trường Sa được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế là rất trọng yếu. Nếu không có quyết định này, ngay cả với lập luận về "quyền lịch sử" bị bác bỏ, Trung Quốc sẽ vẫn có thể vẫn giữ được một vỏ bọc về tính hợp pháp cho các yêu sách biển quá mức của họ bằng cách lập luận rằng quần đảo Trường Sa thuộc về họ và quần đảo này được hưởng EEZ 200 hải lí. Trớ trêu là tình cảm dân tộc tràn đầy này chỉ đổ vào "lãnh thổ" và "lịch sử", nhưng không đếm xỉa chút nào tới quyết định này .

Luật pháp quốc tế ở ghế sau

Điều thú vị là rất hiếm học giả của đất nước đông dân nhất thế giới này đưa ra công chúng Trung Quốc một cách nhìn khác. Khi đường lối chính thức của Bắc Kinh là rất nghiêm ngặt thì học giả nào nói khác đi sẽ là tự sát về chuyên môn. Do vậy, hầu hết phân tích của Trung Quốc chỉ lặp lại những kể lể chính thức và thổi bùng thêm ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc.

Khi một đất nước theo đuổi hết sức cứng nhắc và hoàn toàn theo phiên bản luật quốc tế của riêng mình thì việc họ tuyên bố rằng vị thế và hành vi của mình phù hợp với luật pháp quốc tế theo cách chung chỉ là nói suông. Khi xét cùng với sóng triều quyền lực và chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy của Trung Quốc, quả là một điều đáng lo là ngay cả các luật sư quốc tế của Trung Quốc cũng tỏ ra coi thường phán quyết của tòa trọng tài quốc tế.

Hiện giờ, chủ nghĩa dân tộc đang ngồi ở vị trí cầm lái quyền lực của Trung Quốc và không có dấu hiệu nào trong phản ứng của nước này đối với vụ kiện cho thấy rằng việc sử dụng quyền lực đó để theo đuổi lợi ích quốc gia của họ, đặc biệt không chỉ ở biển Đông mà còn ở những nơi khác, sẽ được kiềm chế bởi một ý thức công bằng rút ra từ luật pháp quốc tế, hoặc qua việc tôn trọng các chuẩn mực quốc tế.


Dương Danh Huy là một nghiên cứu viên cao cấp không thường trú của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết của ông xuất hiện trên báo chí chính thức tại Việt Nam và Philippines, trên trang mạng của BBC, CogitASIA, Yale Global, RSIS Commentaries, The Diplomat, East Asian Forum và các trang mạng khác.

Friday, July 22, 2016

Phạm vi tranh chấp ở biển Đông sau phán quyết của Toà Trọng tài

Phạm vi tranh chấp ở biển Đông sau phán quyết của Toà Trọng tài



Ngày 12/9/2016 Toà Trọng tài Thường trực (PCA) ở The Hague, Hà Lan đã đưa ra phán quyết vụ Philippines kiện Trung Quốc. Một trong những đóng góp chính của phán quyết này là giúp thu hẹp phạm vi tranh chấp trong vùng biển quanh quần đảo Trường Sa và qua đó cũng thu hẹp phạm vi tranh chấp trên toàn biển Đông.
Bài viết này chỉ ra các thay đổi về phạm vi tranh chấp trên biển Đông sau phán quyết và một số điều chúng ta có thể tận dụng để giành lấy các quyền chính đáng mà đáng lý chúng ta được hưởng theo luật pháp quốc tế.
Sau năm 1994, tức là sau khi Công ước về Luật biển của LHQ (UNCLOS) có hiệu lực, tất cả các quốc gia ven biển hay quần đảo đều có thể được hưởng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) lên tới 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng lên tới 350 hải lý nếu điều kiện địa lý cho phép(*). Trong phần biển này, nước chủ nhà được độc quyền khai thác tài nguyên sinh vật lẫn phi sinh vật trong biển và lòng đất dưới đáy biển, đổi lại phải từ bỏ những quyền tương tự từng có trong EEZ của nước khác.
Tuy nhiên, trước khi có phán quyết của PCA, với yêu sách đường đường lưỡi bò (ĐLB) mập mờ của Trung Quốc đưa ra vào tháng 5/2009 sau khi Viet Nam và Malaysia nộp hồ sơ về thềm lục địa mở rộng cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa LLHQ, thực tế toàn bộ diện tích bên trong ĐLB đã trờ thành đối tuợng tranh chấp và EEZ các nuớc bị thu hẹp chỉ còn những dải biển hẹp ven bờ như thể hiện ở bản đồ 1.
Bản đồ 1: Khu vực tranh chấp khi có mặt ĐLB
Với phán quyết của PCA tình hình đã thay đổi đáng kể. Chỉ riêng với kết luận của PCA trong phán quyết rằng ĐLB là không có sơ sở pháp lý thì phạm vi tranh chấp thu hẹp đáng kể. Phạm vi tranh chấp chủ yếu chỉ quanh khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa do bản thân các thể địa lý ở đó có tranh chấp và do đó các vùng biển mà chúng có thể đuợc huởng theo UNCLOS cũng trở thành tranh chấp. Nếu dùng trung tuyến làm ranh giới các chỗ chồng lấn (cách mà các bên khó bác bỏ) của EEZ có thể có của Hoàng Sa và Truờng Sa với EEZ tính từ bờ của các nuớc liên quan thì phạm vi tranh chấp như thể hiện trong bản đồ 2.

