Showing posts with label Obama. Show all posts
Showing posts with label Obama. Show all posts

Saturday, December 10, 2016

Thời kì đen tối cho nền Dân chủ châu Âu?

Thời kì đen tối cho nền Dân chủ châu Âu?

(A Dark Age for European Democracy?)

Trung tâm Chính trị này sẽ hành xử ra sao vào năm 2017

R. Daniel Kelemen
FA (7/12/2016)

Ngày 17 tháng 11, Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Mỹ Barack Obama công bố một bài báo trong tạp chí WirtschaftsWoche (Tuần Kinh tế) Đức, phác thảo những cam kết chung của hai nước với các giá trị về tự do cá nhân, dân chủ, và nền pháp trị (rules of law); phòng vệ tập thể thông qua liên minh NATO; và hợp tác quốc tế về các vấn đề từ chính sách tị nạn đến giảm thiểu biến đổi khí hậu. Luận đề này của họ đóng vai trò như là một nhắc nhở về các giá trị vốn là trung tâm của liên minh dân chủ tự do xuyên Đại Tây Dương trong nhiều thập niên.

Trong những tháng gần đây, phe dân tộc và dân tuý đã thách thức những giá trị đó ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Hồi tháng 6, việc Vương quốc Anh bỏ phiếu rời khỏi Liên minh châu Âu đã cho phe dân tuý thắng lợi lớn đầu tiên trong năm. Sau đó, vào tháng rồi, việc Donald J. Trump được bầu làm  tổng thống Mỹ đã đặt một ứng cử viên thể hiện thái độ khinh thị các giá trị dân chủ như là tự do báo chí, độc lập về tư pháp, và nền pháp trị vào chức vụ quyền lực nhất thế giới. Tại châu Âu, các chính trị gia cực hữu và độc đoán từ Budapest đến Moscow tung hô chiến thắng của Trump; lãnh đạo đang cầm quyền các nước phản ứng với sự sửng sốt. Nền dân chủ tự do phương Tây, có vẻ thăng cao vào cuối thời Chiến tranh Lạnh, bây giờ dường như bị đe dọa từ mọi phía. Thời gian này là những ngày đặc biệt tối tăm cho nền dân chủ châu Âu.

Không ai có thể biết chính xác Trump sẽ cai trị như thế nào hoặc chính sách đối ngoại mà ông sẽ theo đuổi là gì. Nhưng một số các tác động mà chức vụ tổng thống của ông sẽ có lên châu Âu và liên minh xuyên Đại Tây Dương thì đã rõ ràng. Chiến thắng của Trump sẽ không đẩy các chính trị gia cánh hữu lên cầm quyền, nhưng nó có thể củng cố sự tự tin của họ khi họ thách thức các nhàchính trị gia đang cầm quyền. Đối với những kẻ dân tuý đang nắm quyền, như Thủ tướng Hungary Viktor Orban và Jaroslaw Kaczynski, đứng đầu đảng quản trị Luật pháp và Công lí Ba Lan (Poland's governing Law and Justice -PiS) cũng là nhà lãnh đạo trên thực tế của nước này, chính quyền Trump có thể là một người bạn thân cận của họ.

Các phát biểu trong chiến dịch tranh cử của tổng thống mới đắc cử gợi ra rằng ông sẽ đòi hỏi các nước châu Âu chi cho quốc phòng của họ nhiều hơn. Đó là một lập trường hợp lí, nhưng Trump có thể làm hỏng các lợi ích của bất kì việc tăng chi tiêu quốc phòng nào của châu Âu qua việc phá hoại uy tín của liên minh NATO. Về phần EU, với vai trò là một tổ chức siêu quốc gia nhằm thúc đẩy thỏa thuận thương mại đa phương, di chuyển tự do, quy định về môi trường và luật pháp quốc tế, nó bao hàm phần lớn những gì mà Trump đã lớn tiếng chống đối. Không có gì ngạc nhiên ngay sau cuộc trưng cầu ý dân tháng 6 của Vương quốc Anh, Trump đã lên Twitter để tuyên bố mình là "Mr Brexit", và từ đó đã có mối quan hệ bạn bè rõ ràng với Nigel Farage, cựu lãnh đạo quốc Đảng Độc lập Vương quốc Anh (United Kingdom Independence).

Laszlo Balogh / REUTERS Hungary Thủ tướng Viktor Orban phát biểu ở Budapest, tháng 10 năm 2016.

PHE TRUNG DUNG NẮM GIỮ?

Các phép thử mới nhất cho giới chính trị cầm quyền của châu Âu xảy ra ở Áo và Italy vào tháng 4. Trong cuộc bầu cử tổng thống của Áo, Alexander Van der Bellen, một cựu lãnh đạo ủng hộ châu Âu của đảng Greens (Xanh), đánh bại Norbert Hofer, ứng cử viên Euroskeptic (hoài nghi/bài bác EU) của đảng Tự do Áo cánh hữu, chống di dân. Nhưng sự nhẹ nhõm mà chiến thắng của Van der Bellen của khiêu gợi các nhà lãnh đạo dòng chính châu Âu không kéo dài: sau ngày hôm đó, các cử tri Ý đã giáng một đòn mạnh vào giới đang cầm quyền nước mình bằng cách bác bỏ một cuộc trưng cầu về cải cách hiến pháp mà thủ tướng trung tả Matteo Renzi thực tế đã đưa vào thành một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm đối với sự lãnh đạo của ông. Renzi từ chức, dìm Italia vào một thời kì bất ổn chính trị tại một thời điểm khi nó phải đối mặt với áp lực chồng chất lên hệ thống ngân hàng và nợ quốc gia, cuộc khủng hoảng di dân, và nhóm dân túy của chính nước này tăng mạnh, Phong trào Năm Sao.

Năm tới, các cuộc bầu cử quốc gia ở Pháp, Đức và Hà Lan sẽ kiểm nghiệm xem phe ôn hòa có thể nắm giữ được vị thế chống lại các lực lượng cực hữu như họ đã làm ở Áo hay không. Đầu tiên, vào tháng 3, cử tri Hà Lan sẽ đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử quốc hội. Geert Wilders cuồng nhiệt chống đạo Hồi và Đảng Tự do cực hữu của ông có thể sẽ so kè ngang ngửa với Thủ tướng đương nhiệm Mark Rutte và Đảng Nhân dân trung hữu của ông. Sau đó, vào tháng 4 và tháng 5, Pháp sẽ bầu ra một tổng thống mới sau hai vòng bỏ phiếu. Marine Le Pen, lãnh đạo của đảng Mặt trận Quốc gia (National Front ) cực hữu, có lẽ sẽ nổi lên như một trong hai ứng cử viên hàng đầu ở vòng đầu, có nhiều khả năng sẽ đưa bà lên đấu với Đảng Cộng hòa trung hữu của Francois Fillon ở vòng cuối. Cuối cùng, vào tháng 9, Đức sẽ tổ chức bầu cử quốc hội. Angela Merkel đang tìm kiếm một nhiệm kì thủ tướng thứ tư và phải đối mặt với khả năng lần đầu tiên trong lịch sử sau chiến tranh của nước này, một đảng cực hữu – the Alternative for Germany (Giải pháp thay thế cho Đức)– sẽ vào quốc hội liên bang.

