Showing posts with label Alexander L. Vuving. Show all posts
Showing posts with label Alexander L. Vuving. Show all posts

Sunday, October 22, 2017

Chạy đua vũ trangở biển Đông: một huyền thoại

Chạy đua vũ trangở biển Đông: một huyền thoại

(Force Buildup in the South China Sea: The Myth of an Arms Race)
cogitASIA (12 tháng 10 năm 2017)
Alexander L. Vuving (Vũ Hồng Lâm)

(Bài dịch đã đăng trên Tiếng Dân 12/10/2017 - phiên bản đăng lúc đầucó ghi một nx sai do tôi đo nhầm khoảng cách từ bg Việṭ- Trung tới Tuyển Châu /Quanzhou thay vì Quảng Châu/Guangzhou)


Tàu khu trục nhỏ Gregorio Del Pilar của Hải quân Philippines và tàu Edsa của Tuần duyên Philippines tham gia vào cuộc tập trận CARAT 2013..

Từ khi biển Đông nổi lên trở lại như một điểm nóng xung đột âm ỉ vào khoảng năm 2008, cách nghĩ thông thường cho rằng căng thẳng trong khu vực này đang thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang giữa các quốc gia nằm ven biển này. Các chuyên gia, các nhà báo, và các nhà bình luận đã nói về một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực như là một thực tế, một xu hướng, hoặc một đe dọa đáng báo động. Một tường thuật gần đây trên đài Tiếng nói Hoa Kì nhận xét , “Khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở vuông biển Đông đang tranh chấp, một cuộc chạy đua vũ trang đã phát triển giữa các nước có yêu sách trong khu vực.” Một bài bình luận cá nhân trên The National Interest nêu, “Khi căng thẳng ở biển Đông tiếp tục leo thang, cuộc chạy đua vũ trang này đặt ra một mối đe dọa đáng kể cho an ninh trong khu vực.” Một tựa lớn trên blog Lawfare viết , “Hải chiến: cuộc chạy đua vũ trang ở biển Đông leo thang”; một tựa lớn trên CNBC  ghi là , “Chi tiêu quốc phòng châu Á: cuộc chạy đua vũ trang mới ở biển Đông.”
Khi quan sát kỹ hơn các sự kiện và xu thế thì sẽ thấy khác đi. Nếu một cuộc chạy đua vũ trang là một nỗ lực để được ngang bằng hoặc vượt trội đối thủ của mình, thì Malaysia, Philippines và Việt Nam sẽ không theo kịp Trung Quốc, và cũng không theo kịp lẫn nhau. Ba nước Đông Nam Á yêu sách chính ở biển Đông này ít có ý định tìm kiếm sự ngang bằng hoặc ưu thế về quân sự. Thay vào đó, tham vọng lâu dài của họ là điều có thể được gọi là "ngăn chặn tối thiểu". Họ muốn xây dựng đủ năng lực để làm cho những kẻ xâm lược tiềm năng phải suy nghĩ hai lần trước khi tấn công họ. Và mục đích của việc ngăn chặn tối thiểu này rõ ràng là một mục tiêu dài hạn, vì cả ba nước đều phải vượt một chặng đường dài trước khi đạt được điều đó.
Hầu hết việc mở rộng thêm lực lượng gần đây, quân sự cũng như bán quân sự, của Malaysia, Philippines và Việt Nam trong hai thập kỷ qua là để thu hẹp khoảng cách đang có trong khả năng phòng thủ của họ. Các thiếu sót này tồn tại trong nhiều năm qua—thậm chí hàng thập kỉ qua trong một số trường hợp—nhưng đã lấy hành động quyết đoán của Trung Quốc trực tiếp chống lại họ để xúc tác cho nỗ lực nghiêm túc trong việc lấp đi khoảng cách. Sự hung hăng của Trung Quốc đã dấy lên sự cạnh tranh từ Việt Nam, và ở một mức độ thấp hơn từ Philippines, nhưng điều này nên được mô tả chính xác hơn như là một “sự cạnh tranh tốt thiểu,” không phải là một cuộc chạy đua vũ trang.
Một cách để xem có một cuộc chạy đua vũ trang đang được diễn ra hay không là xem xét chi tiêu quân sự như một phần của tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Ước tính của SIPRI gợi ra rằng trong 15 năm qua, không có đối thủ chính nào trong tranh chấp biển Đông đã tăng đáng kể tỉ lệ chi tiêu quân sự theo GDP. Ngoài ra, không một quốc gia nào trong số này chi tiêu hơn 2,5% GDP cho quân đội (ngoại trừ Malaysia với 2,6% năm 2003).
Với một nền kinh tế lớn và phát triển nhanh, Trung Quốc đã có thể duy trì một mức chi tiêu ổn định cho vũ khí trong suốt thời kỳ này. Theo ước tính của SIPRI, chi tiêu quân sự của Trung Quốc là 1,9% trong gần suốt thập kỷ 2007-2016, thời kì Trung Quốc gia tăng sự quyết đoán và có một làn sóng căng thẳng mới ở biển Đông. Trung Quốc đã chi hơn một chút, khoảng 2 và 2,1% GDP, trong 4 năm 2003-2006, khi căng thẳng tương đối thấp ở khu vực này.
Trái với sự tin tưởng chung, cả Malaysia lẫn Philippines đều giảm mức chi tiêu quân sự theo phần trăm GDP trong suốt 15 năm qua. Sự suy giảm mạnh nhất đã xảy ra ở Malaysia, tỉ lệ này giảm từ 2,6% năm 2003 xuống còn 1,4% năm 2016. Ở Philippines, chi tiêu quân sự cũng giảm từ 1,6% năm 2003 xuống còn 1,3% năm 2016. Biệt lệ trong những nước này là Việt Nam, tỉ lệ đã tăng nhẹ từ 2,1% năm 2003 lên 2,4% vào năm 2016. Nhưng thập kỉ 2007-2016 không chứng kiến sự gia tăng đáng kể về tỉ lệ GDP của ngân sách quân sự Việt Nam.
Một cách uyển chuyển hơn để phát hiện các cuộc chạy đua vũ trang là so sánh sự tăng trưởng thực sự trong chi tiêu quân sự của các nước này. Khi căng thẳng ở biển Đông bắt đầu một làn sóng mới khá lâu trong năm 2007-2009, chúng ta hãy lấy năm 2007 làm điểm xuất phát (Xem Hình 1). Theo chi tiêu cố định bằng US$ năm 2015, khoản chi tiêu quân sự của Trung Quốc tăng 2,2 lần trong giai đoạn 2007-2016. Trong cùng kì, Việt Nam tăng 1,8 lần và Philippines 1,4 lần, trong khi đó Malaysia hầu như không thay đổi. Những con số này khó có thể gợi ra là có một cuộc chạy đua vũ trang.