Bd2_NoU_EEZ.JPG
Bản đồ 2: Phạm vi tranh chấp  khi không có ĐLB [và quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có EEZ]
EEZ Hoàng Sa tính từ đường cơ sở TQ tự vẽ, EEZ Trường Sa tính theo các đảo nổi
Còn nếu tính cả kết luận của PCA rằng không có thể địa lý nào ở Trường Sa là đảo (tức chúng chỉ được hưởng tối đa 12 hải lý lãnh hải bao quanh) thì phạm vi có tranh chấp quanh khu vực quần đảo Trường Sa thu nhỏ lại chỉ còn các khoảng biển 12 hải lí bao quanh các thể đia lý nổi như thấy trong bản đồ này. Và do đó, vùng không tranh chấp của Việt Nam  và các nước liên quan phần ở khu vực Trường Sa sẽ tăng lên thêm rất nhiều (xem bản đồ 3).
Riêng đối với khu vực quanh quần đảo Hoàng Sa, tình hình cũng có cải thiện nhưng không nhiều như ở khu vực Trường Sa. Quần đảo này hiện đang do Trung Quốc kiểm soát và theo họ, với tư cách một khối nó có EEZ và thềm lục địa được tính từ đường cơ sở thẳng phi pháp do họ tự vẽ bao quanh (theo UNCLOS chỉ những nước quần đảo mới được phép vẽ đường cơ sở loại này). Cũng lưu ý rằng theo phán quyết của PCA thì không có thể địa lý nào của quần đảo Trường Sa có EEZ nên EEZ do TQ yêu sách cho Hoàng Sa có thể vươn ra tối đa 200 hải lý về phía Trường Sa. Do đó, phạm vi tranh chấp quanh khu vực Hoàng Sa vẫn còn khá rộng (xem bản đồ 3).
Bản đồ 3: Phạm vi có tranh chấp của biển Đông (tô xanh)  và EEZ  không tranh chấp của Việt Nam (tô tím) sau phán quyết của PCA
Với phán quyết này, nếu Trung Quốc chấp hành thì VN, PLP, Malaysia...  có thể tự do hành xử các quyền theo quy định trong EEZ (trừ một ít khoảng biển có tranh chấp [như đã chỉ trong bản đồ 4] nằm trong hoặc chồng lấn với EEZ của mình) mà ko nước nào được phép cản trở. Những việc như đâm tàu, cắt cáp, đánh cá ,đơn phương cấm đánh cá, mở thầu thăm dò, khai thác tài nguyên… do nước ngoài thực hiện trong vùng này là những hành động phi pháp không thể biện minh. Nước chủ nhà có cơ sở vững chắc để đưa ra phản ứng thích đáng và dễ dàng nhận được sự ủng hộ của công luận quốc tế. Nước chủ nhà cũng dễ dàng hợp đồng với các công ty nước ngoài để thăm dò, khai thác tài nguyên dưới lòng biển trong vùng không tranh chấp này vì rủi ro bị cản trở giảm đi và nếu bị cản trở thì chính phủ của họ có cơ sở vững vàng để mạnh tay can thiệp. Hơn nữa, ngư dân các nước cũng có quyền đánh bắt cá trong vùng biển quốc tế (phần giới hạn bởi đường biên các EEZ của Việt Nam, Philippines, Malaysia,Malaysia và Indenesia ngoại trừ các khoảng biển còn tranh chấp). Thậm chí, chúng ta cũng có thể viện dẫn kết luận của PCA về việc ngư dân Philippines đuợc quyền đánh cá trong lãnh hải của bãi cạn Scarborough để đòi hỏi quyền đánh cá của ngư dân Việt Nam  bên trong các khoảng biển còn tranh chấp ở Hoàng Sa và Truờng Sa vì đây là ngư truờng truyền thống của ngư dân Việt Nam gui61ng như ngư dân Philippines trong lãnh hải của Scarborough.