Chiến thắng của Trump đã làm hi vọng của các lực lượng dân túy ở Pháp, Đức và Hà Lan mạnh lên, nhưng trong từng trường hợp, phe trung dung có thể sẽ nắm giữ vị thế. Trong hệ thống đảng phái phân mảnh của Hà Lan, sẽ cần phải liên minh mới nắm được quyền, và vì có nhiều khả năng những đảng dòng chính sẽ tránh xa Wilders, Rutte sẽ có khả năng sẽ trở lại làm người đứng đầu một chính phủ đa đảng mới. Ở Pháp, có một cơ hội thực sự để Le Pen chiến thắng, nhưng rất có thể là phe trung dung sẽ chặn bà lại bằng cách thống nhất xung quanh đối thủ của mình ở vòng bỏ phiếu thứ hai. Tại Đức, bà Merkel đang được mức ủng hộ cao. Vì cuộc khủng hoảng di cư hiện giờ đang trong vòng kiểm soát và vì bà đã có một số nhượng bộ đối với những kẻ chỉ trích từ cánh phải, Thủ tướng có thể sẽ giành được một nhiệm kì nữa. Các cuộc bầu cử năm 2017 có thể tạo ra một sự dịch chuyển trong phe trung dung châu Âu sang phía hữu, nhưng ở các nước EU hùng mạnh nhất, các chính phủ hết lòng đi với dân chủ tự do dường như có khả năng vẫn sẽ nắm quyền.

Mặc dù Trump không thể đẩy các nhà chính trị dân túy vào vị trí cầm quyền, ông có thể hậu thuẫn những người đã nắm quyền. Trump đã mời nhà độc tài Orban—người mà chính quyền của Tổng thống Hoa Kì Barack Obama cố tránh xa trong 5 năm qua, đến thăm ông tại Washington. Trong một cuộc phỏng vấn ngày 01 tháng 12 với truyền thông Hungary, Jeffrey D. Gordon, cố vấn chiến dịch tranh cử  của Trump, tuyên bố rằng phe ông xem Orban là "một nhà lãnh đạo vĩ đại, một trong những nhà lãnh đạo tốt nhất trên thế giới." Các nhà lãnh đạo của chính phủ PiS của Ba Lan, hiện đang làm việc tiếm quyền vi hiến Tòa án Hiến pháp của nước này và phải đối mặt với mối đe dọa bị EU trừng phạt, có thể mong đợi cũng được Trump ôm lấy. Trong chiến dịch này, Trump nhiều lần ca ngợi các nhà lãnh đạo độc đoán và tỏ rõ rằng ông không coi việc thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ở nước ngoài như là một vai trò của Hoa Kì. Việc Trump cởi mở với Orban gợi ra rằng ông sẽ thận thiện với các nhà lãnh đạo châu Âu có xu hướng chuyên quyền thay vì gây áp lực buộc họ phải tôn trọng các chuẩn mực dân chủ, như chính quyền Obama đã làm.

Về NATO, trong cuộc điện đàm ngày 29 tháng 11 với Thủ tướng Anh Theresa May, Trump nhấn mạnh tầm quan trọng của NATO cho cả Vương quốc Anh và Hoa Kì. Dù khó có khả năng Trump dỡ bỏ liên minh này, song ông đã gây thiệt hại lâu dài cho nó. Điều 5 của NATO về bảo đảm bảo vệ lẫn nhau có ý tác động như một cách răn đe, đảm bảo kẻ thù tiềm năng rằng việc tấn công một thành viên NATO sẽ kích hoạt một phản ứng của toàn khối. Nhưng Trump đã làm suy yếu nghiêm trọng đảm bảo này qua việc gợi ý rằng Hoa Kì sẽ chỉ bảo vệ quốc gia NATO nào cam đoan sẽ chi ít nhất 2% tổng sản phẩm trong nước cho quốc phòng. Và với việc đưa tín hiệu rằng ông muốn tìm kiếm các mối quan hệ ấm áp hơn với Tổng thống Nga Vladimir Putin, ông đã tiếp tục làm suy yếu niềm tin các đồng minh NATO rằng Hoa Kì sẽ đến giúp họ trong trường hợp bị Nga tấn công.

Supporters of the Alternative for Germany (AFD) celebrate on during a state election in Stuttgart, Germany, March 2016.
Những người ủng hộ đảng Giải pháp thay thế cho Đức (AFD) ăn mừng trong một cuộc bầu cử bang ở Stuttgart, Đức, March 2016. MICHAEL DALDER / REUTERS

PHÉP THỬ SỰ THỐNG NHẤT

Tháng 3, Liên minh châu Âu sẽ tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 60 Hiệp ước Rome thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu, tiền thân của EU. Kể từ khi EU thành lập, các tổng thống Mỹ thuộc cả hai đảng đều ủng hộ việc hội nhập của châu Âu. Obama đã nhiều lần nhấn mạnh rằng sự thống nhất châu Âu là một lợi ích chiến lược của Hoa Kì và, như ông nêu nó ra trong chuyến thăm Hi Lạp vào tháng 11 rằng việc hội nhập của châu Âu là "một trong những thành tựu chính trị và kinh tế vĩ đại của lịch sử loài người." Các nhà lãnh đạo EU đừng trông mong có một sự khích lệ như thế ở Trump.

Ngược lại, các nhà lãnh đạo châu Âu cần phải chuẩn bị để xem Trump cố chia rẽ liên minh của họ và làm họ đối đầu lẫn nhau. EU thường cổ vũ các giá trị và chính sách-tự do như hiệp ước môi trường, nhân quyền, và thương mại đa phương –là những thứ Trump phản đối. Một châu Âu mạnh, đoàn kết hợp tác phát huy các giá trị tự do như thế trên toàn cầu sẽ xung đột với các chương trình chính sách của Trump. Nói chung, hội nhập của châu Âu thuộc loại "toàn cầu hóa" mà Trump và các kẻ dân tuý khác chống đối gay gắt. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Trump cổ cũ cho Brexit, tìm đến Orban và các nhà chính trị Euroskeptic khác, và kêu gọi có quan hệ ấm áp hơn với Nga ngay cả khi Putin đe dọa an ninh châu Âu và tìm cách chia rẽ EU. Các nhà lãnh đạo châu Âu cần chuẩn bị đón nhận nhiều điều như vậy từ chính phủ sắp lên này.

Thời đại Trump sẽ bày ra một phép thử sâu sắc sự đoàn kết cho liên minh đang bê bết của châu Âu. Khi châu Âu đối mặt với các cuộc đàm phán về Brexit, cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro tại Ý có khả năng dấy lại, cuộc khủng hoảng người tị nạn kéo dài, sự gây hấn của Nga trên sườn phía đông của nó, và sự trỗi dậy của chế độ chuyên chế ở một số quốc gia thành viên EU, nó cũng sẽ phải đối phó với một Tổng thống Mỹ có thể làm nhiều thứ hơn nữa gây cản trở hơn là khuyến khích sự hợp tác châu Âu. Merkel chắc chắn có thể đóng một vai trò lãnh đạo quan trọng trong bối cảnh mới này. Nhưng bà đã đúng khi mới đây nhấn mạnh rằng "không một cá nhân đơn lẻ, kể cả có kinh nghiệm nhất, có thể sửa chữa những thứ quanh thế giới."