Hình 1. Tăng trưởng chi tiêu quân sự trong điều kiện thực tế kể từ năm 2007
Nguồn: Tính toán của tác giả, dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu chi tiêu quân sự năm 2017 của SIPRI.

Hơn nữa, một cuộc chạy đua vũ trang thường liên hệ đến việc phát triển vũ khí chiến lược. Mặc dù ngày càng hiểu rõ mối đe doạ từ Trung Quốc, không một nước nào trong số các bên yêu sách Đông Nam Á đang phát triển vũ khí chiến lược. Không có bằng chứng Malaysia, Philippines, hoặc Việt Nam mua sắm vũ khí hạt nhân hoặc tên lửa đạn đạo. Chẳng hạn, Việt Nam đang đầu tư vào phòng thủ ven biển, phòng không và các hệ thống tên lửa chống tàu, nhưng không vào loại tên lửa có thể đặt các thành phố lớn của Trung Quốc vào cảnh bị làm con tin. Loại tên lửa đáng gờm nhất mà Việt Nam , nước khu vực gần Trung Quốc, có hiện nay là tên lửa hành trình P-800 Yakhont có tầm bắn tối đa 186 dặm (khoảng cách từ biên giới Trung-Việt đến Quảng Châu, thành phố lớn gần nhất của Trung Quốc, là khoảng 350 dặm). Việt Nam và Malaysia đang nhắm tới tên lửa hành trình chống tàu BrahMos của Ấn-Nga, có tầm bắn tối đa 280 dặm và có thể đặt trên các tàu ngầm của họ. Việt Nam, Malaysia, và Philippines không có khả năng chiến tranh không gian và chiến tranh mạng đáng kể, và có rất ít bằng chứng về những nỗ lực của họ trong phát triển vũ khí chiến lược trong các lĩnh vực này.

Hình 2. tăng trưởng chi tiêu quân sự trên thực tế kể từ năm 2007
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
CN
100
113.5
132.6
139.4
150.5
163.4
178.6
193.8
206.5
217.7
MY
100
102.3
96.5
84.3
94.5
90.1
98.2
99.0
106.6
101.0
PH
100
100.0
96.2
101.0
102.7
104.2
118.4
109.3
118.8
142.0
VN
100
98.5
108.2
120.7
112.6
131.2
137.2
152.0
165.7
181.8

Tiến trình của một cuộc chạy đua vũ trang bao hàm rằng việc mở rộng thêm lực lượng quân sự tạo ra bất ổn. Điều ngược lại là đúng đối với việc hiện đại hóa lực lượng của Việt Nam, Philippines và Malaysia. Chỉ khi các nước này có sự phát triển đáng kể về khả năng quốc phòng thì mới có thể cải thiện sự mất cân bằng về sức mạnh đang nghiêng về phía Trung Quốc, vốn đang đe dọa sự ổn định của khu vực. Nếu an ninh khu vực dựa trên việc ngăn chặn sự thống trị của một quốc gia nào đó ở biển Đông thì Việt Nam, Philippines và Malaysia bắt buộc phải tăng mạnh khả năng phòng thủ của mình.

Tiến sĩ Alexander L. Vuving là Giáo sư tại Trung tâm châu Á-Thái Bình Dương  về Nghiên cứu An ninh Daniel K. Inouye.


Wednesday, July 6, 2016

Tại sao có quá nhiều nước có yêu sách chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông?

Tại sao có quá nhiều nước có yêu sách chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông?

Các yêu sách tranh chấp nhau dựa trên lịch sử, địa lí và luật pháp - nhưng sức mạnh quân sự trần trụi là con át chủ bài

(Why do so many countries have claims to territory in the South China Sea?)

Cary Huang (Hoàng Trung Thanh)
SCMP (03/07/2016)



Tất cả các tranh chấp lãnh thổ giữa 6 nước láng giềng châu Á ở biển Đông, rốt cuộc, liên quan đến ba ngành học: lịch sử, địa lí và luật pháp.

Hầu hết các đảo, đá, rạn san hô và bãi cát ngầm được yêu sách đều không có người ở và một số thậm chí nằm dưới mặt nước khi triều thấp. Toàn bộ chúng chỉ gồm một vài cây số vuông nhưng trải rộng trên 2 triệu cây số vuông biển bao bọc bởi “đường chín vạch” của Trung Quốc, với Trung Hoa đại lục, Brunei, Malaysia, Philippines, Việt Nam và Đài Loan đều có yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ hoặc một phần của nhiều chuỗi đảo và vùng biển lân cận.

Điều đó làm cho một bối cảnh phức tạp mà ngay cả một phán quyết sắp đưa ra của Tòa Trọng tài Thường trực có thể không có khả năng giải quyết.

Các tranh chấp không chỉ là về bản đồ và lòng tự hào dân tộc mà còn về các quyền độc quyền của một nước đối với tài nguyên thiên nhiên ở các vùng biển xung quanh và dưới đáy biển, và về quyền chủ quyền trong việc quản lí tàu thuyền và máy bay của các quốc gia khác đi qua khu vực này, khu vực có chứa một số tuyến đường biển nhộn nhịp nhất và quan trọng nhất của thế giới.

Dư Mậu Xuân (Maochun Miles Yu), giáo sư lịch sử quân đội và hải quân Đông Á tại Học viện Hải quân Hoa Kì, nói rằng tất cả các bên tranh chấp đều sử dụng một, hai hoặc cả ba ngành học này để hậu thuẫn cho các lập luận của họ, nhưng các tranh chấp đều thu về một câu hỏi: điều gì làm một nước đủ tiêu chuẩn là chủ sở hữu chủ quyền đúng lẽ của một số đảo ở biển Đông.

“Đối với Trung Quốc, biện minh là những đề cập lịch sử trong các sách vở xưa; đối với Philippines, Malaysia và những nước khác, đó là sự gần gũi về mặt địa lí; đối với Việt Nam, đó là việc tích cực cai quản từ thế kỉ thứ 17 mà điều đó đúng ra phải cho Hà Nội quyền sở hữu các đảo này”, Dư Mậu Xuân nói.