Ngoài ra, trong khi chưa đòi được Hoàng Sa, chúng ta có thể viện dẫn kết luận "Toà cho rằng Công ước luật biển của LHQ không quy định cho một nhóm đảo như Trường Sa có thể tạo ra các vùng biển được hưởng với tư cách một đơn vị" trong phán quyết tìm cách bác bỏ đường cơ sở phi pháp của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa qua thương lượng, đấu tranh và thậm chí kiện ra toà , đặc biệt là khi có những vụ vi phạm của họ trong vùng có đánh dấu ‘?’, chẳng hạn như vụ giàn khoan 981 năm 2013. Cũng lưu ý thêm tình trạng của đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa cũng khá tương tự với đảo Ba Bình ở quần đảo Trường Sa. Vì thế có thể dựa vào phán quyết này của PCA để tìm cách thương lương hoặc nếu cần có thể đấu tranh hoặc kiện bác bỏ việc Phú Lâm có EEZ là điều hoàn toàn khả thi, dù có khó khăn. Học tập kinh nghiệm của Philippines trong vụ kiện này, với nguồn lực nhà nước cũng như khả năng của các học giả và các nhà nghiên cứ tư nhân, hi vọng chúng ta có thể tìm ra nhiều tài liệu lịch sử, địa lý, địa chất, thổ nhưỡng, thuỷ văn… các bản đồ, hình ảnh, ảnh vệ tinh… cho thấy Phú Lâm không thể duy trì sự cư trú của con người hay đời sống kinh tế riêng theo những diễn giải về điều 121 của UNCLOS trong phán quyết để khi thích hợp khởi kiện về việc này (xem thêm phục lục). Nếu được cả hai điều này (Phú Lâm không là đảo và Hoàng Sa không thể có EEZ như một đơn vị duy nhất) thì phạm vi tranh chấp ở khu vực Hoàng Sa sẽ thu hẹp giống như ở Trường Sa sau phán quyết. Bản đồ 5 cho thấy phạm vi tranh chấp trên biển Đông lúc đó thu hẹp hơn nhiều, chỉ còn các khoảng biển 12 hải lý quanh các đảo nổi có tranh chấp. Dĩ nhiên, do điều kiện tự nhiên Việt Nam vẫn phải chấp nhận có 4 vị trí nằm một phần hay toàn bộ trong EEZ của mình (3 ở khu vực Hoàng Sa và 1 ở khu vực Trường Sa).
Bản đồ 4: Các khu vực tranh chấp khi quần đảo Hoàng Sa cũng không có EEZ
(Phần nằm giữa EEZ 200 hải lý của các nước trước mắt sẽ là vùng biển quốc tế)
Mặc dù ước muốn cuối cùng của chúng ta chủ quyền thiêng liêng đối với Hoàng Sa và Trường Sa, tuy nhiên trong tương tai không ngắn để đạt được mức độ như thể hiện trong bản đồ 4, thậm chí trong bản đồ 3 vẫn là điều rất tích cực: chúng ta sẽ an toàn hơn trong việc khai thác tài nguyên trong biển và dưới lòng đất trong hầu hết EEZ của mình như đã nêu trên. Ngay cả chỉ đạt được mức độ này cũng là quá trình đấu tranh không đơn giản trước tham vọng và thái độ bất chấp luật pháp của Trung Quốc như ta chúng đã và đang thấy. Theo các ràng buộc trong luật pháp quốc tế và các thỏa thuận của VN với Trung Quốc truớc mắt ta cần thuơng luợng với họ về các điều này và việc khởi kiện có vẻ là điều khó loại trừ và khả năng thắng kiện chắc chắn không nhỏ nhờ tiền lệ của vụ kiện đang bàn.
Còn một điểm nhỏ nữa, do được vẽ trước khi có UNCLOS nên đường cơ sở của VN do có những chỗ không phù hợp với quy định của Công ước này và như vậy cũng có ảnh hưởng tới EEZ dù không lớn lắm. Vì vậy để thật thuyết phục rằng EEZ của VN là chính đáng, có lẽ nhà nước VN cũng cần sớm điều chỉnh lại đường cơ sở này,
_______________
(*) Trường hợp điều kiện địa lí không cho phép, chẳng hạn bờ biển 2 bên cách nhau không tới 400 hải lý thì phần chồng lấn sẽ được chia theo trung tuyến (hoặc trung tuyến có điều chỉnh) hay theo thoả thuận của hai bên liện quan miễn không làm thiệt hại đến bên thứ ba khác.
- Các bản đồ trên sử dụng  trung tuyến vẽ sẵn của tổ chức Marine Regions ở Bỉ, và có tham khảo bản đồ của CSIS (Asia Maritime Transparency Initiative)
- Do không có thông tin về ngấn nước triều thấp (dùng làm đường cơ sở) quanh các đảo nên lãnh hải các đảo vẽ trong các bản đồ trên chỉ chính xác tương đối.