Chiến thắng của Van der Bellen ở Áo và sự ủng hộ của công chúng đối với EU tăng lên kể từ cuộc bỏ phiếu Brexit đã cho một số hi vọng rằng trật tự dân chủ tự do của châu Âu có thể sống sót qua cuộc khủng hoảng mà nó đang phải đối mặt hiện nay. Nhưng nếu các nhà lãnh đạo châu Âu muốn liên minh của họ sống sót qua thời kì đen tối này đối với nền dân chủ, họ phải đưa ra cho công dân thấy một tầm nhìn tích cực cho tương lai của dự án tập thể của họ và tăng gấp đôi quyết tâm của họ với nó. Trên hết, họ phải tìm cách vực dậy nền kinh tế đang chao đảo của châu Âu, rời xa nỗi ám ảnh với thắt lưng buộc bụng để tập trung vào việc phục hồi tăng trưởng. Họ phải tìm cách nắm vững và giải quyết một cách hiệu quả hơn cuộc khủng hoảng di dân, mở rộng các sáng kiến gần đây để bảo đảm an toàn biên giới bên ngoài của châu Âu trong khi trợ giúp nhiều hơn cho những nước phải chịu gánh nặng người tị nạn lớn nhất. Họ cần tăng cường hợp tác quốc phòng để cho các công dân thấy các cơ quan châu Âu có thể giúp bảo vệ họ chống lại các mối đe dọa chung như thế nào. Và các nhà lãnh đạo EU phải dũng cảm đối đầu phe dân tuý Euroskeptic ngay giữa họ, bảo vệ các giá trị dân chủ mà liên minh được xây dựng trên đó.

Saturday, June 25, 2016

Bốn bài học lịch sử khi chiến tranh Trung-Việt xảy ra

Khi Trung Quốc và Việt Nam đánh nhau: Bốn bài học Lịch sử

(When China and Vietnam Went to War: Four Lessons for History)

Image: “A Romanian T-55 Tank sends a blast downrange as it takes part in a live-fire exercise during Platinum Lynx 16-4 aboard Babadag Training Area, Romania, April 21, 2016. The purpose behind Platinum Lynx is to improve readiness and increase Marines’ ability to work seamlessly with other NATO and partner nations around the world. (U.S. Marine Corps photo by Cpl. Immanuel M. Johnson/Released).”
Ảnh: "Một xe tăng T-55 Rumani phát ra luồng lửa khi tham gia một cuộc tập trận bắn đạn thật trong Platinum Lynx 16-4 ở khu vực huấn luyện Babadag, Romania, ngày 21 tháng 4 năm 2016. Mục đích phía sau Platinum Lynx là cải thiện sự sẵn sàng và tăng cường khả năng làm việc liên tục với các nước NATO và các nước đối tác khác trên thế giới (Thủy quân lục chiến Mĩ của Cpl. Immanuel M. Johnson). "

Bắc Kinh và Hà Nội đã từng bất hoà với nhau trước đây.

Matthew Pennekamp
Natonal Interest (21/05/ 2016)

(bản dịch đã đăng trên AnhBaSam ngày 25/6/2016)


Trong chuyến đi vòng quanh tới Đông và Đông Nam Á gần đây của Tổng thống Barack Obama vào tháng trước, trong một cuộc họp báo chung với ông Trần Đại Quang, chủ tịch nước Việt Nam ông [Obama] thông báo rằng lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam đã được dỡ bỏ. Mặc dù cho đến nay  Nhà Trắng vẫn trấn an những nhà quan sát nhân quyền rằng bất kì sự bãi bỏ chính sách nào thời chiến tranh lạnh này sẽ ràng buộc trực tiếp vào hồ sơ cải thiện về các vấn đề tự do về ý thức của Hà Nội (phải thừa nhận là mô tả của Obama là "khiêm tốn"), cái rốt cuộc đến cho thấy là quan trọng hơn trong con mắt của giới quan chức Washington là điều mà Harold Macmillan có lần miêu tả như là yếu tố quyết định chính trong chính trị: "sự kiện, bạn quý ơi, sự kiện!"

Đối với Obama, sự kiện quan trọng nhất trong đầu là tiềm năng đáng sợ đối với một sự rỗng ruột của công cuộc chuyển trục sang châu Á đầy tham vọng mà ông đã khai sinh bảy năm rưỡi trước đây. Trong khi tổng thống đã cho phép chú tâm trong chính sách đối ngoại của mình bị phân tán bởi cơn xoáy Trung Đông cũng như một nước Nga có đầu óc phục hồi lãnh thổ cũ, thật sự không phải lỗi về ông hoàn toàn; cả hai ứng cử viên tổng thống đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa đã chẳng làm gì để xoa nắn lợi ích vùng Vành đai Thái Bình Dương. Mặc dù phần lớn ngôn ngữ của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được thảo ra và đàm phán ở Bộ Ngoại giao thời Ngoại trưởng Hillary Clinton, ứng viên Clinton, cảm nhận một cơn gió mạnh nổi lên từ cánh trái, đã xoay mạnh lái chiến dịch vận động tranh cử của mình về phía cảng, đương đầu với luồng gió "Cách mạng" của  Bernie Sanders. Bà đã sống sót sau cơn bão, nhưng khả năng đảo trở lại về một vị thể ủng hộ TPP là không trên thực tế—nói theo cách của Winston Churchill, một thủ tướng Anh khác, các nhà chính trị có thể dễ dàng phản bội; chính sự phản bội lần nữa càng trở nên tệ hại hơn. Và tất nhiên, lời to tiếng của Donald Trump liên quan tới các đồng minh Nhật Bản và Hàn Quốc đã gây ra sự rúng động chung của nó.

Tuy nhiên, đối với Việt Nam, "sự kiện" không phải chỉ thoáng qua vì sự mất tin cậy với láng giềng phương bắc đã chồng chất đời đời kiếp kiếp. Cuộc xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam có ghi chép đầu tiên xảy ra vào thế kỉ thứ hai trước Công nguyên, khi Tần Thủy Hoàng mở rộng Trung Quốc mới thống nhất tới các dải đất miền bắc Việt Nam. Tình trạng này, với việc Trung Quốc thực hiện ít nhiều quyền bá chủ trên vương quốc phiên thuộc Việt Nam, kéo dài cho đến năm 1884 khi người Pháp trở thành những ông chủ thực dân mới ở Đông Nam Á. Chính mong muốn tối hậu của Washington trong việc củng cố địa vị của Pháp tại Việt Nam mà trên thực tế đã dẫn đến sự can dự đầu tiên của Mĩ dưới thời Tổng thống Truman. Tuy nhiên, suốt toàn bộ thời gian, Hồ Chí Minh giữ trong đầu ai mới là kẻ thù đáng lo ngại hơn, qua việc thật sự cộng tác với Pháp để đẩy quân Quốc dân Đảng Trung Quốc ra khỏi miền bắc Việt Nam sau Thế chiến thứ II.