Trung Quốc nói rằng các đảo này đã được bàn luận từ thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên trong các sách vở xưa như Dật Chu thư, Kinh Thi, Tả truyện, và Quốc ngữ, mặc dù chúng chỉ được mô tả một cách bao hàm như là một phần của “lãnh thổ phía Nam”.

Các nhà sử học Trung Quốc nói rằng nhiều tên khác nhau đã được sử dụng để mô tả các đảo này từ thời nhà Đường (618-907) đến thời nhà Thanh (1644-1912).

Trong thời kì Trung Hoa Dân Quốc, chính phủ đã đưa vào bản đồ hơn 291 đảo, đá ngầm, và các bãi cạn tiếp sau vào những khảo sát trong thập niên 1930 và sau đó công bố một bản đồ có đường chín vạch vào năm 1947.

Sau cuộc cách mạng năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thừa kế yêu sách do Trung Hoa Dân Quốc đưa ra. Và vào năm 1958, Bắc Kinh đã ban hành một tuyên bố quy định lãnh hải của mình trong đường chín vạch, bao bọc quần đảo Trường Sa. Thủ tướng Bắc Việt lúc đó là Phạm Văn Đồng, đã gửi công hàm cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng của Bắc Việt đối với lập trường của Trung Quốc.

Bắc Kinh đang tiến hành một cuộc vận động ngoại giao và quan hệ công chúng để huy động sự ủng hộ cho yêu sách của họ trước khi có phán quyết của tòa án quốc tế dự kiến vào ngày 12/7 trong một vụ kiện chống lại Trung Quốc do Philippines khởi xướng.

Ngày 09 Tháng 5, Trung Quốc công bố một bài viết dài, do Phó Oánh, Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Quốc hội và cựu thứ trưởng ngoại giao, và Ngô Sĩ Tồn, chủ tịch của Viện Nghiên cứu Nam Hải (biển Đông) đồng tác giả, giải thích lập trường của Trung Quốc. Họ viết “Các đảo ở biển Đông và vùng nước xung quanh chúng do người Trung Quốc xưa phát hiện, đặt tên, và sử dụng đầu tiên, cũng như được các chính phủ kế tiếp quản lí và đã được coi là lãnh thổ và vùng biển vốn có của đất nước từ thời xa xưa, như được chứng minh trong rất nhiều hồ sơ lịch sử, sách vở địa phương và bản đồ”.

Bài viết, công bố trên cả hai tạp chí The National Interest ở Hoa Kì và tạo chí China Newsweek, nói rằng cộng đồng quốc tế - trong đó có Mĩ - trong lích sử đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo này, cho đến gần đây.

Nhưng Mohan Malik, giáo sư về an ninh châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương của Honolulu, nói rằng xét về “bằng chứng pháp lí”, phần lớn các chuyên gia luật quốc tế đều đã kết luận rằng yêu sách của Trung Quốc về quyền sở hữu/danh nghĩa lịch sử (historical title) đối với biển Đông, bao hàm quyền chủ quyền trọn vẹn cùng với việc bằng lòng cho các nước khác đi ngang qua, là không hợp lệ.

Benjamin Herscovitch, giám đốc nghiên cứu Chính sách Trung Quốc, một công ti phân tích và tư vấn chính sách đóng ở Bắc Kinh, nói rằng Bắc Kinh vẫn chưa làm rõ ý nghĩa của yêu sách lãnh thổ lịch sử của họ bao bọc bởi đường chín vạch, mà ông nói là luôn không rõ ràng trong lịch sử và vẫn như vậy, dù gần đây Bắc Kinh có nỗ lực đưa ra biện minh.

Ông hỏi “Đó là yêu sách cho toàn bộ các vùng nước bên trong đường này hoặc chỉ đơn giản là các đảo và các thể địa lí khác? Nó liên quan đến Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), mà Trung Quốc là một bên kí kết, như thế nào? Vùng nước bên trong đường chín đoạn là lãnh hải hay chỉ đơn thuần là EEZ (vùng đặc quyền kinh tế)?”

Herscovitch, là một chuyên gia về ngoại giao châu Á và an ninh khu vực, cho biết Việt Nam cũng sử dụng tài liệu lịch sử để làm chỗ dựa cho yêu sách của mình, qua việc nói rằng họ có tài liệu chứng minh họ đã tích cực cai quản cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỉ 17.

Một bên chính khác trong khu vực là Philippines, viện dẫn sự gần gũi về địa lí đối với quần đảo Trường Sa là cơ sở chính cho yêu sách chủ quyền đối với một phần của nhóm đảo này.

Cả Philippines lẫn Trung Quốc cũng đòi chủ quyền bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham) – cách Philippines hơn 160 km một ít và cách Trung Quốc 800 km.

Malaysia và Brunei cũng đòi chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông mà họ nói là lọt vào vùng đặc quyền kinh tế của họ, như quy định của UNCLOS.

Allen Carlson, phó giáo sư về chính quyền tại Đại học Cornell, nói biển Đông hiện nay đã bị cuốn đi với một hỗn hợp của các yêu sách  pháp lí quốc tế tương phản và nhiều câu chuyện lịch sử, của năng lực hải quân đang phát triển và tình cảm dân tộc. Carlson nói “Tình trạng này có vẻ đang tạo ra một cái gì đó giống như một hợp chất dễ bốc hơi trong vùng biển này, một hợp chất mà có thể chỉ cần một chút chất xúc tác là bùng cháy”.

Dư Mậu Xuân nói rằng lí lẽ của Trung Quốc là yếu nhất so với các bên tranh chấp khác vì đơn giản là người ta không thể chỉ dùng những đề cập trong sử sách về những nơi xa xôi làm biện minh chính cho các yêu sách chủ quyền hiện nay. “Nếu không, Marco Polo từng nói về Trung Quốc cho dân Ý vào thế kỉ thứ 13, điều đó có biện minh cho Ý yêu sách chủ quyền đối với Trung Quốc được không? Dĩ nhiên là không,” ông nói.

UNCLOS đã được tất cả các quốc gia ven biển chủ yếu có lợi ích ở biển Đông kí kết và phê chuẩn, nó cần giúp đem lại sự chắc chắn cho khung pháp lí áp dụng cho toàn khu vực. Tuy nhiên, các tranh chấp pháp lí và lãnh thổ vẫn kéo dài.

Dư Mậu Xuân nói rằng luật biển quốc tế hiện đại và quyền tài phán lãnh thổ coi trọng việc quản lí tích cực và sự gắn kết về địa lí (mở rộng tự nhiên của thềm lục địa là một ví dụ).