Phụ lục:
Toà trọng tài đã kết luận rằng tất cả các thể địa lí ở Trường Sa nằm trên mặt nước khi triều cao đều là đá (không hưởng EEZ hay thềm lục địa). Kết luận này được rút ra chủ yếu từ việc toà đối chiếu diễn giải của toà về điều 121 [“quyền mà một thể địa lí được hưởng tuỳ thuộc vào (a) khả năng khách quan của thể địa lí đó, (b) trong điều kiện tự nhiên của nó duy trì (c) một cộng đồng người ổn định hoặc (d) hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào các nguồn bên ngoài hay không thuần tuý khai thác trong tự nhiên.”] cũng như quan điểm của toà rằng “ Tòa án xem các sự hiện diện hiện tại này [các cơ sở thiết bị, nhân viên] là PHỤ THUỘC vào các nguồn lực và trợ giúp bên ngoài và lưu ý rằng rất nhiều thể địa lý đã được chỉnh sửa để cải thiện khả năng có thể sinh sống được, kể cả thông qua cải tạo đất và xây dựng cơ sở hạ tầng như các nhà máy khử muối”với tình trạng của Ba Bình, đảo lớn nhất ở Trường Sa.
Như Ba Bình ở Trường Sa, Phú Lâm là đảo lớn nhất ở Hoàng Sa. Nếu đảo này chỉ là đá thì một kết luận tương tự như thế cho Hoàng Sa hoàn toàn có khả năng xảy ra.
Mấy điều sau đây có thể xem là bằng chứng bước đầu cho việc lập luận Phú Lâm chỉ là đá:
1. Bài viết “Công trình xây dựng không thể quên trên đảo Vĩnh Hưng” của Nghê Thuỷ Minh trên trang web của Phòng địa chí Thượng Hải (http://www.shtong.gov.cn/node2/node70393/node83885/node83891/node83899/node83901/userobject1ai121797.html). Tác giả từng là Phó Tổng chỉ huy hậu cần công binh hải quân phụ trách công trình đường băng trên đảo Phú Lâm (1988-91) nên độ tin cậy của những thông tin trong bài khá cao. Những chi tiết đáng lưu ý trong bài như sau:
- “Người được phái tới quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) khó có thể chịu đựng được độ ẩm lớn, nhiệt độ cao, THIẾU NƯỚC NGỌT, thiếu rau cải, ĂN ĐỒ HỘP quanh năm.” (西沙群岛上使人最难以忍受的是湿度大,温度高,缺淡水,缺蔬菜,常年靠吃罐头食品。)
- “Lợi dụng mặt ĐƯỜNG BĂNG để thu thập NƯỚC MƯA, xây hai hồ chứa ngầm cả vạn mét khối giải quyết vấn đề nước dùng cho chiến sĩ, nhân viên trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) đồng thời kết thúc lịch sử thiếu nước ngọt của đảo Vĩnh Hưng” (利用机场道面收集雨水,建有两个地下万吨级储水库,解决了永兴岛上指战员的用水问题,同时也结束了永兴岛没有淡水的历史。)