Năm 1979, mười năm sau khi Hồ Chí Minh mất, nghi ngờ của ông đã được kiểm nghiệm, với hai trăm ngàn quân Trung Quốc tụ tập trên biên giới phía Bắc của Việt Nam sẵn sàng tiến sang xâm lược. Thất bại của họ tạo ra một vết lõm sâu rộng trong chiến thuật du kích vốn đã phục vụ Việt Nam rất tốt chống lại Pháp và Mĩ là một điểm then chốt hiển nhiên cần nắm. Nhưng trong lĩnh vực lịch sử rộng lớn hơn có những bài học sâu xa hơn cần được lượm lặt Dưới đây là bốn bài học khác:

1. Việc Mĩ can dự vào Việt Nam được đặt nền móng trên một tiền đề sai, và Chiến tranh Trung-Việt đã cho thấy điều đó.

Kể từ khi Tổng thống Eisenhower sử dụng cách ví von về sự đổ nhào dây chuyền của các con cờ Domino để giải thích mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản tới các quốc gia Đông Nam Á sau chiến thắng năm1949 của Mao trong cuộc nội chiến Trung Quốc, khái niệm này phục vụ như là một nền tảng tri thức chiếm ưu thế quyết định chính sách chiến tranh lạnh của Mĩ. Thuyết này đòi hỏi bước tiến của chủ nghĩa cộng sản trên các nẽo đường của nó phải được chặn lại, vì các quốc gia đã chuyển thành đỏ sát cánh đi với nhau và đã gạt bỏ các bất bình trong lịch sử để cùng theo đuổi mục tiêu chung là truyền bá tư tưởng Mác-xít. Đó là logic dẫn dắt các nhà hoạch định chính sách Washington bảo vệ miền Nam Việt Nam trong gần hai thập kỉ. Nhưng việc xem mối đe dọa cộng sản vững như một hòn đá tảng đáng lẽ có thể đã được ngăn chặn ít ra là vào cuối thập niên 1950 khi những tin đồn về sự chia rẽ Trung-Xô đã bắt đầu xuất hiện (trớ trêu thay, các cựu giới chức Bộ Ngoại giao duy nhất có khả năng phân tích một sự phát triển như vậy, nhóm China Hands huyền thoại [nhóm chuyên gia về TQ], lại nhìn thấy sự nghiệp của họ bị việc hù doạ của McCarthy ngăn lại). Trong việc chơi trò mở cửa cho Trung Quốc năm 1972 bên ngoài việc theo đuổi hòa hoãn với Liên Xô thời Brezhnev, bộ đôi Nixon / Kissinger đã đưa ra tín hiệu đánh giá cao các rạn nứt trong nội bộ Cộng sản.

Chính cuộc chiến tranh Trung-Việt đã làm cho các rạn nứt đó tỏ rõ cho mọi người đều thấy. Năm 1978, Việt Nam, mệt mỏi về sự bất ổn trên biên giới Campuchia / Việt Nam do chính quyền Khmer Đỏ cầm quyền từ năm 1975 gây ra, đã phát động một cuộc tấn công vào Campuchia và chiếm lấy Phnom Penh. Tuy nhiên, trong ván bài cạnh tranh lớn Moscow / Bắc Kinh, điều này được diễn giải (một cách chính xác) là một quốc gia liên kết với Moscow gây chiến với một quốc gia liên minh với Bắc Kinh. Trong một màn luân vũ chầm phần nào gợi nhớ đến tháng 8 năm 1914 [thời gian khở đầu thế chiến thứ nhất], Trung Quốc, không thể cho phép sự sỉ nhục này được bỏ qua không lời đáp trả cho đồng minh của mình, đã can thiệp chống lại Việt Nam, dàn dựng cuộc xâm lược dẫn đến chiến tranh Trung-Việt. Cũng thú vị khi lưu ý là trước khi tỏ rõ Việt Nam sẽ tự mình chống lại quân đội Trung Quốc, Liên Xô đã cung cấp trang thiết bị quân sự cho Hà Nội và đã phái tàu hải quân yểm trợ đến biển Đông để trợ giúp cho việc thu thập tin tức.

2. Hãy coi chừng một nhà lãnh đạo mới cần chứng tỏ sức mạnh của mình. Ông ta có thể chỉ tấn công ra ngoài.

Vào năm 1979, nhà lãnh đạo nhỏ thó Đặng Tiểu Bình mới xác lập được quyền lực, thấy được mối đe dọa thù dịch do bè lũ 4 tên cuồng Mao (do Giang Thanh, vợ thứ tư của Mao cầm đầu) đặt ra. Đặng có ý cho cách lãnh đạo của mình phá vỡ và tách biệt với cách chính thống của Mao. Tuy nhiên, các bước đi chệnh choạng về phía tự do hóa kinh tế vốn xác định kinh nghiệm của Trung Quốc sau thập niên 1980 không thể xảy ra nếu trước hết Đặng không củng cố quyền lực và chứng tỏ khả năng lãnh đạo của mình (khái niệm về Thiên mệnh đế vương xưa cũ, dù không còn chính thức, vẫn chưa bao giờ thật sự thoát ra khỏi đầu óc của người Trung Quốc). Không ngạc nhiên là việc tiến hành cuộc chiến tranh chống lại một kẻ thù lịch sử lâu dài là cách chắc chắn nhất để đạt được cả hai điều đó.

Ngoài ra, đối với một nhà lãnh đạo Trung Quốc, để thăng lên vị trí lãnh đạo tối cao, quyền lực của ông ta phải dựa trên một ba trụ cột hiệu quả: điều khiển nhà nước, điều khiển Đảng Cộng sản, và điều khiển quân đội. Trong việc lựa chọn chỗ nào—và quan trọng lúc nào—để đánh như ông đã làm, Đặng Tiểu Bình có thể mua thời gian quý báu cho mình trong năm đầu tiên nắm quyền để củng cố quyền lực của chính mình ở Bắc Kinh, trong khi quân đội Trung Quốc bị quá phân tâm bởi một chiến dịch sôi động với nhiều trở ngại phải vượt qua.

3. Dân thiểu số như một cái cớ có sẵn.

Cho dù đó là việc Hitler khăng khăng cho rằng người Đức Sudeten đã bị gạt ra bên lề ở Tiệp Khắc, là việc Putin tin vào vai trò của Nga là kẻ bảo vệ người sắc tộc Nga bên ngoài biên giới của mình, là việc Milosevic và Tudman xẻ chia Bosnia nhân danh dân tộc Serbia và Croatia hay, là việc phương Tây quả thật đã trợ giúp cho những người Hồi giáo Bosnia và  Albania trong cùng cuộc xung đột đó, thì việc sử dụng dân thiểu số được cho là bị đối xử tệ hai như một cái cớ gây chiến (casus belli) là một chiến thuật thăm dò và kiểm nghiệm. Điều này cho thấy là đúng trong trường hợp chiến tranh Trung-Việt, với Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử tệ hại dân số người Hoa tại Việt Nam Giống như nhiều trường hợp nại lí do này, sự đối xử tệ hại thực tế đã bị phóng đại; quả thật, những nhân viên kích động từ đại sứ quán Trung Quốc đã dựa vào việc đàn áp người Hoa để ca bài chống Liên Xô (và với cuộc cờ về sự chia rẽ Trung-Xô trong đầu, cũng ngầm chống Việt Nam). Cũng không phải việc đối xử của Hà Nội có tính trừng phạt—nó tập trung vào việc cố gắng đồng hóa họ sâu đậm hơn vào văn hóa Việt. Những nỗi đau khổ người Hoa gánh chịu, trong chừng mức chúng tồn tại, chí là một cái cớ.

4. Xác định lại mục tiêu nếu mục tiêu ban đầu không còn được việc.

Hầu hết các cơ quan chính sách ngoại giao Washington đều biết trò xảo thuật khi thấy nó. Vào tháng 8 năm 2012, khi Barack Obama công bố rằng việc triển khai và sử dụng vũ khí hóa học của lực lượng Syria vẫn còn trung thành với Bashar al-Assad tạo thành việc vượt quá "lằn ranh đỏ", cụm từ này mơ hồ một cách thích hợp để sau này tổng thống thêm vào lời giải thích chính xác về điều gì sẽ xảy ra nếu lằn ranh bị vượt— dù hầu hết (kể cả Obama, theo nghiên cứu của Jeffrey Goldberg về việc ra quyết định của tổng thống) đều cho rằng nó sẽ dính dáng đến các cuộc không kích. Khi điều đó được cho thấy là không khả thi về mặt chính trị, John Kerry, khi nhận câu hỏi của phóng viên về việc liệu việc tướt lấy kho vũ khí hoá học hiện có của Assad với sự trợ giúp của Nga là hoàn thành hành động cần phải có do đã vẽ lằn ranh đỏ ngay lúc đầu, bất ngờ thấy mình không đúng. Điều này trong chính sách đối ngoại là tương đương với việc dời khung thành rồi tuyên bố thắng.