Không giống như các nước khác, yêu sách của Trung Quốc không dựa trên yêu sách đối với các đảo hoặc các thể địa lí cụ thể khác theo quy định của luật biển năm 1982 của LHQ, mà dựa trên một bản đồ lịch sử Trung Quốc chính thức nộp cho Liên Hiệp Quốc vào năm 2009. Bản đồ đó có đường chín vạch, tạo thành một hình chữ U chạy xuống bờ biển phía đông của Việt Nam vòng qua phía bắc Indonesia rồi tiếp tục chạy về phía bắc đến bờ biển phía tây của Philippines. Nhiều chuyên gia cho rằng đường chín vạch không phù hợp với luật biển năm 1982 của LHQ, luật này không chấp nhận yêu sách dựa trên lịch sử.

Nhưng Herscovitch nói rằng luật pháp quốc tế ít quan trọng trong tranh chấp biển Đông. Công ước của LHQ cũng vận hành hơi khác vì nó cũng chỉ ra rằng đất đai khám phá có thể chấp nhận được nếu là terra nullius (đất không thuộc về một quốc gia cụ thể) có nghĩa là đất mà không có quốc gia nào hành xử chủ quyền. Do đó, người ta có thể lập luận rằng quốc gia nào thực hiện quyền kiểm soát không bị thách thức đối với đất đai như thế thì yêu sách nó loại trừ tất cả các quốc gia khác dựa trên việc các quốc gia này “từ bỏ” quyền thách thức của họ. Theo quy định như vậy, không một quốc gia có thể chịu”từ bỏ” quyền của mình.

Trung Quốc kiểm soát hữu hiệu hầu hết các đảo, mặc dù là tương đối muộn dự phần khi đến chiếm đóng lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa.

Đài Loan chiếm một đảo trong quần đảo Trường Sa trước tiên sau Thế chiến II, và Philippines, Việt Nam và Malaysia tiếp theo sau.Theo Mira Rapp-Hooper, nghiên cứu viên cao cấp trong chương trình an ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm New American Security thì tất cả các nước này đều xây các tiền đồn và đường băng trên lãnh thổ họ yêu sách. Bắc Kinh bắt đầu điều động nhân sự để chiếm các rạn đá và đảo trong khu vực trong những năm 1980.

Từ năm 2012, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa nằm dưới  quyền kiểm soát của Trung Quốc, trong khi Trung Hoa đại lục, Việt Nam, Philippines và Malaysia đều kiểm soát các đảo ở quần đảo Trường Sa, với Đài Loan kiểm soát một đảo.

Alexander Vuving, giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, cho biết trong một bài viết trên The Diplomat vào ngày 06 tháng 5 rằng Việt Nam chiếm 21 thể địa lí trong quần đảo Trường Sa, Philippines 9, Trung Quốc 7, và Malaysia 5.

Các nhà phân tích nói rằng vấn đề chủ quyền không thể giải quyết được theo luật pháp quốc tế, và cũng không nằm trong phạm vi thẩm quyền của tòa [trọng tài]. 

Herscovitch nói rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục củng cố quyền kiểm soát trên thực tế (de facto) trên những mảng lớn của biển Đông. Ông nói “Luật pháp quốc tế có thể làm đường chín vạch và chính sách rộng lớn hơn về biển Đông của Trung Quốc thành phi pháp trong mắt của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế nói chung là bất lực khi đối mặt với quyết tâm và ưu thế về sức mạnh quân sự trần trụi của Trung Quốc.”

Tuesday, May 17, 2016

Thực trạng chiếm đóng của các bên ở Trường Sa

Biển Đông: Mỗi bên yêu sách thứ gì ở Trường Sa?

(South China Sea: Who Claims What in the Spratlys?)

Một cái nhìn sâu hơn về một câu hỏi cơ bản nhưng chưa hiểu rõ.

Alexander L. Vuving (Vũ Hồng Lâm)
(Diplomat 6-5-16)


Diễn ngôn về tranh chấp Biển Đông dễ hiểu có chứa đầy cảm xúc. Chính đó có thể là một lí do vì sao cuộc tranh luận về vấn đề này nên được dựa trên các điều thật. Và, như Bill Hayton đã ghi nhận, “bằng chứng không đáng tin cậy đang che phủ diễn ngôn quốc tế về tranh chấp Biển Đông.” Thật vậy, đôi khi nó giống như một bức màn dày đang che khuất sự thật về biển Đông.

Chẳng hạn, xét lập luận cho rằng Trung Quốc còn xa mới là kẻ gây hấn ở biển Đông, họ thật ra chỉ đơn thuần phản ứng lại các hành động khiêu khích đơn phương của các nước khác như Việt Nam. Kết luận này dựa trên một số bằng chứng có vấn đề, trong đó có ý kiến cho rằng Việt Nam đã “tăng gấp đôi vị trí chiếm giữ” ở biển Đông trong vòng  20 năm qua. Ngay cả khi giả định rằng Việt Nam chiếm giữ 24 thể địa lí vào năm 1996 (dữ liệu thực tế mà từ đó bản đồ thường được vẽ ra cho hướng lập luận này thật ra chỉ xác định được 22), ý tưởng rằng đã có sự gia tăng gần như gấp đôi là gây hiểu sai. Cội nguồn cho lời tố cáo này - điều trần của một quan chức quốc phòng cao cấp Hoa Kì trước quốc hội năm 2015 – thật ra chỉ xác định có 48 tiền đồn ở những thể địa lí do Việt Nam chiếm giữ tại quần đảo Trường Sa, chứ không phải là 48 thể địa lí. Việc sử dụng khoảng thời gian 20 năm cũng không kém phần định hướng sai bởi vì đã bỏ qua việc Trung Quốc chiếm lấy Đá Vành Khăn (Mischief Reed) cách đây 21 năm.

Nhưng nói chung, vấn đề là vẫn không có sự rõ ràng thật sự về việc nước nào sở hữu cái gì trong quần đảo Trường Sa. Không phải là không phổ biến để để tìm thấy các bài viết - và đôi khi thậm chí là các tài liệu, bản đồ và dữ liệu công bố công khai - có chứa thông tin không chính xác, mâu thuẫn và đôi khi không đáng tin cậy. Bài viết này cố gắng giải quyết vấn đề đó bằng cách nhìn xem mỗi bên thật sự chiếm những cái gì trong quần đảo Trường Sa. Trong quá trình tìm hiểu câu hỏi này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn, phần lớn là nguồn chính (primary), và phỏng vấn một số người am tường vấn đề. Các thông tin thu được cũng đã được kiểm tra cẩn thận.