- Trong những thứ xây dựng dọc đường Bắc Kinh trên đảo, tác giả có kể đến “XƯỞNG SẢN XUẤT NƯỚC NGỌT” (淡水制造厂:đạm thủy chế tạo xưởng).
2. Những chi tiết này cũng ăn khớp với những thông tin trên trang bách khoa (http://baike.baidu.com/view/28617.htm), một trang web chính thức và có uy tín của Tung Quốc:
- “NƯỚC GIẾNG đào trên đảo bị nhiễm phân chim nên KHÔNG UỐNG ĐƯỢC, chỉ có thể dùng để tắm rửa.” (洼地掘井取水方便,由于鸟粪的污染,井水不能饮用,只能用来洗涤。)
- “nước dùng sinh hoạt trên đảo Vĩnh Hưng là NƯỚC MƯA ĐÃ QUA XỬ LÍ thành nước uống và nước tắm rửa.” (永兴岛上的生活用水是经过处理的雨水,分为饮用水和洗涤用水。)
- “tàu TIẾP TẾ tới đảo Vĩnh Hưng mỗi tháng một lần, khi đó cư dân trên đảo dành ra 2 ngày để phụ giúp việc vận chuyển vật tư lên bờ.” (每月补给船到达永兴岛的时候,永兴岛居民都会放假两天,到码头协助卸下运补物资)
- “Vào thập niên 1970, lúc công việc mở mang đảo Vĩnh Hưng mới bắt đầu, những người thuộc lớp đầu tiên phải sống trong các nhà vách cây hay giấy dầu, UỐNG NUỚC MƯA chưa qua tinh lọc, ăn rau củ khô, đọc ‘báo tháng’, chưa có radio, TV; điện thoại không thông suốt, phương tiện đi lại giữa Hải Nam và Tây Sa chỉ có thuyền gỗ trọng tải nhỏ, chạy chậm, kém tiện nghi, điều kiện công tác sinh hoạt hết sức khó khăn.” (二十世纪七十年代,在永兴岛创业之初,老一辈“西沙人”住的是木板房、油毡房,喝的是未经净化的雨水,吃的是咸菜萝卜干,读的是“月报”;没有广播电视,电话也不通;在海南岛与西沙间往来的交通工具仅是小吨位的木船,速度慢,舒适性差,工作生活条件十分艰苦。)
3. Bản thân Tiêu Tiệp (Xiao Jie/肖捷), bí thư Tam Sa đã phát biểu năm 2012 như sau: “Ở đây KHÔNG có đất CANH TÁC ĐƯỢC. Mục đích chính của chúng tôi là bảo vể chủ quyền trên biển của đất nước” (xem Geoff A. Dyer, A Line With Nine Dahes http://www.viet-studies.info/kinhte/LineWithNineDashes_Dyer.htm).

Rò ràng những chi tiết này cho thấy đảo Phú Lâm tự nó không đảm bảo việc duỵ trì việc cư trú của con người mà phải phụ thuộc vào nguồn lục bên ngoài như PCA nhận xét cho đảo Ba Bình. Dĩ nhiên, để thuyết phục toà ta cần tìm kiếm và thu thập thêm bằng chứng khoa học cụ thể hơn như đội luật sư của Philippines đã làm (tài liệu lịch sử, đia lý, địa chất, thổ nhưỡng, thuỷ văn… các bản đồ, hình ảnh, ảnh vệ tinh…). Điều này có lẽ không nằm ngoài khả năng nếu ta quyết tâm, nhất là khi có nguồn lực từ nhà nước và nhiệt tình của đội ngũ học giả và các nhà nghiên cứu.