Trung Quốc đã từng sử dụng trò này khi họ phát hiện ra đối thủ Việt Nam của họ là khó trị như thế nào. Với hai trăm nghìn quân dành cho hành động phiêu lưu đó, nửa triệu được huy động thêm, và chính bản thân Đặng cũng tìm kiếm sự đảm bảo của Jimmy Carter rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào cuộc chiến tranh sắp tới, có dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh có nhiều mục tiêu tham vọng hơn rất nhiều trong đầu. Việc Trung Quốc thừa nhận rằng họ can thiệp để giúp đồng minh Campuchia khiến người ta tin rằng họ có ý định đánh cho đến khi có tiến bộ thấy được trên mặt trận Campuchia. Tuy nhiên, ba tuần sau đó, khi đã xác định được rằng Việt Nam sẽ không rời bỏ Hà Nội hay chuyển bất kì lực lượng nào từ Campuchia về để chống lại mối đe doạ ở phía Bắc, Bắc Kinh bắt đầu rào đón bằng cách nói rằng việc chứng minh Liên Xô không có khả năng bảo vệ đồng minh tự nó đã là một thắng lợi.

Với căng thẳng đang tăng lên ở Biển Đông và Hoa Kỳ rút lại lệnh hạn chế vũ khí, Chiến tranh Trung-Việt đáng được xem xét lần nữa.

Matthew Pennekamp là một nhà nghiên cứu cơ sở thường trú tại Center For the Nationl Interst (Trung tâm vì lợi ích quốc gia).

Wednesday, May 18, 2016

Việt Nam qua góc nhìn của người Mĩ

Việt Nam qua góc nhìn của người Mĩ


(Vietnam in American Perspective)
(Bài này viết riêng cho trang Ba Sàm và đã dăng trên adminbasam ngày 18/05/2016)
Tác giả: David Brown
H1

Trong nhiều năm qua, tôi đã bình luận về các sự kiện ở Việt Nam và xung quanh, nhằm cung cấp cho người Mĩ và người nước khác một cái nhìn đầy đủ hơn và có thể chính xác hơn về một quốc gia mà, nói một cách tương đối, tôi biết khá rõ. Hầu hết các bài viết của tôi đều có bản dịch đăng trên trang Ba Sàm.