Việt Nam

Việt Nam hiện đang chiếm 21 thể địa lí trong quần đảo Trường Sa, với thể mới nhất chiếm lấy một vài ngày sau cuộc đụng độ đẫm máu với Trung Quốc vào ngày 14 tháng 3 năm 1988 tại đá Gạc Ma (Johnson South Reef). Một danh sách đầy đủ các thể địa lí với tên và tọa độ đã được công bố trên báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của chính phủ Việt Nam, số ra ngày 22 tháng4 năm 1988. Đó là:

1.         Song Tử Tây (Southwest Cay) ,
2.         Đá Nam (South Reef),
3.         Núi Thị/ Đá Thi (Petley Reef),
4.         Sơn Ca (Sand Cay),
5.         Nam Yết (Nanyit Island),
6.         Đá Lớn (Discovery Great Reef),
7.         Đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island),
8.         Cô Lin (Collins Reef),
9.         Len Đao (Lansdowne Reef),
10.     Đảo Sinh Tôn Đông (Sin Cowe East Island),
11.     Đá Lát (Ladd Reef),
12.     Đảo Trường Sa hay Trường Sa Lớn (Spratley Island),
13.     Đá Tây (West Reef),
14.     Trường Sa Đông (Central Reef),
15.     Đá Đông (East Reef),
16.     Phan Vinh (Pearson Reef),
17.     Tốc Tan (Allison Reef),
18.     Núi Le (Cornwallis South Reef),
19.     Tiên Nữ (Pigeon / Tennent Reef),
20.     Thuyên Chài (Barque Canada Reef),
21.     An Bang (Amboyna Cay).

Trong một bản đồ (từ đây về sau gọi là bản đồ APMSS) đính kèm Chiến lược an ninh hàng hải châu Á-Thái Bình Dương (Asia-Pacific Maritime Security Strategy) năm 2015, Bộ Quốc phòng Hoa Kì của (DoD) đã chi ra 34 tiền đồn trên 21 thể địa lí. Một “tiền đồn” có thể lớn bằng một đảo hay nhỏ như một tháp canh. Chẳng hạn, đá Đông được tính ba lần do thể địa lí này chưa được phát triển thành một đảo nhân tạo duy nhất nhưng vẫn được đánh dấu tại ba địa điểm bằng bốn nhà hộp hình bát giác mà mỗi cái chiếm vài trăm mét vuông.

Việt Nam cũng có một hệ thống đếm tương tự, nhưng chỉ xác định có 33 tiền đồn (điểm đóng quân hay điểm đảo). Tại sao lại có sự khác biệt? Một tiền đồn mà Bộ Quốc phòng đếm dư thật ra là một đèn biển trên đá Tiên Nữ (Tennent Reef). Việt Nam không xem nó như là một tiền đồn vì không có quân đóng ở đó - nó do một công ty dân sự thuộc Bộ Giao thông điều hành. Hiện chưa rõ ngọn đèn biển này được xây dựng lúc nào, nhưng tất cả 33 tiền đồn Việt Nam khác đã được xây dựng trước năm 1989.

Số tiền đồn trên bản đồ APMSS cũng nhiều hơn số mà Việt Nam có ở quần đảo Trường Sa là 14 cái. So sánh bản đồ này với những gì tồn tại trên mặt đất - hoặc, nếu bạn thích, trên biển - chúng ta có thể thấy rằng 14 cái này chỉ kiến trúc quan sát (nhà giàn) mà Việt Nam đang điều hành trên 6 bãi ngầm nằm ở phía Tây Nam quần đảo Trường Sa. Việt Nam bắt đầu dựng các cấu trúc vĩnh viễn trên bãi Tư Chính (Vanguard Bank), bãi Vũng Mây (Rifleman Bank), và bãi Phúc Tần (Prince of Wales Bank) vào năm 1989, bãi Phúc Nguyên (Prince Consort Bank) năm 1990, và trên Bãi Quế Đường (Grainger Bank) cùng bãi Huyền Trân (Alexandra Bank) vào năm 1991. Những mặt sàn này rộng từ 100 và 250 mét vuông, và dựng trên các bãi có độ sâu từ 7 và 25 mét dưới mặt nước biển.

Các bãi ngầm này có là một bộ phận của quần đảo Trường Sa hay không là một vấn đề gây tranh cãi. Bản đồ của Trung Quốc gom các bãi đó vào quần đảo Trường Sa coi chúng như thể là các dạng địa hình nằm trên mặt nước. Do đó, con số của Trung Quốc về những thể địa lí Việt Nam chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa thường chạy từ 27 đến 30. Việt Nam lập luận rằng do các bãi ngầm này nằm sâu dưới nước và trong phạm vi 200 hải lí (nm) từ đường cơ sở của Việt Nam nên chúng thuộc về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam theo quy định tại Điều 76 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Theo UNCLOS, các thể địa lí ngầm không thể đòi sở hữu bằng cách chiếm đóng hay cách khác.

Có 11 trong số các thể địa lí do Việt Nam trấn giữ tại quần đảo Trường Sa có phần tự nhiên dài hơn 100 mét nằm trên thủy triều cao. Đó là Song Tử Tây, đá Nam, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Len Đao, Trường Sa, Trường Sa Đông, Phan Vinh, và An Bang. Bảy thể địa lí khác – Núi Thị, đá Lớn, Cô Lin, đá Tây, đá Đông, đá Tiên Nữ, và đá Thuyền Chài – được biết có một số phần đó nằm trên mặt nước khi triều cao trong điều kiện tự nhiên. Những thể địa lí này có thể có đủ điều kiện là “đảo” hay “đá” và có thể tạo ra lãnh hải theo UNCLOS. Ba thể địa lí – đá Lát, Tốc Tan, và Núi Le  - có thể chỉ ở trên mặt nước khi triều thấp. theo ngôn ngữ của UNCLOS, chúng có thể được gọi là các “bãi triều thấp”, không được hưởng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, hay thềm lục địa.

Philippines

Truyền thông Philippines thường nêu có 9 hoặc 10 thể địa lí do Philippines chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa. Thể địa lí thứ mười là đá Cá Nhám (Irving Reef, tiếng Philippines là Balagtas), nằm giữa bãi Loại Ta (Loaita Bank) và Bến Lạc (West York Island). Không có công trình kiến trúc nào trên rạn san hô này, nhưng có các nguồn tin chưa được xác minh cho biết rằng các tàu hải quân Philippines thay phiên nhau canh gác thể địa lí này. Nếu điều này là đúng, tình trạng của đá Cá Nhám cũng tương tự như một số thể địa lí khác được các tàu Trung Quốc và Việt Nam canh chừng, nhưng vẫn còn bỏ trống.

Vớiì điều này, 9 thể địa lí do Philippines chiếm giữ ở quần đảo Trường Sa là:

1.      Đảo Song Tử Đông (Northeast Cay, tiếng Philippines: Parola),
2.      Đảo Thị Tứ (Thitu Island, Pag-asa),
3.      Loại Ta Tây (Loaita Cay, Panata),
4.      Đảo Loại Ta (Loaita Island, Kota),
5.      Đảo Bến Lạc (West York Island, Likas),
6.      Đảo Bình Nguyên (Flat Island, Patag),
7.      Đảo Vĩnh Viễn (Nanshan Island, Lawak),
8.      Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal, Ayungin),
9.      Đá Công Đo (Commodore Reef, Rizal).

Danh sách này không ăn khớp với danh sách phổ biến hơn trong những thể địa lí do Philippines chiếm về vị trí của Panata. Hầu hết các nguồn Philippines đều chuyển tên tiếng Anh của Panata là Lankiam Cay (đá An Nhơn), một cồn cát nhỏ nằm cách đảo Loại Ta 8 hải lí về phía đông-đông bắc. Hầu hết các tài liệu quốc tế cũng liệt kê đá An Nhơn và đảo Loại Ta là hai thể địa lí do Philippines chiếm đóng trong bãi Loại Ta. Nhưng bản đồ APMSS không cho thấy có tiền đồn nào tại đá An Nhơn mà lại định vị tiền đồn thứ hai của Philippines trong bãi Loại Ta tại một rạn san hô không xác định ở phía tây bắc của đảo Loại Ta. Một vài nguồn tin Trung Quốc và Việt Nam xác định thể địa lí này do Philippines chiếm như Loaita Nan. Tuy nhiên, tọa độ thường liên kết với Loại Ta Nam (10°42,5' N, 114°19,5' E) lại chỉ rạn san hô tạo thành rìa phía tây của bãi Loại Ta mà từ các hình ảnh vệ tinh của Google Maps không thấy có công trình kiến trúc nào ở đó. Đồng thời, các kiến trúc nhỏ có thể nhìn thấy trên Loại Ta Tây (10° 43,699' N, 114° 21,131' E), mà có thể được nghĩ như là một phần của Loai Ta Nam nhưng thực sự nằm phía đông qua một kênh sâu 7 mét. Loai Ta Tây cách đảo Loại Ta 5,5 hải lí về phía tây bắc.

Từ năm 1970 đến năm 1978, Philippines nhảy vào chiếm 7 thể địa lí ở quần đảo Trường Sa, với binh lính đóng quân trên 5 đảo. Đảo Bình Nguyên (Flat Island), nằm khoảng 6 nm phía bắc của đảo Vĩnh Viễn (Nanshan Island), hình như được kiểm soát bởi một đơn vị trú đóng tại căn cứ Vĩnh Viễn đến năm 2011, khi một số kiến trúc giống hình sao biển được xây dựng để đảm nhận việc hiện diện thường trực hơn. Một phim tài liệu được một mạng lưới truyền hình địa phương sản xuất năm 2004 cho biết rằng chỉ có 4 binh sĩ đang canh gác bảo vệ cả hai thể địa lí này từ nơi tạm trú của họ trên đảo Vĩnh Viễn. Một cách thức tương tự có vẻ cũng được áp dụng cho các thể địa lí trong bãi Loại Ta , với đảo Loại Ta  dùng như là căn cứ cho việc trú đóng cho đến khi có cơ sở được dựng trên Loại Ta Tây. Một số nguồn tin cho biết đá An Nhơn trước kia có một bãi biển hơn 5 héc ta, nhưng sóng lớn do một cơn bão mang tới đã quét sạch lớp cát trên mặt đảo chỉ còn phần nền calcarenite có thể nhìn thấy được khi triều thấp.

Ngày Philippines bắt đầu chiếm đóng đá Công Đo vẫn chưa rõ, quân đội Philippines đã đổ bộ lên rạn đá này vào tháng 8 năm 1980 và phá bỏ một bia chủ quyền do Malaysia dựng vài tháng trước đó, nhưng không rõ họ ở lại hay rời đi sau cuộc đổ bộ đó. Một báo cáo cho rằng họ bỏ đi từ năm 1986, nhưng hiện có một phân đội đang đóng ở đó.

Năm 1999, Philippines chiếm đóng Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal) bằng cách cho tàu chở tăng đổ bộ BRP Sierra Madre chạy càng lên bãi và sử dụng nó như một nơi trú ẩn cho một đơn vị nhỏ. Đáng chú ý là Lầu Năm Góc không tính trạm đóng quân của Philippines trên Bãi Cỏ Mây như một tiền đồn, mặc dù cách nhìn trái ngược vẫn phổ biến ở Philippines. Bãi cạn này này cũng chỉ là một bãi triều thấp trong số các thể địa lí do Philippines chiếm đóng. Tất cả 8 thể địa lí còn lại đều nhìn thấy ở trên mặt nước khi triều cao.

Đài Loan

Đảo Ba Bình (Itu Aba Island, tiếng Trung : 太平 島 Thái Bình đảo) là thể địa lí duy nhất do Đài Loan  chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa. Đó cũng là thể địa lí tự nhiên lớn nhất trong quần đảo này. Đài Loan đôi khi được cho là giữ 2 thể địa lí ở đó. Điều này có thể được suy ra từ các báo cáo về việc Đài Loan dựng các kiến trúc (năm 1995 và 2004) và các quan chức của họ đổ bộ lên bãi Ban Than (năm 2003 và năm 2012). Tuy nhiên, mô tả tốt nhất về tình trạng hiện tại của Bàn Than là “bỏ  trống”. Bàn Than có một bãi biển dài hơn 100 mét, nằm cách Ba Bình khoảng khoảng 2,5 hải lí và cách đảo Sơn Ca Do Việt Nam đang đóng khoảng 4 hải lí. Lầu Năm Góc xác định không có tiền đồn nào trên Bàn Than, và không nhì ra có kiến trúc nào trong các ảnh vệ tinh gần đây cũng như ảnh của các rạn đá này. Nguồn tin am tường tại chỗ cho tôi biết rằng binh lính  Đài Loan lẫn Việt Nam thỉnh thoảng dựng vật liệu trên Ban Than và sử dụng chúng như là các bia cho việc thực tập bắn đạn thật.