Tôi đã chỉ trích chế độ Hà Nội về những thiếu sót khác nhau. Đôi khi, độc giả lại chỉ ra rằng nền kinh tế Mĩ và hệ thống dân chủ của Mĩ cũng chẳng hoạt động tốt lắm trong thời gian gần đây. Họ cho rằng những người sống trong nhà kính thì đừng nên ném đá (đừng phê phán kẻ khác khi mình cũng chẳng hơn gì). Cho tôi xin được thanh minh rằng, tôi phê phán đủ mọi phía. Tôi cũng thường có vấn đề với chế độ ở Washington.
Nhiều người Việt Nam nhìn sang Hoa Kì để tìm kiếm sự ủng hộ trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc của Việt Nam. Việt Nam có thể yêu cầu điều gì từ Mĩ? Và xác suất Mĩ sẽ đáp ứng là bao nhiêu? Với chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama chỉ còn khoảng một tuần nữa, bây giờ có vẻ là thời điểm tốt để nhìn kĩ nước Mĩ trong bối cảnh cụ thể của mối quan hệ đang phát triển với Việt Nam.
Các ý kiến dưới đây là của riêng tôi. Tôi không phát biểu cho chủ cũ của tôi, chính phủ Mĩ, theo bất kì cách nào.
Biến động chính trị trong nước
Đất nước tôi cố gắng sống đúng theo những giá trị quốc gia đầy khát vọng và được nhiều người ngưỡng mộ. Trong lịch sử, Hoa Kì luôn là một quốc gia ‘đầy tham vọng’. Trong 240 năm, người Mĩ chúng tôi đã dám nghĩ về quốc gia chúng tôi như một mô hình mới cho một thế giới cũ. Từ khi các cường quốc phát xít bị đánh bại 70 năm trước đây, chúng tôi cũng đã đi đến việc xem mình là người bảo đảm cho một trật tự quốc tế không dựa trên sức mạnh, mà dựa trên các quy tắc hành xử đã thoả thuận.
Tuy nhiên, trong năm bầu cử nay, đặc biệt chúng tôi bị làm rối trí bởi các tranh luận nội bộ. Những người biết suy nghĩ lo rằng, chính trị Mĩ đã bị hỏng một cách vô vọng, rằng trung tâm chính trị đã rỗng đi và việc thỏa hiệp mang tính xây dựng đã trở thành chuyện gần như không thể có. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo đã tăng lên trong ba thập niên qua. Bây giờ là sự phản ứng trở lại. Như một bước ngoặt về kinh tế-xã hội, chưa từng thấy có điều gì giống như thế, kể từ kỉ nguyên tiến bộ (Progressive Era) của chúng tôi 100 năm trước đây.
Tổng thống Obama là một nhân vật bi kịch, một người đáng kính và đầy lí tưởng, đã phải tiếp nhận cuộc khủng hoảng kinh tế và cuộc chiến tranh viển vông ở Trung Đông do tiền nhiệm George W. Bush để lại. Với thái độ  phe phái một cách hẹp hòi, đảng Cộng Hòa (với đa số ghế trong cả hai cánh Quốc Hội) không đồng ý hợp tác với Obama để giải quyết những vấn đề chủ yếu.
Bây giờ, điều nghịch lí là chính Obama lại bị đổ lỗi vì những vấn đề này vẫn chưa dứt đuợc. Và, mặc dù lời lẽ phân biệt chủng tộc không còn chấp nhận được về mặt chính trị, sự tức giận nhắm vào Obama, một phần, là vì ông nâng đỡ người da màu và thách thức sự cố chấp.
Một số lớn đến kinh ngạc cử tri đang tức giận rằng nền kinh tế Mĩ không còn mang lại sự thịnh vượng cho người dân bình thường. Bốn mươi năm trước đây, hầu như bất cứ đàn ông da trắng nào có trình độ trung học là có thể có một cuộc sống tươm tất. Bây giờ điều dó không còn nữa. Cho đến năm 2007, một gia đình công nhân vẫn có thể có dư ít tiền khi có hai đầu lương. Sau đó, trong cuộc Đại suy thoái, một số lớn người dân bị mất việc làm và vì không thể trả nợ, cũng bị mất nhà. Việc làm thay thế sau khi nền kinh tế được phục hồi thường được trả lương ít hơn nhiều. Chín mươi phần trăm người lao động Hoa Kì có thu nhập không hơn thu nhập thực tế của họ năm 1980.
Năm nay, Đảng Cộng hòa đã tự huỷ hoại về vấn đề giàu nghèo. Trong nhiều thập niên, Đảng Cộng hòa vẫn có tính cạnh tranh trong cuộc bầu cử quốc gia qua việc thuyết phục cử tri đừng chú ý lập trường kinh tế giật lùi của đảng mà ủng hộ lập trường của đảng về các vấn đề xã hội (phản đối phá thai, phản đối kiểm soát quyền có vũ khí và mang súng v.v…) và một chính sách đối ngoại quân sự / mạo hiểm hơn. Về chính sách kinh tế, cánh đảng Cộng hòa trung dung thường tìm thấy nền tảng chung với cánh đảng Dân chủ trung dung. Tuy nhiên, trong tám năm dưới thời ông Obama, cánh giáo điều của đảng Cộng hòa đã đẩy đảng này tiến đều về phía cực đoan và làm cho việc thắng lợi của chiến dịch tranh cử của ứng viên tổng thống Donald Trump thành điều khả dĩ.
Một phần lớn đảng Dân chủ cũng đã trở nên phe phái hẹp hòi hơn. Mặc dù chính quyền Obama đã cố thông qua chương trình bảo hiểm y tế mang tính bước ngoặt và ổn định được nền kinh tế đang trên bờ vực khủng hoảng, nhiều thành viên cốt lõi của đảng thấy các lãnh đạo đảng đang thường xuyên quá nồng ấm với Wall Street, các nhà tài trợ lớn và các nhà môi giới ảnh hưởng ở Washington.
Bây giờ, với lập luận rằng người dân phải lấy lại quyền kiểm soát chính phủ, cả Donald Trump (tự cho mình là Cộng hòa) và Bernie Sanders (Dân chủ cấp tiến) đang huy động một đội quân của những người rất, rất tức giận.
Những cử tri đổ lỗi cho chính sách của chính phủ liên bang đã làm mất địa vị xã hội và thu nhập của họ, đã xếp hàng chạy theo Trump. Còn những ai than phiền hệ thống chỉ để phục vụ người giàu chứ không phải người nghèo thì lại hi vọng Sanders có thể chỉnh đốn mọi thứ đâu vào đó.
Trong cuộc bầu cử tháng 11 năm nay, ứng cử viên Dân chủ trung dung Hillary Clinton vẫn có khả năng chiến thắng. Rất có thể, đảng Dân chủ cũng sẽ giành lại được quyền kiểm soát ở Thượng viện. Một khi tuyên thệ nhậm chức, lẽ thường về chính trị, đòi hỏi Tổng thống H. Clinton phải đưa việc cải cách các hoạt động của Wall Street, cải cách hệ thống ngân hàng và cải cách luật tài trợ cho chiến dịch tranh cử lên ưu tiên hàng đầu.
Mĩ sẽ tồn tại. Chúng tôi đã qua được nhiều biến động chính trị-xã hội trước đây, và cuối cùng các tổ chức nhà nước của chúng tôi đã thích nghi với thực tế mới. Thực tế mới hiện nay là: nước Mĩ là một nước đa chủng tộc với một nền kinh tế công nghệ cao. Đó là một đất nước mà phụ nữ không còn bị giao cho các ‘công việc của đàn bà’ và ở đó không một ai do màu da, do không theo đạo Kitô hoặc do yêu người cùng giới mà bị hạn chế trong việc tham gia đầy đủ vào cuộc sống dân sự. Bất cứ ai đã từng cố gắng học được các kĩ năng có giá trị trao đổi và mang tới thị trường đạo đức nghề nghiệp tốt, đều có khả năng sẽ được yên ổn sống.
Điều đó luôn luôn là như vậy ở Mĩ vì nhiều lí do. Điều khác biệt bây giờ là có quá nhiều công dân đủ loại chưa được trang bị đủ để có thể vươn lên mạnh mẽ trong nền kinh tế thế kỉ 21 của chúng ta. Họ phải đánh vật để tránh rơi khỏi tầng lớp trung lưu. Giải quyết nhu cầu của họ cũng phải nằm trên cao trong chương trình làm việc của tổng thống kế tiếp.
Nhìn ra nước ngoài, tâm trạng khó khăn
Trong khi giới chính trị Mĩ đang bận tâm bởi sự rối rắm bên trong, ở ngoài Washington không còn nhiều năng lượng, thậm chí ít sự quan tâm dành cho với các vấn đề ở ngoài biên giới của chúng tôi.
Trong 51 năm kể từ khi Thủy quân Lục chiến Mĩ lội vào bờ biển Đà Nẵng, niềm tin của những người Mĩ sống ở Mĩ là một quốc gia với một vai trò đặc biệt, như một lực lượng vì quyền lợi quốc tế, đã bị xói mòn nghiêm trọng.
Chiến tranh Việt Nam đã làm sự tự tin của người Mĩ bị suy sụp và thúc giục việc tố cáo lẫn nhau. Cuộc chiến ở Iraq ‘thắng lợi’ vào năm 1991 và những can thiệp ở vùng Balkans sau đó làm cho chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi lại là một lực lượng vì điều thiện lần nữa. Tuy nhiên, chúng tôi đã không nhớ được những bài học trong quá khứ và kết quả là sự sa lầy ở Afghanistan, Iraq và ở nhiều nước Trung Đông khác, sự bất ổn được Mĩ đốc thúc. Các ứng phó thiếu phối hợp của Mĩ được lặp đi lặp lại trong khu vực đó đã gieo thêm sự hỗn loạn và gây khó khăn cho bạn bè. Bây giờ, niềm tin ngây thơ ở Mĩ rằng chúng tôi có thể vun bồi các cải cách dân chủ ở đó, đã nhường bước cho sự tỉnh ngộ nhưng không sao thoát ra được.
Obama đã đúng khi chống lại việc can dự sâu hơn nữa. Trung Đông và dầu ở đó không còn là một mệnh lệnh chiến lược của Mĩ. Khu vực này có những vấn đề nội bộ riêng phải giải quyết. Chúng ta chẳng thể làm được gì nhiều để giúp. Về mặt đạo đức và chính trị, chúng tôi buộc phải ủng hộ sự tiếp tục của Nhà nước Israel chứ không phải những nỗ lực của Israel đe doạ và kiểm soát nước láng giềng.
Nền chính trị bị hỏng hóc, nền kinh tế đáng thất vọng của chúng tôi và sự tan vỡ các mối quan hệ giữa các nước Trung Đông đã chuyển hướng sự chú ý của Mĩ khỏi châu Á – Thái Bình Dương – khu vực của thế giới vốn thật sự có tầm quan trọng chiến lược sống còn đối với an ninh và hạnh phúc của chính chúng tôi. Mặc dù các nhà chiến lược Mĩ đã thực hiện nỗ lực sáng suốt để ‘chuyển trục’ và Obama đã chấp nhận điều đó, việc thực hiện đang gặp khó khăn. Phần lớn lực lượng không quân và hải quân của chúng tôi vẫn còn đóng ở vùng Trung Đông, không có sẵn để triển khai sức mạnh của Mĩ ở Tây Thái Bình Dương. Nói vắn tắt, hiện nay có các giới hạn thực sự đối với việc Mĩ tạo ảnh hưởng với sức mạnh hậu thuẫn mà chúng tôi có thể hi vọng sẽ tác động lên các mối quan hệ ổn định và sự tăng trưởng chung ở đông và đông nam châu Á.
Tuy nhiên, năm này sang năm khác, hòa bình ở châu Á càng ngày càng có vấn đề hơn. Một làn sóng đòi trả thù đã lan tỏa khắp Trung Quốc. Người Mĩ không còn có thể vui thú với ý nghĩ dễ chịu rằng ‘Trung Quốc đang trỗi dậy’ có thể chia sẻ những khát vọng của Mĩ trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề toàn cầu. Thay vào đó, nhiều nhà nghiên cứu về Trung Quốc, và các cơ quan đối ngoại của chúng tôi nói chung, bây giờ lại lo rằng, có rất ít điểm chung giữa các giá trị Mĩ và nguyện vọng trả thù ‘thế kỉ quốc sỉ’ của Trung Quốc.
Các giới hạn của quyền lực Mĩ
Việt Nam đang đối mặt với một thách thức lớn từ người láng giềng phương Bắc. Nếu ghi nhớ trong đầu về nền chính trị hiện bị hỏng hóc của Mĩ và việc can dự đầy hao tốn tại Trung Đông, thì Washington có thể sẽ đến giúp Việt Nam trong điều kiện nào? Về mặt này, trường hợp của Ukraine đáng để xem xét nghiêm túc.
Hai năm trước, Ukraine đã cố gắng tách mình ra khỏi quỹ đạo của Nga, ngây thơ tin rằng NATO, liên minh Mĩ– châu Âu, sẽ ôm lấy và bảo vệ như một đối tác mới. Moscow đã phản ứng bằng cách cắt lấy vài phần thuộc miền đông Ukraine nơi có người thuộc chủng tộc Nga chiếm đa số – đặc biệt là khu vực Crimea. Theo cái nhìn địa chiến lược, Moscow không thể làm khác và vẫn là một đấu thủ trong nền chính trị quốc tế của các khu vực biển Đen, biển Aegea và đông Địa Trung Hải. Và, mặc dù Washington tham gia với Đức và các đồng minh khác trong việc lên án Nga viện tới vũ lực và trong việc tuyên bố ủng hộ nền độc lập của Ukraine, dường như Washington đã không nghĩ tới việc can thiệp.
Không giống như Nga, Trung Quốc rõ ràng không phải là một cường quốc hiện trạng. Bắc Kinh nhắm tới việc khống chế một trật tự chiến lược mới tại Đông Á và Đông Nam Á. Họ khẳng định ‘quyền lịch sử’ về chủ quyền đối với ‘Nam Hải’ (biển Đông) và dọa chiếm lấy nhiều khu vực giàu dầu và khí đốt trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Ngay cả thế, trong trường hợp có một cuộc xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc, dễ có thể tưởng tượng rằng, có cố vấn chính trị cho một tổng thống Mĩ tương lai sẽ đưa ra cùng kiểu lập luận vốn chiếm ưu thế ở Washington lúc Ukraine kêu gọi giúp đỡ.
Trong một cuộc khủng hoảng tương lai, sẽ luôn có một số người ở Washington lập luận rằng, biển Đông không thực sự quá quan trọng, rằng có những tuyến đường biển thay thế để tới Arabia qua Eo biển Lombok của Indonesia. Một số người sẽ cho rằng Mĩ và các đồng minh không nên làm cho mình trở thành kẻ thù của Trung Quốc khi việc hợp tác với họ là cần thiết trên rất nhiều vấn đề toàn cầu. Một số người sẽ lập luận rằng, nếu hải quân Mĩ và hải quân Trung Quốc dứt khoát phải đụng độ, thì đó không phải là nơi có nhiều khó khăn để điều động một hạm đội Mĩ vốn được thiết kế cho các trận chiến ở vùng biển cả, mà lại gần các căn cứ không quân và các vị trí bố trí tên lửa của Trung Quốc.
Phải thừa nhận rằng, đây là một kịch bản ảm đạm, đặc biệt là đối với Việt Nam. Tuy nhiên, kịch bản đó có khả năng xảy ra. Công chúng Mĩ đang trong tâm trạng phiền toái. ‘Sự khôn khéo về chính sách ngoại giao’ thường lệ, phần lớn bị mất tin cậy. Như chúng ta đã thấy, quân đội Mĩ đã bị kéo dãn mỏng ra để đối phó với cuộc xung đột ở Trung Đông. Nền chính trị Mĩ đã trở nên hỏng hóc. Những điều tiêu cực này có xu hướng buộc người kế nhiệm của Obama phải đáp ứng một cách thận trọng với các hành vi xâm lấn nhỏ của Trung Quốc ở Biển Đông.
Đến bây giờ hai chính phủ Việt Nam và Philippines đã có thể kết luận rằng việc Trung Quốc mở rộng dần dần sức mạnh quân sự của họ trên biển Đông, đặt ra một mối đe dọa hiển hiện cho nền độc lập của họ. Hãy giả định rằng cả Hà Nội lẫn Manila đều nhận ra rằng vị trí chiến lược của họ tương đương với vị trí của Kiev về mặt quan trọng này. Vậy thì họ phải làm gì để bảo đảm rằng Hoa Kì cùng đồng minh Nhật Bản vẫn sẽ tham dự một cách tích cực và xây dựng vào việc cân bằng sức mạnh Trung Quốc?
Khi Trung Quốc trở nên tệ hại (đối với Philippines, đó là khi Bắc Kinh chiếm bãi cạn Scarborough, phía tây của đảo Luzon, bốn năm trước đây), Manila không có thực lực hải quân đáng kể. Hải quân và Tuần duyên Philippines bây giờ có khả năng tốt hơn để tuần tra các vùng biển của đất nuớc, nhưng họ vẫn còn phụ thuộc nhiều vào sự trợ giúp của Mĩ và Nhật Bản. Về mặt ngoại giao, chính quyền Aquino đã làm tốt. Philippines đã buộc ASEAN phải thừa nhận rằng, hành vi của Trung Quốc là có vấn đề và họ đã thách thức các yêu sách phi lí của Trung Quốc tại Tòa án UNCLOS. Đảo ngược chính trị như lệ thường, Manila đã hoan nghênh việc Mĩ và Nhật Bản sử dụng các căn cứ ở quần đảo Philippines.
Việt Nam đã có thể đối phó tốt hơn với với sự xâm phạm của Trung Quốc trong vài biện pháp. Việt Nam có truyền thống đáng tự hào trong việc chống lại sự bắt nạt của Trung Quốc. Một thập niên trước, Hà Nội đã bắt đầu đầu tư vào việc hiện đại hóa hệ thống phòng không và phòng thủ biển của mình. Việt Nam hiện triển khai một lực lượng ngăn chặn có thể gây ra những thiệt hại đáng kể, nếu quân Trung Quốc tấn công.
Chỗ Việt Nam thiếu là: cuộc chiến giành lấy lòng người. Vì những lí do phức tạp bắt nguồn từ lịch sử chung của chúng ta, người Mĩ đã tự động đưa Việt Nam lên một chuẩn cao hơn chuẩn cho các quốc gia đang phát triển khác. Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam mong được sự ủng hộ từ Hoa Kì, họ phải nỗ lực nhiều hơn để cho người dân Mĩ thấy họ xứng đáng để ủng hộ.
Bởi vì chừng nào mà đa số các ủy viên Bộ Chính trị còn tin rằng, những việc xâm phạm của Trung Quốc được xử lí tốt nhất qua đối thoại giữa đồng chí với nhau, thì chế độ Hà Nội còn đưa ra một thông điệp không rõ ràng cho người dân nước này, cho các nước ASEAN và cho bạn bè trên toàn thế giới. Sau cuộc đối đầu HD-981 vào mùa hè năm 2014, lập trường của chế độ có rõ ràng hơn: Trung Quốc là một kẻ xâm lược và sự trợ giúp của bạn bè được hoanh nghênh. Tuy nhiên, các hành động sau đó lại thiếu vững chắc một cách kì lạ. Hà Nội đã không tham gia cùng Philippines khiếu kiện tại tòa trọng tài mà chỉ tham dự với tư cách một quan sát viên. Như công chúng Việt Nam có thể thấy được, hợp tác quân sự với Hoa Kì chủ yếu chỉ là trò chuyện, đánh dấu bởi các chuyến thăm cảng hàng năm.
Ban lãnh đạo Hà Nội muốn có sự ủng hộ từ bên ngoài không? Theo quan điểm của Mĩ, rất khó để hiểu vì sao Hà Nội lại tiếp tục cằn nhằn về việc kéo dài các hạn chế đối với chuyện bán vũ khí cho Việt Nam hay, có vẻ họ lo ngại rằng Mĩ có thể “bán đứng Việt Nam cho Trung Quốc như đã làm hồi năm 1972 và năm 1988”. Cũng có thể do nhận được sự bảo đảm của Tổng thống Barack Obama, rằng Hoa Kì không có ý định phá hoại các tổ chức của đảng và nhà nước, và qua việc đặt Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương làm trung tâm trong chiến lược toàn cầu hóa kinh tế – xã hội của mình, Hà Nội chủ yếu có ý định muốn gửi một thông điệp cho Trung Quốc: chúng tôi có lựa chọn khác.
Như đã giải thích bên trên, không chắc rằng các lựa chọn hiện nay bao gồm việc có thể trông cậy vào sự giúp đỡ quân sự và bán quân sự của Mĩ và có thể của Nhật Bản khi căng thẳng tăng vọt ở biển Đông. Đối với các nhà tư tưởng chiến lược chủ chốt của Mĩ, cung cấp trợ giúp nhanh chóng và hiệu quả cho Việt Nam có thể là điều phải làm. Người dân Mĩ bình thường và hầu hết các chính trị gia sẽ khó để thuyết phục hơn.
Một chuẩn mực cao hơn
Mặc dù sự thật biến đổi đáng kể, khá nhiều người Mĩ đều nhận thấy Việt Nam hiện nay là một nước cảnh sát trị, tham nhũng chính trị và toàn trị cứng nhắc, thuộc Thế giới thứ ba.
Tôi tin rằng Việt Nam là đặc biệt trong mắt người Mĩ theo hai cách chính yếu. Thứ nhất, như là một cách để đưa những hồn ma bóng quế của chính chúng tôi vào yên nghỉ, chúng tôi những người Mĩ, gồm cả người Mĩ gốc Việt, hi vọng sẽ nhận thấy rằng, từ thử thách nghiệt ngã của cuộc chiến tranh làm chúng tôi bị hạ thấp, một nước Việt Nam giàu mạnh hơn xuất hiện.
Thứ hai, vẫn còn một số người Mĩ quan tâm tới những gì đang xảy ra ở Việt Nam. Những công chúng tinh mắt này bao gồm nhiều cựu chiến binh hoặc chuyên gia dân sự từng đến VNCH với thiện ý khoảng hơn 50 năm trước. Tập thể này cũng bao gồm con cháu của những người tị nạn đã xây dựng cuộc sống mới ở Mĩ nhưng không bao giờ đánh mất tình yêu đối với mảnh đất nơi họ sinh ra. Tập thể này còn gồm cả những người đàn ông và phụ nữ mà việc họ tham gia vào đời sống chính trị Mĩ bắt đầu với những cuộc biểu tình dũng cảm chống lại sự can thiệp của Mĩ trong cuộc nội chiến của Việt Nam. Những nhóm này có ảnh hưởng chính trị lên các dân biểu và nghị sĩ đại diện cho họ. Họ gây ảnh hưởng tinh thần đến các đồng bào của mình.
Tôi đã lập luận trong một bài viết khác chống lại nhận thức về Việt Nam như một chế độ toàn trị cứng nhắc, qua việc chỉ rõ sự mở rộng rất đáng kể các quyền tự do dân sự trong những năm gần đây, được thúc đẩy không phải do sáng kiến của nhà nước, mà nhờ toàn cầu hóa và việc truy cập vào mạng toàn cầu (world wide web). Tuy nhiên, tư thế chính thức của Hà Nội về quyền và nghĩa vụ của công dân vẫn chưa tiến triển, và chỉ riêng việc này thôi lại đặt ra những giới hạn rất thực tế về khả năng phát triển các mối quan hệ song phương. Mỗi khi Hà Nội bắt giữ hoặc truy tố những người có vẻ như chỉ đơn giản đang thực hiện các quyền hiến định, thì việc đó lại củng cố niềm tin của công chúng Mĩ rằng, Hoa Kì chớ nên dính dáng vào một cuộc xung đột ở xa xôi vì một chế độ không rõ ràng.
Đàn áp bất đồng chính kiến ôn hòa là tiếp thêm đạn cho các nhà lập pháp Mĩ đang nhắm bắn hạ thỏa thuận TPP. Trái lại, bằng chứng cho thấy Bộ Chính trị mới có ý định mở rộng quyền tự do chính trị sẽ làm tăng sức hấp dẫn của Việt Nam với tư cách là một đối tác trong Hiệp định xuyên Thái Bình Dương.
Tôi hi vọng có rất ít các lãnh đạo Hà Nội thật sự còn tin rằng, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tự thân có ý đồ lật đổ chính quyền. Tôi tin rằng các lãnh đạo chóp bu trong chính phủ mới của Việt Nam thật lòng muốn cắt đi các quan hệ tham ô giữa giám đốc các doanh nghiệp nhà nước với các quan chức cao cấp của chính phủ. Nếu cả hai điều này là đúng thì tại sao lãnh đạo mới của Việt Nam lại ngần ngại thực hiện hành động đột phá nhân danh các công dân của đất nước? Không giống các vị tiền nhiệm lúc đương chức, Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, Trương Hòa Bình, Trần Đại Quang và các đồng liêu của họ ít nhiều an toàn trước các cáo buộc lệch lạc về ý thức hệ. Vì thế điều nghịch lí là họ đang ở trong một vị thế mạnh hơn để thực hiện cải cách chính trị.
Cách thức và việc định thời gian cho cải cách chính trị là chuyện của Việt Nam. Không nước nào cho mình có quyền áp đặt lựa chọn của Việt Nam. Như Tổng thống Obama đã nói với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 7 năm ngoái, Mĩ tôn trọng hệ thống chính trị của Việt Nam. Tuy nhiên, người Mĩ chắc chắn sẽ hoan nghênh nếu Quốc hội bãi bỏ Điều 258 và các quy định khác của bộ luật hình sự, vốn xâm hại các quyền tự do dân sự được hiến pháp nêu lên. Chúng tôi sẽ rất ấn tượng nếu chính phủ Việt Nam tập trung nỗ lực nhiều hơn trong quản lí kinh tế và ít hơn trong việc can dự trực tiếp vào đó. Chúng tôi sẽ rất vui mừng khi thấy có những nỗ lực mạnh mẽ và bền vững để xây dựng sự minh bạch thật sự và có sự tham gia rộng rãi hơn vào quá trình ra quyết định chính trị của Việt Nam.
Theo cách nhìn của tôi, để đặt nền tảng cho một mối quan hệ mạnh mẽ và lâu bền với Hoa Kì, ban lãnh đạo mới chỉ cần tin tưởng vào sự thành tâm và thiện ý của chính công dân Việt Nam, và từ đó có hành động phù hợp. Đó là một bước đi hoàn toàn hợp lí, bởi vì hi vọng lớn nhất của Đảng Cộng sản muốn nắm quyền mãi mãi thì phải trở thành cái gì khác – một tổ chức chính trị ít tham nhũng hơn, nhiều minh bạch hơn và dốc sức vào việc đưa tới ngày càng nhiều tự do hơn cho các công dân của mình.