Trung Quốc

Ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc đã chiếm 6 thể địa lí từ năm 1988 và đá Vành Khăn (Mischief Reef) từ năm 1995. Bảy thể địa lí Trung Quốc chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa là:

1.      Đá Xu Bi (Subi Reef, tiếng Trung : 渚 碧 礁 Zhubi Jiao: Chữ Bích Tiêu),
2.      Đá Ga Ven (Gaven Reef, 南薰 礁 Nanxun Jiao: Nam Huân tiêu),
3.      Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef 东门 礁 Dongmen Jiao: Đông Môn tiêu),
4.      Đá  Gạc Ma (Johnson South Reef, 赤 瓜 礁 Chigua Jiao: Xích Qua tiêu),
5.      Đá Chữ Thập(Fiery Cross Reef, 永 暑 礁 Yongshu Jiao: Vĩnh Thử tiêu),
6.      Đá Châu Viên (Cuarteron Reef, 华阳 礁 Huayang Jiao: Hoa Dương tiêu),
7.      Đá  Vành Khăn (Mischief Reef, 美 济 礁 Meiji Jiao: Mĩ Tế tiêu).

Tháng năm 2015, khi Lầu Năm Góc cho biết Trung Quốc có 8 tiền đồn tại quần đảo Trường Sa, một số người nghĩ rằng tiền đồn thứ tám là đá Én Đất (Eldad Reef). Nhưng bản đồ APMSS phát hành ba tháng sau đó cho thấy chỉ trên Vành Khăn thôi đã có hai tiền đồn còn trên Én Đất không tiền đồn nào. Đây là một thực tế vốn thường bị bỏ qua.

Ngoài ra, một số tường thuật đã xác định nhầm một vài thể địa lí đã bị Trung Quốc chiếm đóng như đá Én Đất (Eldad Reef), đá Ba Đầu (Whitson Reef), đá  Lát( Ladd Reef), và đá Ken Nan (McKennan Reef). Ví dụ, hai bản đồ khá phổ biến của Reuters và AFP năm 2015 vẫn phản ánh các thông tin không chính xác về đá Én Đất và đá An Nhơn. Trạng thái không đúng của Én Đất, Ba Đầu, và Lát có khả năng được suy ra từ các tường thuật về việc Việt Nam phản đối việc quân đội Trung Quốc đổ bộ lên đá Én Đất năm 1990, đá Ba Đầu tháng 3 năm 1992 và đá Lạc tháng 7 năm 1992. Đá Ba Đầu được xác định là tên tiếng Việt của Whitson Reef, nhưng đá Lạc bị nhầm tưởng là đá Lát (Ladd Reef) vốn đã do Việt Nam thực tế chiếm giữ. Thật ra, đá Lạc là tên tiếng Việt cho Gaven South Reef (tiếngTrung: 小南薰礁 Xiǎo Nánxūn jiāo: tiểu Nam Huân tiêu), một bãi triều thấp độ cách đá Ga Ven 2 hải lí.

Bản đồ APMSS cho thấy không có tiền đồn của Trung Quốc đóng trên bất kì rạn đá khác, ngoại trừ 7 thể địa lí liệt kê ở trên. Một số báo cáo nêu nguồn tin tình báo Philippines hồi tháng 6 năm 2015 cáo buộc rằng Trung Quốc đã bồi tạo đất trên đá Én Đất. Tuy nhiên, các nguồn riêng biệt với hiểu biết tại chỗ sau đó xác nhận rằng Én Đất cũng như Ba Đầu, Ken Nan, và Ga Ven Nam vẫn chưa bị chiếm đóng.

Tuy nhiên, trạng thái chưa bị chiếm đóng của các thể địa lí này là mong manh. Cả đá Én Đất lẫn Ba Đầu đều có giá trị chiến lược. Chúng tạo thành rìa phía đông của hai nhóm đảo chính trong quần đảo Trường Sa - bãi Tizard và bãi Union. Chúng cũng đã dần dần “trở thành” đảo. Các sách Hướng dẫn lái tàu (Sailing Directions) đến giữa thập niện 1990 đều cho thấy rằng chúng là các bãi triều thấp. Nhưng ngày nay mỗi bãi có một đụn cát dài 100 mét được biết là còn đang phát triển cả về diện tích lẫn chiều cao. Một đụn cát nhỏ hơn cũng đã xuất hiện trên đá Ken Nan vốn thường bị nhầm lẫn với đá Tư Nghĩa (Hughes Reef) mà thật ra nằm cách 1 hải lí về phía tây. Có nhiều câu chuyện trên truyền thông xã hội Việt Nam cho rằng Én Đất, Ba Đầu, và Ken Nan thường xuyên là các vị trí cho trò mèo bắt chuột thầm lặng giữa Trung Quốc và Việt Nam, một bên cố tìm cách đặt chân vững chắc trên các ‘đảo mới’ này trong khi bên kia cố phá hỏng những nỗ lực đó.

Một tình huống tương tự đã xảy ra tại bãi cạn Luconia Nam (tiếng Malay: Beting Patinggi Ali) 84 hải lí ngoài khơi Sarawak của Malaysia. Các quan chức Trung Quốc lẫn Malaysia đều xác nhận rằng các tàu của Trung Quốc đã liên tục có mặt tại bãi cạn này kể từ năm 2013. Thú vị là một trong những thể địa lí trong bãi này, Luconia Breakers (Malay: Beting Hempasan Bantin), dường như đã thay đổi trạng thái từ một bãi triều thấp thành một “đảo nhỏ”, dùng từ của Bộ trưởng phủ Thủ tướng Malaysia Shahidan Kassim. Ảnh vệ tinh và không ảnh cho thấy một đụn cát dài khoảng 70 mét trên thể địa lí này. Các ảnh này cũng cho thấy các tàu Cảnh sát biển Trung Quốc, cùng các tàu Hải quân Malaysia bám theo đang neo đậu gần ‘đảo mới’ này.

Một vài học giả cho rằng Luconia Breakers đã được bồi đắp thành một đảo nhân tạo của Malaysia vào một lúc nào đó trước năm 2009. Tuy nhiên, lập luận này không thật hơp lí. Là nước ven biển với EEZ vượt khỏi bãi cạn này, Malaysia rất quan tâm giữ cho thể thể địa lí này vẫn chìm dưới nước. Một phán quyết của Tòa án Quốc tế năm 2012 nói rằng “bãi triều thấp không sở hữu được.” Theo phán quyết này, Luconia Breakers có thể bảo vệ tránh khỏi yêu sách chủ quyền của Trung Quốc một cách hợp pháp nếu nó vẫn còn là một bãi triều thấp.

Một số người đã chất vấn liệu một sự nâng cao nhanh chóng như vậy có thể đã thật sự xảy ra một cách tự nhiên trong một khoảng thời gian ngắn được không. Nhưng điều này là hầu như không phải hiếm xảy ra. Sự xuất hiện của những cồn cát nhỏ đã được ghi nhận trong vài thập kỉ qua tại một số rạn đá ở quần đảo Trường Sa, với Én Đất, Ba Đầu, Ken Nan, và Bàn Than là một vài ví dụ nổi bật. Với sự giúp sức của sóng gió, trầm tích san hô có thể hình thành các đụn cát lớn dần hoặc bị quét trôi đi - như trường hợp đá An Nhơn - mà không có bất kì chuyển động nào dưới nền đá ngầm.

Bằng chứng về thủy văn do Philippines trình bày tại Tòa Trọng tài Thường trực cho thấy rằng 3 trong số 7 thể địa lí mà Trung Quốc chiếm đóng, gồm đá Chữ Thập (Fiery Cross), Châu Viên (Cuarteron) và Gạc Ma (Johnson South), có một số phần nằm trên mặt nước khi triều cao, nhưng 4 thể địa lí khác, gồm Subi, Gaven, Tư Nghĩa, và Vành Khăn là bãi triều thấp trongtrạng thái tự nhiên ban đầu của chúng trước khi có chương trình bồi tạo đất cấp tập kể từ năm 2013 đã biến tất cả 7 thể địa lí này thành đảo nhân tạo.

Malaysia

Như trường hợp Philippines, số lượng các thể địa lí do Malaysia chiếm giữ tại quần đảo Trường Sa sẽ thay đổi tùy thuộc vào cách định nghĩa chiếm đóng. Hầu hết các tường thuật thường nói tới 5 hoặc 8 thể địa lí. Malaysia có quân đội và các cơ sở đóng trên 5 thể địa lí:

1.         Đá Hoa Lau (Swallow Reef, tiếng Malay: Layang-Layang), từ năm 1983,
2.         Đá Kiêu Ngựa (Ardasier Reef, Ubi), từ năm 1986,
3.         Đá Kì Vân (Mariveles Reef, Mantanani), từ năm 1986,
4.         Đá Én Ca (Erica Reef, Siput), từ năm 1999,
5.         Đá Thám Hiểm (Investigator Shoal, Peninjau), kể từ năm 1999.

Một số nguồn tin còn liệt kê thêm 3 thể địa lí như đã được Malaysia chiếm đóng, gồm đá Đá Lát (Dallas Reef, Laya), đá Sác Lốt (Royal Charlotte Reef, Semarang Barat Besar), và đá Louisa (Louisa Reef, Semarang Barat Kecil), . Tuy nhiên, nhiều nguồn tin am tường, đáng tin cậy gần đây từ Malaysia, Brunei, và Mỹ xác nhận rằng trên thực tế không có việc đóng quân trên 3 thể địa lí này.

Malaysia có vẻ “chiếm đóng” đá Dallas theo cách tương tự như cách mà Philippines đã làm với đảo Bình Nguyên. Binh lính từ đá Kiêu Ngựa gần bên, nằm cách Dallas khoảng 3 hải lí, có thể canh giữ và đi đến đá này một cách thường xuyên.Trái lại, đá Charlotte và Louisa gần như không thể phân loại là “ bị chiếm đóng”. Mặc dù có một ngọn đèn hiệu trên Charlotte, du khách cho biết rằng nó không hoạt động và không có kiến trúc nào khác trên rạn đá này. Du khách cũng thấy Louisa bỏ trống và không có kiến trúc nào khác hơn là một ngọn đèn hiệu hình tháp, cũng không có hoạt động. Trong số 8 thể địa lí này thì Hoa Lau, Kì Vân, Én Ca, Charlotte, và Louisa được biết có một số phần tự nhiên nhô lên khi triều cao, trong khi Kiêu Ngựa, Dallas, và Thám Hiểm có khả năng chỉ là các bãi triều thấp. Các đèn hiệu trên Charlotte và Louisa có thể đã được Malaysia xây dựng trong thập niên 1980 như một phương cách để khẳng định chủ quyền đối với hai rạn đá này.

Brunei

Thể địa lí duy nhất ở quần đảo Trường Sa mà Brunei yêu sách là đá Louisa. Theo báo cáo chính thức của Malaysia và Brunei, Thư trao đổi (Exchange of Letters ) kí vào năm 2009 đã “thiết lập sự phân định cuối cùng về lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế” giữa hai nước. Thỏa thuận này nêu rõ rằng Brunei có chủ quyền trên hai lô dầu khí mà Louisa nằm trên đó.

Mặc dù Malaysia vẫn chưa chính thức từ bỏ yêu sách của mình đối với thể địa lí này, thỏa thuận với Brunei làm suy yếu đáng kể yêu sách của Malaysia. Vì Malaysia lẫn Brunei đều dựa trên cơ sở quyền quốc gia ven biển cho tuyên bố chủ quyền của họ đối với Louisa, việc Malaysia thừa nhận lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Brunei tương đương với việc nhượng Louisa cho Brunei. Tuy nhiên, điều này có vẻ là một sự hiểu ngầm chứ không phải là một thỏa thuận chính thức thuộc bất kì dạng nào. Thư trao đổi vẫn chưa được công bố, và thậm chí nếu nó được công bố, có nhiều khả năng sẽ không có đề cập tới Louisa. Điều này chắc chắn giống như vụ Khu Limbang, một tranh chấp lãnh thổ khác giữa Brunei và Malaysia.

Với tất cả sự chú ý tập trung vào các tranh chấp ở biển Đông, vẫn chưa có đủ sự rõ ràng về một số thực tế cơ bản như nước nào sở hữu cái gì. Như Bill Hayton đã cho thấy, rất nhiều sách báo dựa vào các tài liệu lịch sử vốn “sử dụng các căn cứ không đáng tin cậy để từ đó lại viết ra các câu chuyện đáng tin.” Hy vọng rằng bài viết này là một bước đi đúng hướng trong việc dỡ bỏ tấm màn dày thường che khuất sự thật về những tranh chấp này.



Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương Daniel K.Inouye. Quan điểm thể hiện trong bài viết này là của riêng tác giả, không phản ánh quan điểm của Chính phủ Hoa Kì, Bộ Quốc phòng Hoa Kì, và Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương.