Showing posts with label đường 9 đoạn. Show all posts
Showing posts with label đường 9 đoạn. Show all posts

Saturday, September 21, 2019

Chiến tranh pháp lí, tranh chấp tài nguyên và luật biển của Trung Quốc

Chiến tranh pháp lí, tranh chấp tài nguyên và luật biển của Trung Quốc

East Asia Forum (11/9/2019)
Tác giả: Douglas Guilfoyle, UNSW Canberra

(Bản dịch đã đăng trên TT cuối tuần 14/9/19)


Trung Quốc đang yêu sách với nhiều tai tiếng các quyền riêng biệt trên biển ở biển Đông bên trong ’đường 9 đoạn’ trên bản đồ chính thức của Trung Quốc. Nguồn gốc chính xác của đường này vẫn còn mờ mịt. ‘Đường 9 đoạn’ không hề xuất hiện trên bản đồ chính phủ trước năm 1947 hoặc trong các bản đồ tư nhân trước năm 1933. Cho tới năm 2013, các học giả hàng đầu của Trung Quốc đã thừa nhận rằng Trung Quốc chưa bao giờ nói rõ ý nghĩa pháp lí của đường này.

Các tàu đánh cá rời cảng đi đánh cá lại sau ba tháng cấm đánh bắt cá ở thành phố cảng Phòng Thành,, khu tự trị Quảng Tây phía nam Trung Quốc, ngày 16 tháng 8 năm 2019 (Ảnh: Reuters).

Những tuyên bố gần đây của Trung Quốc đối với quyền tài phán độc quyền đối với các nguồn tài nguyên nằm bên trong đường đó đã làm tăng căng thẳng không những về dầu mà còn về nguồn thuỷ sản bị khai thác quá mức và đang suy giảm ‘nền tảng cho an ninh lương thực của cư dân ven biển có số lượng hàng trăm triệu người’. Nhưng lập luận pháp lý của Trung Quốc về biển Đông cần được nhìn trong cả bối cảnh lịch sử lẫn dưới ánh sáng của chủ thuyết chiến tranh thông tin của Trung Quốc.

Luật pháp đóng một vai trò quan trọng trong tranh chấp về đường 9 đoạn vì đường này lấn sâu vào những khu vực mà các quốc gia ven biển khác trong đó có Việt Nam và Philippines coi là vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí (EEZ) của họ theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Điều mỉa mai là trong các cuộc đàm phán dài hơi dẫn đến UNCLOS, Trung Quốc là nước ủng hộ chính cho khái niệm EEZ, khi chính họ liên kết với các nước đang phát triển chống lại Nga và Hoa Kì.

Rất có ích khi xét lại các vấn đề vốn là mối quan tâm cơ bản của Trung Quốc trong các cuộc đàm phán UNCLOS. Những vấn đề này đã được lưu giữ lại trong các văn bản diễn giải của Trung Quốc nộp cho Ủy ban đáy biển của Liên Hiệp Quốc vào đầu những năm 1970 và trong các phát biểu mà Trung Quốc đưa ra trong quá trình đàm phán.

Trung Quốc bảo vệ cho năm quan điểm chính. Một là không có chiều rộng tối đa cố định cho lãnh hải – kích cỡ lãnh thổ biển của một quốc gia là một quyết định có tính chủ quyền phải được hình thành bởi nhu cầu kinh tế và an ninh. Hai là tàu chiến không có quyền tự động đi qua vô hại xuyên qua lãnh hải và eo biển. Ba là eo biển Quỳnh Châu và vịnh Bột Hải rộng lớn của Trung Quốc có trạng thái (status) đặc biệt là ‘nội thuỷ’. Bốn là ranh giới biển phải được giải quyết chỉ bằng tham vấn và UNCLOS không nên đưa ra quy định nào cho việc giải quyết bằng luật pháp các tranh chấp đó. Năm là một quốc gia lục địa có chủ quyền đối với một quần đảo xa bờ có thể vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo đó và dùng nó để tính lãnh hải.

Đáng chú ý, mặc dù Trung Quốc yêu sách một cách rõ ràng trạng thái đặc biệt cho một số vùng biển nhưng họ chưa từng làm điều như vậy đối với biển Đông. Trung Quốc vẫn luôn giữ yêu sách đối với eo biển Quỳnh Châu và vịnh Bột Hải trong suốt các cuộc đàm phán, cùng với lập trường về tàu chiến và việc đi qua vô hại. Nhưng Bắc Kinh đã từ bỏ lập trường về chiều rộng của lãnh hải và về ‘quần đảo xa bờ’. Ghi nhận lịch sử này cho thấy rằng việc Trung Quốc gần đây tự cho mình được có ‘quyền lịch sử đặc biệt’ bên trong đường 9 đoạn là sản phẩm của một yêu sách pháp lí rất mới.

Một cú đấm mạnh bạo vào lập trường của Trung Quốc ủng hộ cho các quốc gia ven biển được hưởng EEZ ‘bình thường’ của họ xảy ra vụ trọng tài Philippines kiện Trung Quốc. Kể từ đó, chính phủ Trung Quốc đã quay trở lại phiên bản về lập luận ‘quần đảo xa bờ’ mà họ từ bỏ trước đây trong các cuộc đàm phán UNCLOS, một lập luận được Hội Luật Quốc tế Trung Quốc hồi sinh trong bài ‘nghiên cứu có phê phán’ về phán quyết của trọng tài vụ Philippines kiện Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc khẳng định rằng họ có thể gom nhiều thể địa lí biển khác nhau nhập thành ‘quần đảo, bao chúng trong đường cơ sở thẳng và từ đó phóng ra EEZ.

Lập luận này vừa xét lại về mặt lịch sử vừa không thuyết phục về mặt pháp lí. Tuy nhiên, bên cạnh việc tạo ra các yêu sách EEZ, việc mô tả lại các thể địa lí biển nào đó như là đảo hoặc quần đảo lại cho phép Trung Quốc khẳng định các tàu chiến Mĩ bị hạn chế trong việc đi lại gần các thể địa lí biển đó. Hoa Kì vẫn luôn cho rằng các thể địa lí biển như vậy không có khả năng tạo ra lãnh hải và rằng họ đang thực hiện quyền tự do đi lại áp dụng trong EEZ hoặc trên vùng biển khơi (quốc tế). Nhưng tại sao Trung Quốc lại bận tâm đưa ra những lập luận như vậy?

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) hiểu rõ sức mạnh của luật pháp. ‘Tam chiến pháp’ (thuyết ‘ba cuộc chiến’) của họ vạch một bộ ba phương pháp phi động lực để đạt được các mục tiêu quốc gia của Trung Quốc: chiến tranh dư luận, chiến tranh tâm lí và chiến tranh pháp lí. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lí ('đấu luật') được Livermore giải thích như là 'tận dụng các chế độ và quy trình pháp lí hiện có để hạn chế hành vi của đối thủ, tranh cãi các điều kiện bất lợi, làm mơ hồ án lệ và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến lợi ích cốt lõi của Trung Quốc'.

Chức năng của ba cuộc chiến này là tăng cường tính chính đáng cả bên trong lẫn bên ngoài ĐCSTQ. Tranh cãi về các yêu sách của Trung Quốc ở biển Đông tự nó được xem như là nổ lực làm suy yếu tính chính đáng của ĐCSTQ. Nhận thức lập luận pháp lí đưa ra chống lại họ như một dạng xung đột chiến lược, ĐCSTQ tự coi mình như bị bao vây bởi các mối đe dọa bên trong và bên ngoài.

Hi vọng rằng Trung Quốc trong tư cách là một cường quốc biển đang trỗi dậy sẽ được kéo gần về vị thế pháp lí của các cường quốc hải quân truyền thống hơn, đã không đến được. Các học giả về luật quốc tế và quan hệ quốc tế cần nhận thức rõ rằng các lập luận pháp lí của Trung Quốc trong lĩnh vực biển, dù là cơ hội, không phải là không có nguồn gốc lịch sử trong tư duy pháp lí của Trung Quốc. Trung Quốc cũng hiểu rằng để hưởng lấy và khai thác những gì đạt được bằng vũ lực đòi hỏi phải có sự củng cố qua luật pháp. Tranh luận các yêu sách biển là một cuộc chiến tranh pháp lí được thực hiện trong lĩnh vực ý tưởng. Luật pháp Trung Quốc không chỉ đơn giản là tô vẽ cho việc ‘chiếm đoạt đất’ biển. Chính nó là một phần của việc chiếm đoạt đất.


Douglas Guilfoyle là Phó Giáo sư Luật Quốc tế và An ninh tại Đại học New South Wales (UNSW), Canberra, ông chủ trì Nhóm Nghiên cứu An ninh Hàng hải ở đó.

Saturday, June 25, 2016

Biển Đông: Cần chú ý điều gì trong phán quyết của tòa trọng tài quốc tế

Biển Đông:  Cần chú ý điều gì trong phán quyết của tòa trọng tài quốc tế



Geoff Dyer
FT (20-6-16, cập nhật 10-7-16)


Một tòa án quốc tế có khả năng sắp đưa ra phán quyết vụ án gây tranh cãi do Philippines khởi kiện chất vấn một số các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Dưới đây là những điều cần chú ý trong phán quyết rất được trông chờ.


Tại sao vụ kiện là quan trọng?

Đây là một dịp hiếm hoi khi một quyết định có tính pháp lí cao của một cơ quan ít được biết của Liên Hiệp Quốc đặt tại Hà Lan có thể có ý nghĩa địa chính trị rất lớn. Nó không những có khả năng làm rõ một số vấn đề vốn nằm ngay trung tâm các tranh chấp lãnh thổ quyết liệt ở biển Đông, mà còn kích động căng thẳng tăng thêm giữa Trung Quốc và Mĩ.


Bối cảnh là gì?

Năm 2013, Philippines đã đưa vụ kiện ra Toà án Quốc tế về Luật Biển tại The Hague. Philippines đã nộp tòa 15 mục khác nhau nói yêu sách và hoạt động của Trung Quốc ở biển Đông là trái với luật pháp quốc tế.

Trung Quốc đã từ chối tham gia vào vụ kiện và đã thách thức thẩm quyền của tòa, nhưng năm ngoái, tòa nói rằng toà có quyền thụ lí ít nhất là bảy trong các khiếu kiện và vẫn còn cân nhắc đối với tám khiếu kiện khác. Nhiều chuyên gia dự kiến tòa sẽ phán quyết bất lợi cho Trung Quốc về một số vụ việc.


Ý nghĩa pháp lí là gì?

Điều quan trọng cần nhấn mạnh là tòa án ở The Hague không được xét xử về các yêu sách chủ quyền tranh chấp nhau ở Biển Đông mà chỉ về các quyền trên biển gắn với những yêu sách đó.

Một trong những nền móng chính của vụ kiện này là để chất vấn về giá trị pháp lí của "đường 9 đoạn" của Trung Quốc - ranh giới chấm chấm trên bản đồ nhằm yêu sách tới 90 % biển Đông. Các chuyên gia nói rằng tòa án có thể tuyên bố đường 9 đoạn là bất hợp pháp trên thực tế hoặc có thể chất vấn nó theo những cách sẽ buộc Trung Quốc phải làm rõ cơ sở pháp lí của đường này - một điều mà Trung Quốc không s8ãn lòng để làm.

Các khía cạnh khác của vụ án rất chuyên sâu. Tòa sẽ quyết định liệu có một số thể địa lí- một số trong đó Trung Quốc đã chuyển thành các đảo nhân tạo - được coi là "các bãi triều thấp", không được hưởng lãnh hải, là "[đảo] đá" có lãnh hải 12 hải lí  hoặc là "đảo" được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí. Nhiều chuyên gia tin rằng tòa sẽ nói rằng một số đảo nhân tạo của Trung Quốc không có quyền pháp lí đòi huởng các vùng biển xung quanh.


Điều đó có ý nghĩa gì trong thực tế?

Tòa án của LHQ không có quyền lực thực thi. Tòa không thể buộc Trung Quốc làm bất cứ điều gì và Bắc Kinh sẽ không rút khỏi đảo nhân tạo mới nào của họ. Nhưng nếu phán quyết thuận lợi cho Philippines, Trung Quốc có nguy cơ thiệt hại về danh tiếng hơn và bị cô lập trong khu vực nếu phớt lờ tòa án và tiếp tục theo đuổi yêu sách của mình. Chính quyền Obama đã xem phán quyết như một thử nghiệm xem Trung Quốc có tôn trọng luật pháp quốc tế hay không.


Trung Quốc sẽ phản ứng như thế nào?

Cùng với việc bác bỏ thẩm quyền của tòa, Trung Quốc đã cố gắng tập hợp sự ủng hộ quốc tế cho quan điểm của mình rằng phán quyết của tòa là bất hợp pháp. Bắc Kinh tuyên bố  đã được 60 nước ủng hộ, tuy nhiên Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, một nhóm chuyên gia ở Washington, nói rằng chỉ có tám chính phủ công khai tuyên bố sự ủng hộ của họ - trong đó có các nuớc không có biển như Lesotho và Afghanistan. Nếu phán quyết đi ngược lại họ, Trung Quốc có thể tìm cách để trừng phạt Philippines, có thể qua việc hạn chế khách du lịch hoặc nhập khẩu.

Trước phán quyết này, Trung Quốc đã tăng cường chiến dịch quuốc tế vận động công chúng quốc tế. Đới Bỉnh Quốc, người từng là quan chức cao cấp ngoại giao của nước này, phát biểu tại một hội nghị ở Washington hồi tuần trước rằng phán quyết "chẳng hơn gì một mảnh giấy lộn". Ông cũng cảnh báo Mĩ không đẩy mạnh sự hiện diện quân sự của mình trong khu vực. "Chúng tôi ở Trung Quốc sẽ không sợ hãi bởi các hành động của Mỹ", ông nói. "Thậm chí nếu Hoa Kỳ đã phái tất cả 10 tàu sân bay đến vùng biển Đông."

Còn Philippines thì sao?

Gần 2 tuần trước phán quyết, một tổng thống mới nhậm chức ở Philippines - Rodrigo Duterte, một cựu thị trưởng cứng rắn mà đôi khi được so sánh với Donald Trump.


Có nhiều lúc ông Duterte đã đưa ra những bình luận đối đầu về Trung Quốc và các tranh chấp lãnh thổ. Tuy nhiên, tại cuộc họp nội các đầu tiên, ông đã sử dụng giọng điều hòa giải, nói rằng nước ông có thể sẵn sàng bước vào cuộc đàm phán mới với Bắc Kinh sau phán quyết.

Và Mĩ thì sao?

Nguy cơ lớn nhất là Trung Quốc tung đòn tấn công đối với một phán quyết chống lại họ và quyết định leo thang tham vọng quân sự của họ ở biển Đông bằng cách hoặc tuyên bố kiểm soát không phận trong khu vực này hoặc tìm cách xây dựng đảo nhân tạo trên bãi cạn Scarborough - một thể địa lí mà Philippines cũng yêu sách.

Dự kiến sẽ có một phản ứng hung hăng hơn của Trung Quốc, Mĩ đã điều các tài nguyên quân sự đáng kể tới khu vực này, trong đó có chuyến đi của một tàu sân bay tới biển Đông và nhiều máy bay chiến đấu đến Philippines. Thông điệp cho Bắc Kinh là bất kỳ động thái trên bãi cạn Scarborough sẽ được đáp ứng với một phản ứng đích đáng của Mĩ. Tuy nhiên, những chuẩn bị quân sự này nhấn mạnh tiềm năng tạo ra sự cạnh tranh sắc hơn nhiều giữa Mĩ và Trung Quốc ở biển Đông .

Saturday, June 4, 2016

Đường 9 đoạn thật sự có nghĩa là gì?

Đường 9 đoạn thật sự có nghĩa là gì?

(What Does the Nine-Dash Line Actually Mean?)

Trung Quốc có thể làm rõ đường 9 đoạn có nghĩa là gì - và làm giảm căng thẳng - mà không từ bỏ yêu sách lãnh thổ nào của mình.

Marina Tsirbas
The Diplomat (02/06/2016)

(bản dịch đã đăng trên anhbasam ngày 05/06/2016)

What Does the Nine-Dash Line Actually Mean?
Đường lưỡi bò. Ảnh: Wikimedia Commons/ CIA

Trung Quốc chưa nêu ra một cách chính xác - theo thuật ngữ quen thuộc với các luật sư luật biển hay các nhà ngoại giao -.  đường 9 đoạn của họ ở biển Đông có nghĩa là gì . Sự mơ hồ đó để lại nhiều chỗ trống cho cách giải thích quá mức có thể có, đặc biệt là khi kết hợp với một số các hành động mà Trung Quốc đã thực hiện để phản ứng lại các xâm nhập theo họ cảm nhận trong khu vực mà đườmg đó bao quanh.

Ở một cực của các cách giải thích, đường này có thể được hiểu như một yêu sách tối đa về chủ quyền và quyền kiểm soát đối với tất cả các thể địa lí, đất, nước và đáy biển trong khu vực giới hạn bởi đường 9 đoạn. Đây quả thực là điều mà nhiều quốc gia lo ngại. Theo luật biển , cách hiểu này không có ý nghĩa nhiều bởi vì có vẻ nó hợp nhất khái niệm chủ quyền với khái niệm quyền tài phán - và không có đưa ra tọa độ cho các đảo hay các đường cơ sở, như luật pháp đòi hỏi.

Mô tả một cách lỏng lẻo, chủ quyền giống như quyền sở hữu tài sản trong nhà trong khi quyền tài phán gần như tương đương với khả năng được hưởng lợi hoặc được cấp giấy phép sử dụng các sản phẩm cụ thể trong một khu vực (như cá và dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế [EEZ] hoặc một hợp đồng nhượng quyền khai thác đối với một số khoáng sản). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là có quyền áp đặt điều kiện cho việc lưu thông hoặc kiểm soát mọi hoạt động trong khu vực đó như thể là chủ sở hữu của nó. Trung Quốc dường như không nêu ra rõ ràng rằng đây là ý nghĩa đường 9 đoạn mà họ muốn nói, nhưng một số việc làm và lời nói của họ lại gợi ý như vậy. Đặc biệt, Trung Quốc đã phản ứng mạnh mẽ đối với các hoạt động đi lại trên biển và trên không trong biển Đông - kể cả trong những khu vực vốn ít ra là vùng đặc quyền kinh tế của một nước nào đó. Hãy nhìn số lượng khá nhiều các vụ máy bay Trung Quốc cản phá các chuyến bay của Mĩ trên biển Đông năm ngoái, dù có bay gần các thể địa lí mà Trung Quốc yêu sách hay không, cùng các cáo buộc vi phạm chủ quyền.

Việc đánh đồng các khái niệm hay sự mơ hồ chiến lược có lẽ là một công cụ hữu ích để kéo dài thời gian khi người ta chưa hình dung ra được mình muốn làm điều gì và muốn đưa ra yêu sách đối với các thể địa lí (và thực thi yêu sách đó) như thế nào. Tuy nhiên, điều đó cũng có thể gây bất ổn. Làm tăng thêm sự phức tạp này là ý tưởng về “quyền lịch sử”. Trung Quốc đã sử dụng cụm từ này không những gắn kết với các yêu sách chủ quyền đối với đất đai (mà lịch sử là thích đáng) mà còn đối với quyền và quyền tài phán trên biển bên ngoài lãnh hải – những nơi này lịch sử là không thích đáng. Ngoại lệ duy nhất là quyền đánh cá truyền thống, được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển công nhận. Nhưng cái mà Trung Quốc theo đuổi là một cái gì đó hoàn toàn khác. Có vẻ họ đang đưa ra lập luận phản lại rằng luật pháp ở biển Đông phải khác theo một cách nào đó.

Đối mặt với những bàn cãi hiện nay tại toà trọng tài ở The Hague và sự chỉ trích quốc tế, các học giả Trung Quốc và những người khác khẳng định rằng họ tuân thủ UNCLOS, nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện - một bộ nguyên tắc luật pháp khác áp dụng trong khu vực này. Diễn đạt cách khác, Trung Quốc nói: dĩ nhiên chúng tôi tuân thủ UNCLOS - nhưng đó không phải là bộ luật đúng để áp dụng ở đây.

Các luật sư tham gia tố tụng trên toàn thế giới sẽ nhận ra đây là một chiến thuật pháp lí nổi tiếng, và điều đó có thể được giải quyết như thế. Chúng ta có thể nhìn thấy giá trị (merit) và bản chất của nó. Nhưng bằng cách xoay nó vòng quanh, chúng ta lại cho quyền lịch sử được hưởng đặc quyền như một loại lập luận cho trường hợp đặc biệt chỉ áp dụng riêng cho biển Đông và có nguy cơ thần thoại hoá nó.

Ở cực kia của các cách giải thích về cái mà Trung Quốc muốn hiểu với đường 9 đoạn là đường này biểu thị một “cái hộp”, bên trong đó Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với bất kì vùng đất nổi lúc triều cao và quyền tài phán đối với các vùng biển tương ứng (ví dụ như  lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa) được tạo ra bởi thể địa lí đó.

Cách hiểu này sẽ ăn khớp với những gì mà Trung Quốc nói về các yêu sách chủ quyền của họ trong phần bảo lưu khi họ phê chuẩn UNCLOS năm 1996 và một số khía cạnh của công hàm phản đối ngoại giao của họ (2009 và 2011) khi phản ứng với yêu sách của Malaysia / Việt Nam về thềm lục địa mở rộng trong biển Đông năm 2009. Cách hiểu này sẽ không làm cho các bên tranh chấp khác hài lòng vì Trung Quốc vẫn sẽ yêu sách chủ quyền đối với lãnh thổ mà Việt Nam, Malaysia, Philippines, và những bên khác cũng có yêu sách. Theo cách giải thích này, đường 9 đoạn sẽ không hoàn chỉnh và không đầy đủ với tư cách là một yêu sách, nhưng không nhất thiết là không phù hợp với UNCLOS, miễn là Trung Quốc cũng công nhận quyền tự do đi lại trên biển và trên không ở khu vực ngoài 12 hải lí từ bất kì vùng đất hình thành tự nhiên (không phải nhân tạo) nổi lúc triều cao

Điều này đi sâu vào ngóc ngách pháp lí (highly technical), nhưng đó là sự khác biệt giữa việc yêu sách rằng biển Đông là cái ao nhà của Trung Quốc với việc nói rằng Trung Quốc có một số đảo nằm xa ngoài khơi bờ biển có thể tạo ra các vùng biển [xung quanh theo UNCLOS]. Trong trường hợp sau các vùng biển giữa Trung Hoa đại lục và các đảo là vùng biển quốc tế cho các mục đích giao thông quân sự và dân sự trên biển.

Tháng 12 năm 2011, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao Lưu Chấn Dân (Liu Zhemin), người phát ngôn cấp cao thuộc vụ Biên giới và Đại dương, nói rằng Trung Quốc tôn trọng quyền tự do và an toàn đi lại ở biển Đông và rằng chính phủ Trung Quốc luôn luôn duy trì quyền tự do đi lại trên biển và trên không ở biển Đông như là một quyền mà tất cả các nước được hưởng theo luật pháp quốc tế.

Phát biểu đó sẽ bênh vực cách giải thích thứ hai. Những tuyên bố trên các ấn phẩm chính thức của Trung Quốc gần đây và trong văn kiện chính thức của Trung Quốc chuyển tới toà trọng tài ở The Hague cũng đưa ra luận điểm tương tự. Thú vị là các bình luận của Trung Quốc về tự do lưu thông chỉ làm nổi bật tầm quan trọng của việc này cho việc lưu thông thương mại.

Luật pháp quốc tế không phân biệt các quyền tự do đi lại mà tàu quân sự và dân sự được hưởng trong EEZ và vùng biển quốc tế. Nhưng có vẻ như Trung Quốc có thể đang chuẩn bị để làm như vậy.

Trong một bài viết gần đây trên National Interest, Phó Oánh (Fu Ying) và Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun) đưa ra cùng luận điểm về an toàn cho việc đi lại và các đường vận chuyển thương mại và tiếp tục mô tả biển Đông như là một “lối đi quan trọng tiến ra biển lớn đối với hải quân Trung Quốc” - một cụm từ lạ lùng và có lẽ rất ấn tượng. Hai tác giả này cũng cho rằng việc làm rõ đường 9 đoạn có nghĩa là gì sẽ làm leo thang căng thẳng Thật khó để thấy tại sao lại như thế.

Cách giải thích thứ hai về đường 9 đoạn cũng được cách tiếp cận mà Đài Loan theo đuổi trong những năm gần đây hậu thuẫn. Bản đồ đường 9 đoạn được dựa trên một bản đồ ban đầu do một bộ của nước Trung Hoa Dân Quốc phát hành, bản đồ đó cho thấy 11 vạch tạo thành một hình chữ U ở biển Đông. Năm 1948, chính phủ Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và quyền tài phán đối với các tài nguyên biển trên các đảo và đá ngầm bên trong đường này. Khi CHNDTH thành lập, họ đã thừa nhận đường đó. Từ năm 2005 Đài Loan đã điều chỉnh chút ít yêu sách tập trung vào các đảo, vùng nước xung quanh chúng, và thềm lục địa chứ không phải là toàn bộ mảng biển trong đường chữ U. Đặc biệt là Trung Hoa Dân Quốc”ngưng yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ vùng biển” bên  trong đường này vào tháng 12 năm 2005. Họ đang tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với các thể địa lí bên trong đường này.

Có thể là toà trọng tài The Hague có thể “hiểu thấp xuống” đường 9 đoạn theo cách nói trên để làm cho nó không còn không phù hợp với UNCLOS.

Thời điểm ngay trước ngày dự kiến có phán quyết của trọng tài và có các hội nghị thượng đỉnh cấp cao của khu vực bày ra cơ hội cho Trung Quốc làm rõ ý nghĩa của đường 9 đoạn. Nếu Trung Quốc nói ra một cách rõ ràng rằng cách giải thích thứ hai về đường 9 đoạn chính là những gì họ dự kiến thì xét về mặt yêu sách đối với chủ quyền lãnh thổ (và quyền tài phán đối với các vùng biển tương ứng) lâu nay của họ ở biển Đông, Trung Quốc sẽ chẳng mất gì cả. Tuy nhiên, điều đó sẽ tạo ra một mức độ chắc chắn cao hơn cho các nước không  có yêu sách hoạt động trong khu vực này. Điều đó cũng sẽ đem lại sự chắc chắn hơn cho các bên có tranh chấp.

Marina Tsirbas là Cố vấn cao cấp,Can dự về Chính sách tại trường Đai học An ninh Quốc gia, Viện Đại học Quốc gia Australia.

------------------------------------

Xem thêm: Đường chữ U của Trung Quốc ở biển Đông: phân tích bốn cách diễn giải (Dương Danh Huy)

Sunday, March 1, 2015

Đường chín đoạn của Trung Quốc vẫn vi phạm luật quốc tế [liên quan đến quyền đánh cá]

Đường chín đoạn của Trung Quốc vẫn vi phạm luật quốc tế [liên quan đến quyền đánh cá]


East Asia Forum (27/2/2015)
Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn

Những ý kiến rằng Trung Quốc có thể đòi hỏi quyền đánh cá lịch sử nằm trong đường chín đoạn đã diễn dịch sai luật pháp quốc tế. Lập luận của Sourabh Gupta, nêu trong một bài báo gần đây trên Diễn đàn này, liên quan đến Điều 62 và 123 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) đã bị bài bác ở nơi khác. Trong bài này chúng tôi cho rằng lập luận của ông liên quan đến Điều 56 cũng sai lầm.

 

Một tàu công vụ của Trung Quốc đuổi theo một tàu Cảnh sát biển Việt Nam với các phóng viên trên tàu ở Biển Đông vào ngày 15 tháng 7, năm 2014.
(Ảnh: AAP)

Chế độ vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được nêu ở Điều 56 UNCLOS, chỉ ra rằng một nước có ‘quyền chủ quyền cho mục đích thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý [...] nguồn tài nguyên thiên nhiên bên trong EEZ của mình’. UNCLOS và các giải thích tiếp theo hàm ý rằng quyền khai thác này là độc quyền đúng như tên gọi: các nước khác có thể tham gia vào việc khai thác trong EEZ của nước đó chỉ khi được nước chủ nhà thỏa thuận. Khi một quốc gia trở thành một bên kí kết UNCLOS tức là quốc gia đó từ bỏ mọi yêu sách đối với quyền đánh cá trong EEZ của nước khác, bất kể có các hoạt động đánh cá trong lịch sử. Đổi lại đất nước đó được độc quyền đánh cá trong EEZ của chính mình.

Gupta diễn giải sai phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) vụ tranh chấp Eritrea-Yemen về lãnh thổ biển, coi đó như là ủng hộ quan điểm  rằng một bên kí kết UNCLOS có quyền tiếp tục các hoạt động đánh bắt cá truyền thống trong EEZ của nước khác. Khi PCA trao chủ quyền đối với một số đảo cho Yemen nhưng cũng để các ngư dân Eritrea tiếp tục chế độ đánh cá truyền thống trong vùng lân cận, phán quyết này liên quan đến chủ quyền đối với các đảo đó chứ không phải đối với EEZ. Trong luật pháp quốc tế, việc thụ đắc chủ quyền và quyền đối với các tài nguyên bên trong EEZ của một quốc gia được điều chỉnh bởi hai chế độ pháp lí khác nhau.

PCA đã xét tới ‘truyền thống Hồi giáo’, ‘truyền thống pháp lí khu vực’, ‘hệ thống luật pháp quốc tế Hồi giáo’, thực tế là các đảo này từng có đặc điểm của một res communis (khu vực chung không thuộc sở hữu pháp lí của bất kì nước nào) trong nhiều thế kỉ, và mãi đến cuối thế kỉ 20 thì Yemen mới nắm lấy chủ quyền. Khi PCA trao chủ quyền các đảo này cho Yemen nhưng đồng thời cũng đã cho ngư dân đánh cá kiểu thủ công Eritrea được quyền tiếp cận tự do vùng biển xung quanh, đó là một phán quyết phù hợp với lịch sử cụ thể về chủ quyền trên những vùng lãnh thổ này. Đó không phải là một quy tắc chung của luật pháp quốc tế. PCA không bị buộc phải áp dụng đúng khái niệm về chủ quyền vốn chủ yếu là một sáng tạo của phương Tây.

Việc tạo ra chế độ EEZ hoàn toàn khác với việc thụ đắc chủ quyền của Yemen đối với các đảo này. Chế độ này không phải là một sáng tạo của phương Tây mà do thương lượng của cộng đồng quốc tế mà có. Trung Quốc tự nguyện đăng kí với nó khi phê chuẩn UNCLOS. Do đó, khó có khả năng tòa án quốc tế sẽ đồng lòng với quan điểm cho rằng Trung Quốc có quyền đơn phương đánh cá trong EEZ của nước khác. Hơn hết, họ sẽ không cho bất cứ nước nào có quyền đánh cá trong EEZ của nước khác trừ khi có một thỏa thuận giữa các nước đó với nhau về mặt này.

Bài học cho Biển Đông là gì? Nếu một tòa án quốc tế được yêu cầu giải quyết các tranh chấp thì toà có thể sẽ trao chủ quyền của các đảo khác nhau cho các nước khác nhau cùng các điều khoản trao quyền cho ngư dân đánh cá kiểu thủ công từ các nước khác tiếp cận các đảo này và lãnh hải 12 hải lí của chúng. Nhưng rất khó có khả năng toà sẽ cho Trung Quốc quyền đánh cá trong toàn bộ khu vựcbên trong đường chín đoạn và cũng rất khó mà cho rằng kĩ nghệ đánh cá hiện đại trong Biển Đông là đánh cá kiểu thủ công.

Chính Trung Quốc có lẽ cũng không chia sẻ quan điểm của Gupta. Khi Trung Quốc tuyên bố có quyền đơn phương đánh cá do lịch sử trong vòng khoảng 50 hải lí từ bờ biển không tranh chấp của các nước khác, liệu họ có chấp nhận rằng các nước đó cũng có quyền hành xử như vậy trong vòng 50 hải lí từ bờ biển không tranh chấp của Trung Quốc hay không? Điều đáng nói là kể từ năm 2009 Trung Quốc đã sử dụng vũ lực để tống ngư dân Việt ra khỏi ngư trường truyền thống của mình xung quanh quần đảo Hoàng Sa vẫn còn đang tranh chấp.

Lập luận về ‘quyền đánh cá lịch sử’ thực tế là một lập luận thêm thắt sau, không liên quan đến mục đích ban đầu của đường chín đoạn. Theo Tổng thống Đài Loan Ma Ying-jeou (Mã Anh Cửu), khi Chính Phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc công bố bản đồ đường mười một đoạn, mà sau này trở thành đường chín đoạn, đó chỉ là một yêu sách đối với các đảo bên trong nó, chứ không phải quyền đối với khu vực biển trong đó.

Nhưng khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên sau cải cách của Đặng Tiểu Bình, tham vọng của họ ở Biển Đông cũng tăng theo. Điều này làm dậy lên quan điểm cho rằng đường này không chỉ là một yêu sách đối với các đảo mà còn là một yêu sách về quyền đối với vùng biển được nó bao quanh. Vấn đề là, theo luật quốc tế về phân giới biển, đường này không thể nào là một yêu sách hợp lệ về EEZ.

Đối mặt với điều này, các học giả Trung Quốc đã lập luận rằng ‘quyền lịch sử’ là cơ sở để Trung Quốc đưa ra yêu sách biển vượt ngoài khuôn khổ luật về phân định EEZ. Tuy nhiên, các học giả quốc tế hàng đầu đã chỉ ra một cách thuyết phục rằng lập luận đó là sai sót. Quan điểm của Bộ Ngoại giao Mĩ về vấn đề này thuyết phục hơn nhiều. Các hoạt động đánh bắt cá lịch sử của các dân tộc quanh Biển Đông ở những vùng lúc đó là biển quốc tế không thể nào cho Trung Quốc quyền đánh cá trong EEZ của nước khác hiện nay.

Một trong những con đường tốt nhất có thể có cho công bằng và ổn định ở Biển Đông là Trung Quốc thừa nhận ý nghĩa của bản đồ đường chín đoạn như Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu đã giải thích rõ. Họ phải thừa nhận rằng những đảo nằm bên trong đó là đối tượng tranh chấp lãnh thổ, và phải đàm phán EEZ thuộc các đảo này với các nước liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Dịch: Phan Văn Song
Hiệu đính: Phạm Quang Tuấn, Lê Vĩnh Trương

Wednesday, April 9, 2014

Khi nào [đảo] đá lại không là đảo [đá]*?

Khi nào [đảo] đá lại không là đảo [đá]*?

When is a Rock Not a Rock?

Một tòa án nhỏ ở Hague vật lộn với một câu hỏi đang có có thể đặt một dấu chấm hết đối với việc thu tóm biển bằng sức mạnh của Trung Quốc.

KEITH JOHNSON
FP 04/04/2014

Bế tắc ngoại giao giữa Trung Quốc và Philippines bùng lên cách đây hai năm trong một tranh chấp về quyền đánh bắt cá tại một bãi ngầm nhỏ (Scarborough Shoal - ND) ở biển Đông đang biến thành cuộc đối đầu sau khi Manila quyết định không đếm xỉa các đe dọa của Trung Quốc và kiện Bắc Kinh ở một tòa án quốc tế.

Vụ kiện này đánh dấu lần đầu tiên một ban trọng tài sẽ xem xét các yêu sách đầy tranh cãi và thường tranh chấp của Trung Quốc đối với hầu hết biển Đông, một trong những tuyến đuờng vận chuyển bận rộn nhất của thế giới và một nguồn giàu tiềm năng về dầu và khí tự nhiên.

Hồ sơ kiện, một ‘bản ghi nhớ’ khổng lồ 4.000 trang nộp trước khi Tòa Trọng tài Thường trực tại The Hague, thực chất không khác gì với câu hỏi hiện có về đảo đá (rock). Hay nói đúng hơn, đó là về mong muốn của Philippines là vài chục đốm đá ở biển Đông sẽ được các chuyên gia quốc tế chính thức phân loại là đảo đá (rock) thay vì là đảo (island)*. Số phận của các quốc gia - hay trong trường hợp này là, việc mở rộng các quyền về kinh tế của các quốc gia tới vùng biển và đáy biển ngoài bờ biển của họ có thể được quyết định trên các định nghĩa phức tạp như vậy.

Nói một cách đơn giản, đảo (island) là đất, nó cho phép chủ sở hữu được hưởng đặc quyền kinh tế 200 hải lý về mọi hướng, bao gồm quyền đánh bắt cá và khai thác năng lượng. Còn đảo đá (rock) không phải là đất, và không sinh ra quyền kinh tế.

Nếu phán quyết của toà ngược với tuyên bố của Philippines, thì vốn liếng đầu tư cho cuộc chiến dành các đốm đất đá này sẽ cao hơn nhiều: bên nào cuối cùng có yêu sách đối với các đốm đá được luật pháp quốc tế công nhận sẽ có thể đòi thêm các khu vực rộng lớn có tiềm năng giàu tài nguyên. Nếu Bắc Kinh thua kiện, họ sẽ phải lựa chọn xem có nên tuân theo tòa án quốc tế hoặc phớt lờ phán quyết của toà và vẫn cứ yêu sách các vùng biển đó.

"TQ sẽ là cường quốc lớn loại nào? Họ có sẵn sàng chơi tuân theo luật lệ của trò chơi hoặc phá đổ hệ thống này?" Ely Ratner, Phó Giám đốc Chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh Mỹ mới (một think tank), nói. "Hơn bao giờ hết, đây là một thử nghiệm rạch ròi xem TQ có sẵn sàng ràng buộc mình vào những quy tắc rốt cuộc có thể không có lợi cho họ hay không."

Vụ việc mở đầu không suôn sẻ. Trung Quốc đã từ chối tham gia trọng tài quốc tế, và cũng đã nhiều lần cảnh cáo Manila về cái mà họ gọi là "chủ nghĩa đơn phương" và "khiêu khích." Bắc Kinh triệu tập đại sứ Philippines đến để trách cứ hôm thứ hai, hai ngày sau khi tàu cảnh sát biển của Trung Quốc đã cố ngăn chặn không thành công việc tiếp tế của Philippines đối với một bãi ngầm khác (bãi Cỏ Mây- Second Thomas Shoal– ND).

Thế giới đang theo dõi. Hoa Kỳ đã bày tỏ ủng hộ nỗ lực của Philippines tìm kiếm phân xử của trọng tài theo luật pháp quốc tế điều tiết việc sử dụng biển; Nhật Bản đang bị lôi kéo vào tranh chấp lãnh thổ đầy biến động của chính họ với Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông, cũng đã công khai ủng hộ Manila. Nhưng các quốc gia khác ở Đông Nam Á tự họ cũng có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc thì vẫn còn lặng tiếng cho đến nay. Trong khi đó, các công ty dầu lớn đang theo dõi cuộc thách thức pháp lý này để xem liệu nó có thiết lập nên tính rõ ràng có thể làm cho việc thăm dò dầu khí dễ dàng hơn tại một khu vực có thể có rất nhiều cả dầu và khí đốt.

Vụ kiện này có ý nghĩa như là một thách thức trực diện với "đường chín đoạn" đầy tai tiếng của Trung Quốc, nổ lực mơ hồ nhưng đe dọa của Bắc Kinh đòi chủ quyền gần như toàn bộ biển Đông gây thiệt hại cho các nước láng giềng trong đó có Philippines, Việt Nam và Malaysia. Bắc Kinh thừa kế bản đồ, và yêu sách đầy tham vọng đó từ chính phủ Quốc dân đảng mà họ đánh bại trong cuộc nội chiến Trung Quốc hồi thập niên 1940. Bản đồ quá đáng đó thậm chí đã trở thành một chi tiết cố định trong hộ chiếu mới của Trung Quốc.

Dù vậy, nhiều học giả cho rằng tuyên bố của Trung Quốc là vô nghĩa trên cốt lõi. Công ước về Luật biển mà Trung Quốc đã ký kết và phê chuẩn, loại bỏ ý tưởng về yêu sách lịch sử như là một cách để xác định quyền trên biển. Không ngạc nhiên, Paul Reichler, một luật sư ở Washington đã giúp thảo hồ sơ vụ kiện của Manila, đồng ý. Ông nói thẳng thừng rằngTrung Quốc "đang vi phạm luật pháp quốc tế và Công ước [về Luật Biển]."

Vụ kiện không tìm cách xác định xem nước nào thực sự sở hữu các đốm đất đá tranh chấp đó, trong đó bao gồm cả đá Vành Khăn (Mischief Reef, mà là vấn đề nước nào sở hữu vùng biển bao quanh chúng. Manila cho rằng vùng biển giữa bờ biển của họ và các đốm đất đá đó thuộc về Philippines, bởi vì chúng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý mà mỗi quốc gia có được. Trung Quốc lại nói rằng những vùng biển đó thuộc về mình.

Vụ kiện đã làm Bắc Kinh nổi giận, với Bộ Ngoại giao Trung Quốc trong tuần này nguyện rằng Philippines sẽ "phải đối mặt với hậu quả" vì làm ra vụ kiện cáo này. Trong khi Trung Quốc từ chối tham gia vào trọng tài – điều đó sẽ không ngăn được việc tố tụng tiến hành – họ đã tung ra một loạt lập luận trong những ngày gần đây, lập luận chi tiết nhất trong số đó là từ toà đại sứ Trung Quốc ở Manila. Nói vắn tắt, Trung Quốc cho rằng họ có quyền bảo vệ lãnh thổ của mình, và các tranh chấp cần phải được giải quyết theo cách song phương hơn là thông qua trọng tài quốc tế.

Zhang Hua (Trương Hoa), phát ngôn viên toà Đại sứ, cho biết trong một bài đăng trên trang web của toà Đại sứ "Dù ghi nhớ của Philippines được goí ghém như thế nào, nguyên nhân trực tiếp của vụ tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines là việc Philippines chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo và rạn san hô của Trung Quốc trong biển Đông. Phía Trung Quốc kiên định trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lợi ích và các quyền trên biển của mình. Âm mưu của Philippines sẽ bị thất bại."

Cuộc bế tắc này làm dấy lên những lo ngại mới về xung đột vũ trang trong khu vực. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã dương oai tác quái khắp Đông Nam Á bằng cách thúc đẩy điều mà nhiều người coi là yêu sách lãnh thổ quá đáng, và tăng cường lên các lực lượng dân sự và quân sự của họ để hậu thuẫn cho nền ngoại giao hung hăng.

Holly Morrow, một chuyên gia Châu Á thuộc  Trung tâm Belfer của Đại học Harvard nói "Trung Quốc đã khuyến dụ tất cả các nước láng giềng với việc TQ trỗi dậy hòa bình, và họ đã hoàn toàn tỏ rõ điều đó trong khu vực. Bây giờ, có rất ít các quốc gia trong khu vực mà không có một mức độ cảnh giác nào đó từ nghi ngờ tới hoàn toàn sợ hãi phần nào của việc trỗi dậy này."

Đặc biệt nghiêm trọng là những căng thẳng trên biển giữa các tàu tuần tra dân sự hùng hậu của Trung Quốc với các tàu tuần duyên thiếu tương xứng của các nước láng giềng. Các tàu hải quân Mỹ, kể cả một tàu khu trục trang bị tên lửa có hướng dẫn, gần đây cũng xém có các va chạm với tàu Trung Quốc ở biển Đông. Các chuyên gia lo ngại rằng vụ kiện sẽ thúc đẩy Bắc Kinh thực hành một lập trường thậm chí hung hăng hơn trong nỗ lực để hù doạ Manila.

"Lời lẽ đang trở nên chói tai hơn, và được tính toán để tăng sức ép lên Philippines. Theo tôi, họ phải dọa sử dụng vũ lực để thay đổi động lực trong các cuộc đàm phán" giữa hai bên, Peter Dutton, Giám đốc của Viện Nghiên cứu biển Trung Quốc thuộc trường Naval War College của Mỹ nói.

Việc Manila tìm kiếm công lý ở Hague là một cuộc đấu tranh khó khăn. Ban trọng tài không thể áp đặt một cách giải quyết, mà phải dựa vào sự đồng ý của cả hai bên để đưa ra bất kỳ phán quyết nào; Trung Quốc đã nói rõ rằng họ sẽ không hợp tác. Nhưng trước tòa án công luận, chiến thắng của Philippines vào một lúc nào đó năm tới sẽ làm cho Manila và các nước Đông Nam Á dễ dàng hơn nhiều trong việc đẩy lùi những gì họ thấy như là sự xâm lấn như Trung Quốc.

Caitlyn Antrim, một chuyên gia về Luật Biển tại Trung tâm Stimson nói "Philippines và các quốc gia khác trong khu vực sẽ giành được mối quan hệ công chúng mạnh mẽ," làm cho các nước đang bị bao vây trong khu vực dễ dàng đẩy lùi Bắc Kinh hơn. Bà nói rằng thực tế TQ cũng quan tâm tới việc bảo đảm tự do đi lại ở các vùng biển xa hơn như Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương, thì vụ kiện có thể buộc họ phải suy nghĩ lại chiến lược của mình.

"Tới một thời điểm nào đóTrung Quốc sẽ phải lựa chọn hoặc là cố giành lấy quyền kiểm soát khu vực, hoặc quyền tự do toàn cầu cho các biển".


* Công ước LHQ về Luật biển không đưa ra định nghĩa rõ ràng cho đảo đá (rock). Những gì liên quan chỉ gói gọn trong điều 121 như sau:
1.        Đảo (island) là một vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc xung quanh, nổi trên mặt nước khi triều cao.
2.        Ngoại trừ trường hợp như quy định trong điểm 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo được xác định theo đúng các quy định trong Công ước cho lãnh thổ đất liền khác.
3.         Đảo đá (rock) không thích hợp cho việc cư trú của con người và không có đời sống kinh tế riêng thì sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Trong các vụ phân xử từ trước tới nay, các toà án quốc tế đã né tránh không trả lời trực tiếp câu hỏi dễ gây tranh cãi này.

Tuesday, April 1, 2014

ĐƯỜNG CHÍN VẠCH

ĐƯỜNG CHÍN VẠCH

Geoff A. Dyer

(trích từ cuốn “The Contest of the Century: The New Era of Competition with China--and How America Can Win”, Knopf Doubleday Publishing Group, 2014)

(bản dịch đã được đăng dưới dạng lược bớt trên Tia Sáng ngày 31/3/2014)

Nếu như chính vụ chìm tàu Cheonan (Thiên An) đã thúc đẩy rất nhiều việc tìm kiếm thần hồn (động cơ, mục đích – ND) thái độ của Trung Quốc (TQ) ở Đông Bắc Á[i] thì thời khắc tình hình ở Đông Nam Á tỏ rõ đến từ một nguồn thế tục hơn: Ủy ban Liên hiệp quốc về Ranh giới Thềm lục địa.

Vào năm 2009, cơ quan Liên Hiệp Quốc còn mù mờ này đề ra hạn chót cho các nước trong khu vực nộp yêu sách ở biển Đông và vô số các đảo đá, đảo nhỏ, và rạn san hô có tranh chấp ở đó. Biển Đông có một danh sách dài và phức tạp các bên tranh chấp. TQ, Đài Loan và Việt Nam yêu sách chủ quyền hầu hết các khu vực và các đảo, còn Philippines, Brunei, và Malaysia đòi hỏi một phần. Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển cung cấp một khuôn khổ luật pháp quốc tế để phân xử các tranh chấp như vậy, một thủ tục xử theo án lệ cùng với ngôn ngữ pháp lí chính xác vốn được vạch ra nhằm hạ nhiệt những lập luận đầy cảm tính. Tuy nhiên, trong trường hợp biển Đông, kết quả lại hoàn toàn trái ngược. Sau khi Việt Nam và Malaysia nộp hồ sơ chung cho ban xét duyệt, TQ đã tức giận. Bắc Kinh công bố công hàm trong đó nêu rõ: “TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo của biển Nam Trung Hoa (biển Đông) và các vùng biển lân cận”. Kèm với công hàm này, Bắc Kinh đính theo một bản đồ khu vực trong đó yêu sách của TQ được phân định bởi một đường tạo thành với 9 vạch.

Bản đồ “đường 9 vạch” không mới mẻ: lần đầu tiên được các nhà vẽ bản đồ TQ vẽ ra trong những năm 1920[ii] và đã được thông qua như là một bản đồ bán chính thức vào năm 1947 dưới thời Tưởng Giới Thạch - lãnh đạo của Quốc Dân Đảng, trước khi những người Cộng sản giành được chính quyền. Nhưng đây là lần đầu tiên nó đã được sử dụng như một phần của một yêu sách chính thức của TQ tại một diễn đàn quốc tế. Và đối với nhiều người ở Đông Nam Á, đó là một biểu tượng của một kiểu cao ngạo mới của TQ. Có hình dạng như một U lớn, "đường 9 vạch" bắt đầu từ bờ biển phía tây nam của TQ, vòng vèo xuống cạnh bờ biển Việt Nam, uốn éo dọc theo vùng ven biển của Malaysia và Brunei, rồi vòng trở về TQ đại lục sau khi viền theo bờ biển Philippines. Trên thực tế, nó đánh dấu gần như toàn bộ diện tích biển Đông, trừ một dải hẹp cạnh bờ biển các quốc gia khác trong khu vực. TQ nói rằng bản đồ này phản ánh “quyền lịch sử” của họ có được từ việc họ đã kiểm soát nhiều hòn đảo khác nhau trong nhiều thế kỉ. TQ đôi khi nói hình chữ U của bản đồ giống như một "lưỡi bò", một người quen [của tôi] mô tả nó, hơi ít văn hoa hơn, giống như "hòn dái thòng."

 ĐLB 2009 (9 vạch đỏ) và ĐLB 1947 (11 vạch trắng) thể hiện trên Google Earth (vẽ bằng cách chồng bản đồ) cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa 2 ĐLB này nhất là ở phía Việt Nam (ảnh và chú thích của ND)

Sách trắng quốc phòng mới nhất của TQ tuyên bố “Chúng tôi sẽ không bao giờ tìm kiếm quyền bá chủ” - một cụm từ theo công thức vốn là một trong những phương châm của chính sách chính thức của TQ. Nhưng ở nhiều thủ đô châu Á khác, yêu sách về “quyền lịch sử” như vậy không khỏi nhắc nhở họ về vị trí tùng phục mà họ bị đặt để trong những thời đại trước đây trước sức mạnh TQ, cho nên bề rộng đáng kinh ngạc của [yêu sách trong] bản đồ TQ bị những nơi này cảm nhận như một nổ lực giành quyền bá chủ. “Chúng tôi có lẽ không phải bị quá bất ngờ,” một nhà ngoại giao Thái tâm sự về việc TQ đưa ra của bản đồ “đường 9 vạch.” “Nhưng thấy tận mắt rằng họ thực sự yêu sách hầu như tất cả - thì thật là khá choáng váng.”

Di sản của 500 năm khống chế của hải quân phương Tây ở châu Á là những cái tên dùng phổ biến cho nhiều thể địa lí ở biển Đông – nào là đá Mischief (đá Vành Khăn), bãi ngầm Macclesfield, đảo Woody (đảo Phú Lâm), và bãi cạn Scarborough. Khoảng trên dưới 60 đảo/ đá ở biển Đông được chia thành hai nhóm: quần đảo Hoàng Sa ở phần phía bắc và các quần đảo Trường Sa xa hơn về phía nam. Trong nhiều thập niên, các tranh chấp xem nước nào sở hữu các thể địa lí là chỉ như vở diễn bên lề ít được biết đến, ngay cả khi TQ và Nam Việt Nam đã có đánh nhau giành một số hòn đảo vào năm 1974, khi TQ nắm quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa, và đánh nhau lần nữa vào năm 1988. Nhưng trong 5 năm vừa qua, các tranh chấp đó đã nhanh chóng trở thành một cơn bão thật sự của địa chính trị hiện đại. Biển Đông đã trở thành nơi mà mối quan ngại của Mĩ và của Đông Nam Á về việc gia tăng quân sự của TQ đã bắt đầu có điểm chung. Đối với Hoa Kì, các yêu sách của TQ đã dấy lên hồi chuông báo động về mối đe dọa lâu dài cho trật tự trên biển của Mĩ. Còn đối với các bên tranh chấp châu Á, tranh chấp đó cũng gom cả dầu, cá, và chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ lại cùng với nhau.

Đối với những thứ có như vẻ là một vài đốm đất đá không đáng kể, nhưng lợi ích kinh tế đối với các đảo ở biển Đông đang tranh chấp là rất lớn. Ở TQ, biển Đông đôi khi được gọi là "Đại Khánh trên biển" – Đại Khánh là mỏ dầu ở phía đông bắc TQ được phát hiện vào những năm 1950, một phao cứu hộ cho nền kinh tế Maoist trong thời kì cô lập về kinh tế, đồng thời cũng là chủ đề chính của công tác tuyên truyền cộng sản về phấn đấu tự cường. Ước tính TQ nêu rằng có thể có không ít hơn 213 tỉ thùng dầu trong biển Đông, không quá ít so với dự trữ của Saudi Arabia. Một ước tính khác của TQ cho thấy có đủ khí đốt tự nhiên để đáp ứng nhu cầu cho 400 năm theo mức tiêu thụ hiện tại. (Một số ước tính tư nhân ít lạc quan hơn, một phần do phần lớn dầu là vô cùng khó thu hồi, cho thấy dự trữ gần 2,5 tỉ thùng.) Nếu tiềm năng cho một sự bùng phát về dầu là chưa đủ thì vùng biển này cũng rất giàu tôm cá, làm cho chúng ngày càng hấp dẫn đối với các đội tàu cá TQ và Việt Nam vốn đã thấy nguồn cá trong các khu vực đánh bắt truyền thống của họ gần các bờ biển sụt giảm do đánh bắt quá mức, đẩy họ càng lúc càng đi xa hơn, vào vùng biển tranh chấp. TQ là nước tiêu thụ (và xuất khẩu) lớn nhất về hải sản trên thế giới, và hải sản cung cấp một nửa lượng protein trong chế độ ăn trung bình của Việt Nam. Đối với cả hai nước, đánh cá là một ngành công nghiệp mà tầm quan trọng bị đánh giá thấp quá mức.

Khi căng thẳng leo thang trong những năm gần đây, TQ đã khăng khăng cho rằng lỗi chủ yếu là do các nước khác, còn họ thì có rất nhiều bằng chứng hậu thuẫn cho yêu sách này. Bắc Kinh đã nổi giận việc Malaysia và Việt Nam nộp báo cáo chung cho ban xét duyệt của Liên Hợp Quốc, mà TQ xem như là bằng chứng về việc các nước khác kết bè chống lại họ. Các quan chức TQ phàn nàn lớn tiếng rằng TQ là nước duy nhất chưa khai thác nguồn tài nguyên dầu ở biển Đông. Một quan chức TQ nói với tôi "Đã có 700 giếng dầu [đang khai thác] trong khu vực mà chúng tôi tin là của chúng tôi. Thế mà họ lại cáo buộc chúng tôi là quyết đoán.” Họ trỏ vào sự tăng cường cơ sở hạ tầng trên các thể địa lí do các nước khác kiểm soát, đặc biệt là Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, VN đã kiểm soát 29 thể địa lí ở đó. Bắc Kinh cũng quả quyết rằng nỗ lực của chính Washington can dự vào tranh chấp đã khiến Việt Nam và Philippines dựa thế có một lập trường đối đầu hơn đối với TQ. Nhiều người ở TQ tin rằng Mĩ đang âm mưu chống lại họ ở biển Đông. Thôi Thiên Khải (Cui Tiankai), thứ trưởng ngoại giao trở thành đại sứ Mĩ năm 2013 nói “TQ không phải nước gây ra những lộn xộn này và còn lâu mới là kẻ gây hại. Đúng hơn TQ là nạn nhân chịu nhiều tổn hại."

Các bên tranh chấp khác lại đưa ra một câu chuyện khác. Họ mô tả sự gia tăng dần dần nhưng kiên quyết về sự hiện diện của hải quân TQ trong khu vực trong thập niên qua, cũng như sự tăng lên cố ý các căn cứ quân sự trên một số hòn đảo mà TQ kiểm soát như là một phần của một quá trình gặm nhấm trong khẳng định chủ quyền. Các ảnh vệ tinh về đảo Phú Lâm (tiếng Trung làYongxing - Vĩnh Hưng) trong quần đảo Hoàng Sa cho thấy điều này. Đảo nhỏ này cách căn cứ tàu ngầm trên đảo Hải Nam khoảng 200 hải lí về phía nam. Đảo này không có dân bản địa hoặc nguồn cung cấp nước tự nhiên, nhưng trong vài năm gần đây nó đã trở thành một thành trì quân sự kiên cố. Một cảng lớn đã được xây dựng trên một khu vực được nạo vét. Đồng thời, đất đai đã được mở rộng để xây dựng một đường băng cho máy bay quân sự: các ảnh vệ tinh cho thấy một dải đất hẹp gần gấp đôi chiều dài của đảo. Một dải đất hẹp khác chính là một con đường dài cả dặm nối đảo này với một đảo nhỏ, mà bây giờ được sử dụng như một trung tâm giám sát đối với hoạt động hải quân trong khu vực. Năm 2012, Bắc Kinh tuyên bố thị trấn chính của hòn đảo, họ gọi là Tam Sa, là một đô thị chính thức. Có một tòa nhà chính quyền địa phương, với những bức tường sơn trắng, những cây cột cao kiểu tân cổ điển, và một mái vòm lớn, trông giống như một phiên bản nhỏ của Tòa nhà quốc hội Mĩ. Vào ngày được tuyên bố thành đô thị, một quan chức nông nghiệp địa phương tên Tiêu Tiệp (Xiao Jie/肖捷) được phái đến trên một chuyến tàu chạy 20 giờ để giữ nhiệm vụ thị trưởng. Ông ta nói về công việc mới của mình"Ở đây không có đất trồng trọt. Mục tiêu chính là để bảo vệ chủ quyền trên biển của đất nước chúng tôi."

Ảnh vệ tinh đảo Phú Lâm cho thấy đường băng và đường nối liền đảo Phú Lâm với đảo Đá (mà TQ xây dựng trái phép - ảnh và chú thích của ND))

Các chính phủ Đông Nam Á tố cáo Bắc Kinh áp dụng một chiến lược “vừa đàm vừa lấy.” Nếu cho cơ hội, Việt Nam và Philippines có thể kê ra hàng danh sách dài các hành vi của TQ mà họ cho là bắt nạt. Việt Nam chỉ ra rằng hai trong số 9 vạch trên bản đồ tai tiếng này củaTQ là nằm trong khu vực mà theo luật pháp quốc tế được coi là vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, khu vực hai trăm hải lí ngoài bờ biển của một quốc gia được công nhận bởi luật pháp quốc tế. Năm 2007, Bắc Kinh áp lực Exxon Mobil và một số công ti dầu khí nước ngoài khác phải từ bỏ các hoạt động khoan thăm dò ngoài khơi bờ biển Việt Nam- một sự kiện mà một số người tính như là điểm bắt đầu của giai đoạn hiện nay căng thẳng. Năm 2011, tàu chính phủ TQ cắt cáp của hai tàu đang tiến hành khảo sát về dầu khí cho PetroVietnam. Hai tháng trước đó, một tàu Philippines đang làm nghiên cứu địa chấn trong khu vực tranh chấp đã bị hai tàu chính phủ TQ buộc phải rời đi. Hàng năm, chính quyền TQ thực thi lệnh cấm đánh bắt cá ở nhiều vùng của biển Đông, mà họ nói là để bảo vệ nguồn cá, nhưng quyết định này không có các chính phủ khác tham dự vào. Thế là mỗi năm, họ bắt giữ hàng chục ngư dân vi phạm lệnh cấm.

Khó có thể không nghĩ rằng hoạt động này như là một kế hoạch dài hạn có tính toán để từng bước khẳng định quyền kiểm soát khu vực. Tuy nhiên, giống như nhiều sự cố trong đó sức mạnh to lớn bên trong của TQ đã bắt đầu được tung ra, cũng có một khía cạnh khác đối với sự quyết đoán mới của TQ ở biển Đông, một áp lực ngấm ngầm từ bên dưới đòi phải làm mạnh tay hơn nữa. Cách TQ tiếp cận biển Đông là một trong những ví dụ rõ ràng nhất cho thấy các nhóm lợi ích cạnh tranh nhau đang ảnh hưởng nhiều phần trong chính sách ngoại giao thế nào– sự rạn nứt quyền lực mà các cơ quan TQ đã và đang chứng kiến. Một loạt các bộ máy quan liêu khác nhau của chính phủ có trách nhiệm chồng chéo đối với các thành phần hiện diện của chính phủ ở biển Đông, và đôi khi họ tranh nhau để làm cho sự hiện diện của họ được cảm nhận. Người TQ nhận thức rõ điều này qua việcgán tên các nhóm khác nhau này là “9 con rồng” , dựa trên truyền thuyết cổ xưa của một vị vua rồng mà 9 người con có thể được nhìn thấy trong vô số bức tranh tường “đang khuấy động biển cả.”

Một trong số các áp lực đó đến từ chính quyền địa phương. Chính quyền đảo Hải Nam, chỗ có căn cứ hải quân mới, có trách nhiệm quản lí hành chính đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, và trong hai thập niên qua đã cố gắng tổ chức du lịch loại cao cấp trên các hòn đảo này như một phần của kế hoạch phát triển riêng. Trong những năm gần đây, họ đã bào mòn sự phản đối của chính quyền trung ương về sáng kiến này. Cơ quan du lịch trên đảo Hải Nam chào mời khách hàng với các chuyến đi bơi lặn xa hoa ở quần đảo Hoàng Sa, và bây giờ có một cuộc đua thuyền giữa Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa. Các công ti dầu lớn, vốn nằm trong số những bộ phận có thế lực và liên kết chặt chẽ nhất của ngành công nghiệp nhà nước, cũng đã vận động cật lực chính phủ đẩy mạnh các yêu sách chủ quyền trong khu vực quyết đoán hơn. Trong năm 2012, CNOOC, một trong ba công ti dầu khí lớn, mời các nhóm dầu khí nước ngoài cùng khai thác 9 lô trong khu vực tranh chấp – nhiều lô trong số đó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Ngay trong số các cơ quan chính phủ TQ thực thi pháp luật trong khu vực cũng có những lợi ích cạnh tranh nhau. Cục Ngư chính có trách nhiệm lập chính sách đánh bắt cá trong vùng biển của TQ, nhưng Hải giám TQ cũng tiến hành các hoạt động thực thi pháp luật trong khu vực. Giống như bất kì bộ máy quan liêu giỏi giang nào, cả hai đều muốn chứng tỏ mình xứng đáng để được cấp thêm ngân sách vốn đã tăng nhanh trong những năm gần đây. Họ thậm chí có một cụm từ để biện minh cho vai trò đôi khi mơ hồ và chồng chéo của họ: “Cứ chợp lấy thứ gì có thể chợp trên biển, còn chuyện phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan tính sau.” Bộ Nông nghiệp, phụ trách Cục Ngư chính, áp dụng một hệ thống khen thưởng cho các cá nhân đã “cứng rắn và dũng cảm trong việc bảo vệ chủ quyền của TQ” Các quan chức được thưởng vì đã đuổi được nhiều tàu thuyền nước ngoài khỏi vùng biển mà TQ tuyên bố là của mình. Với hàng chục tàu vũ trang và máy bay trong tay, các cơ quan này cũng đã giữ vai trò đẩy ranh giới của tuyên bố chủ quyền của TQ ra xa thêm. Trong khi việc phái hải quân có thể được xem như một động thái khiêu khích cao độ, các tàu thực thi pháp luật có thể góp phần vào việc khẳng định yêu sách của TQ theo một cách ít đối đầu hơn.

Có hai yếu tố khác đằng sau cảm giác lo ngại sâu sắc ở Đông Nam Á. Không phải chỉ mức độ yêu sách [quá đáng] của TQ đã làm lo lắng khu vực mà còn là sự không rõ ràng của nó. Không ai biết mình đang đối phó với điều gì. Mặc dù bản đồ “đường 9 vạch” đã được lưu hành trong vài thập niên nhưng TQ chưa bao giờ thực sự xác định [rõ] lãnh thổ của họ trên bản đồ này. Có khi, các quan chức Bộ Ngoại giao đã cố gắng trấn an bằng cách chỉ ra rằng TQ chỉ yêu sách các đảo và các thể địa lí bên trong đường đó thôi. Một yêu sách như vậy vẫn sẽ dính dáng hàng loạt tranh chấp khó giải quyết nhưng ít quá quắt hơn nhiều so với yêu sách toàn bộ khu vực trên bản đồ. Tuy nhiên, vào những lúc khác, các quan chức và các nhà phân tích TQ lại chỉ ra rằng “danh nghĩa/quyền sở hữu” lịch sử của họ đối với biển Đông đem lại cho họ độc quyền tất cả mọi thứ bên trong đường này. Những người khác lại còn cho rằng khu vực này là một phần của "vùng biển chủ quyền" của TQ. Bành Quang Khiêm (Peng Guangqian), một thiếu tướng diều hâu của PLA, đã mô tả vùng biển bên trong “đường 9 vạch” như là “ ‘đất xanh’…của TQ” và là một khu vực do TQ “sở hữu.” Nỗ lực của CNOOC rao bán các hợp đồng chuyển nhượng dầu trong vùng biển tranh chấp và việc áp đặt lệnh cấm đánh cá của TQ cho thấy một lập trường chính thức rất khác với lập trường do Bộ Ngoại giao vạch ra. Sự mập mờ như vậy có thể nói lên nhiều điều. Nó có thể cho thấy có sự linh hoạt trong lập trường của TQ, có thể đã được khai thác trong các cuộc đàm phán. Nhưng nó cũng có thể có nghĩa là TQ đang cố thử theo cả hai cách, các nhà ngoại giao của họ bám chặt vào một yêu sách hẹp hơn trong khi hành vi thực tế của họ lại theo một phiên bản phình to hơn nhiều.

Ngoài ra còn có vấn đề về kích cỡ. Trong đối phó với TQ, các nước khác có ít cảm giác được bình đẳng chủ quyền nhưng lại có nhiều cảm giác như đang bị nằm kẹt bên cạnh một con voi lớn có thể bị nó đè bẹp. Sự khác biệt quá mức về kích cỡ đó làm cho các động thái của TQ có vẻ đe dọa hơn nhiều đối với các nước láng giềng hơn là Bắc Kinh nhận thấy. Các bên tranh chấp Đông Nam Á muốn có một cuộc thảo luận đa phương về các yêu sách khác nhau, tin rằng chỉ điều này mới cho phép họ nói chuyện bình đẳng được. Sợ các nước khác sẽ kết bè chống họ, TQ đòi hỏi rằng mỗi nước phải thương thảo với họ trên cơ sở một-đối-một. Đối với các nước nhỏ, việc Bắc Kinh kiên quyết đòi đàm phán song phương thấy giống như một hình thức bắt nạt. Một chính trị gia cấp cao của một quốc gia Đông Nam Á nói "Thái độ của TQ là, ‘yêu sách cuối cùng của chúng tôi đích xác là gì chẳng quan trọng, nếu chúng tôi nói đó là của chúng tôi thì điều có có nghĩa rằng đó là của chúng tôi thế thôi’.”

Để công bằng với người TQ, phản ứng dữ dội trong khu vực chống lại hành vi của họ ở biển Đông dường như đã được nhận một cú hích nhẹ từ một sự thêu dệt khéo léo nào đó của Mĩ. Nếu có một lãnh vực mà Washington vẫn giữ một lợi thế quyết định đối với Bắc Kinh thì đó là trong nghệ thuật ma quỷ về kiểu họp báo hậu trường (background media briefing). Hồi tháng 3 năm 2009, Jeff Bader, giám đốc khu vực châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia, và James Steinberg, thứ trưởng ngoại giao, đến Bắc Kinh dự một loạt các cuộc họp với các đối tác TQ. Biển Đông là một trong những chủ đề đậm nét trong các cuộc họp này. Một vài tuần sau đó, tờ New York Times đăng một bài viết nói rằng TQ bây giờ gọi biển Đông là “lợi ích cốt lõi.”

Trong ngoại giao, cụm từ nhỏ có thể mang sức mạnh to lớn. Trong ngôn ngữ ngoại giao TQ, hai từ này là vô cùng quan trọng. Hai "lợi ích cốt lõi" khác là Đài Loan và Tây Tạng, những vấn đề mà đảng CSTQ sẽ dời cả núi để giành lấy. Mô tả biển Đông bằng từ ngữ này quả thực sẽ thể hiện cho một sự leo thang đáng kể, một dấu hiệu cho thấy TQ đã hoàn toàn không dành chỗ cho thỏa hiệp hoặc đàm phán. Các quan chức TQ trên thực tế đã thể hiện một tâm thế không khoan nhượng trong các cuộc họp, đưa ra nhiều thuyết lí về quyền của họ ở biển Đông. Tuy nhiên, Bader và Steinberg vẫn quả quyết rằng công thức “lợi ích cốt lõi” dễ gây nổ đó thực sự chưa từng được sử dụng trong các cuộc họp, mặc dù điều này cũng đang bị tranh cãi bởi cả các phụ tá của Đới Bỉnh Quốc lẫn một số người trong phái đoàn Mĩ. (“Có lẽ bà Hillary đã làm tươi trẻ lại bộ nhớ,” như một trong những quan chức Mĩ gay gắt nói). Tuy nhiên, dù nguồn gốc của cụm từ này thế nào, TQ đã bị gặp khó. chính phủ TQ không thể xác nhận tuyên bố đó mà không gây phẫn nộ ở Đông Nam Á. Nhưng họ cũng không thể chính thức phủ nhận chuyện này, vì sợ rằng sẽ bị phe dân tộc chủ nghĩa trong nước buộc tội là yếu kém. Thay vào đó, Bắc Kinh phải chịu đựng trong im lặng.

Nếu câu chuyện “lợi ích cốt lõi” là do thêu dệt, đó là loại cường điệu mà quanh khắp khu vực đều tin ngay tức thì, bởi vì nó có vẻ phù hợp với các thực tế xử sự của TQ. Biện thuyết của Washington từ năm 2010 đã đôi khi dựa vào khẩu hiệu vụng về theo dòng chữ “Mĩ trở lại”châu Á, nhưng câu chuyện thực sự lại là cánh cửa mở sẵn chờ Washington bước vào trong một khu vực mà lo lắng về TQ đang tăng cao. Ở Philippines, chẳng hạn, đã có sự phấn khởi rộng khắp khi Hải quân Hoa Kì bị buộc phải rời khỏi căn cứ tại Subic Bay vào năm 1992, và các nhà lãnh đạo như Gloria Arroyo hoan nghênh TQ như là một “người anh cả”. Nhưng bây giờ tàu chiến Mĩ đang trở lại với tần số cao chưa từng có, và tổng thống mới của nước này, Benito Aquino, đã tuyên bố vào năm 2012: "Chúng ta cần phải có một lập trường thống nhất chống lại các hành động hung hăng mới đây của TQ."

Về cốt lõi, TQ đã bắt đầu gánh chịu hậu quả từ mâu thuẫn cơ bản của chiến lược của họ. Trong giai đoạn tốt nhất của hai thập niên qua, Bắc Kinh đã theo đuổi hai mục tiêu riêng biệt. Họ có một chiến lược quân sự cố từng bước đẩy lùi Mĩ về phía Thái Bình Dương và thực hiện việc kiểm soát tốt hơn các vùng biển gần. Đồng thời, họ có một nhiệm vụ ngoại giao bức bách là ngăn chặn các nước láng giềng hình thành một liên minh cản trở họ. Tuy nhiên, vở lẽ ra là hai mục tiêu này lại chỏi nhau. Càng cố đẩy lùi Mĩ và củng cố yêu sách lãnh thổ mạnh mẽ bao nhiêu thì họ càng khiến khu vực dang tay đón lấy Washington nhiều thêm bấy nhiêu. TQ đã phải chịu hết thất bại chiến lược này tới thất bại chiến lược khác. Rốt cuộc họ đã làm vững thêm các liên minh nền tảng của Mĩ ở Đông Bắc Á. Đồng thời, hành vi của TQ trong biển Đông đã cho phép Mĩ trở nên dính líu nhiều hơn nữa với các nước Đông Nam Á. Như Thì Ân Hoằng (Shi Yinhong), một học giả TQ và là người hâm mộ Bismarck, buồn bã nói: "Chúng tôi thu đạt được những điều trái ngược với những gì chúng tôi đã trông đợi."

Kinh nghiệm riêng của nước Mĩ trong thế kỉ XIX cho thấy mức độ mà chiến lược của TQ đã lầm lẫn. Suốt gần hai thế kỉ, Mĩ đã công bố một hình thức sở hữu khu vực và đã làm mọi cách để các cường quốc khác không tạo được ảnh hưởng quyết định ở Tây Bán Cầu. “Tại sao chúng tôi không nên có học thuyết Monroe của chính mình?” Một nhà ngoại giao TQ có lần lặng lẽ nêu ra. Ông ta nhanh chóng tự rà soát, bởi vì TQ phủ nhận họ có bất kì ý định nào như vậy, nhưng không khó khăn để hiểu được cảm giác thất vọng đằng sau câu hỏi đó. Theo một số người TQ, Hoa Kì áp dụng một tiêu chuẩn kép qua việc tìm mọi cách để ngăn chặn TQ có được cùng loại ảnh hưởng mà họ đang hưởng ở sân sau của mình. So sánh thái độ của TQ hướng về các vùng biển gần với Học thuyết Monroe thường được coi có là phần thuyết phục. Nhưng khi yêu sách của TQ trở nên cứng rắn lên thì sự so sánh đã bắt đầu có vẻ hợp lí hơn. “Đường 9 vạch” và yêu sách “quyền lịch sử” là gì nếu không phải là một sự khẳng định theo một nghĩa nào đó về quyền sở hữu và quyền được thống trị khu vực? Tuy nhiên, một lịch sử rất khác nằm sau Học thuyết Monroe đã làm rõ sự xa cách cốt lõi giữa cách TQ tự nhìn thấy mình và cách phần lớn châu Á nghiệm thấy TQ. Sức mạnh hải quân Mĩ từ những năm 1890 chắc chắn là một yếu tố cho phép Washington mở rộng quyền lực của mình, nhưng đó không phải là yếu tố duy nhất. Cũng có cùng tầm quan trọng là sự tiếp nhận rộng rãi mà Hoa Kì đã nhận được từ phần lớn châu Mĩ La tinh vào thời điểm đó. Học thuyết Monroe không áp đặt trên một bán cầu không sẵn lòng đón nhận: tại phần lớn nước trong khu vực, nó đã được hoan nghênh.

Khi Brazil chủ trì Hội nghị Pan-American thứ ba vào năm 1906, nhân vật nổi bật là Elihu Root, Ngoại trưởng thời Tổng thống Teddy Roosevelt,  đã đi khắp khu vực để giải thích ý nghĩa của học thuyết Monroe. Root đã được tiếp đón nồng nhiệt, bởi vì nhiều chính phủ Nam Mĩ thấy học thuyết Monroe không phải là sự áp đặt của quyền lực Mĩ mà là một bảo đảm cho nền độc lập của họ khỏi ách thống trị của thực dân châu Âu. Sự tin cậy vào Washington lên cao đến nỗi người Brazil đổi tên toà nhà làm nơi tổ chức hội nghị thành Palacio Monroe (điện Monroe)- một cái tên họ giữ lại khi nó đã trở thành trụ sở Thượng viện. Joaquim Nabuco, một trong những người Brazil có ảnh hưởng nhất thời đại do vai trò của ông trong việc xoá bỏ chế độ nô lệ, rất vui khi công khai tuyên bố mình là "Monroista” (người theo thuyết Monroe). “Đối với tôi, học thuyết Monroe có nghĩa là chúng ta tách mình ra khỏi châu Âu hoàn toàn và dứt khoát như trái đất với mặt trăng vậy” ông nói. Tất nhiên, trong những thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi đó Mĩ đã góp tay lật đổ chính phủ dân bầu ở Guatemala trong thập niên 1950, ở Brazil trong thập niên 1960, và ở Chile trong thập niên 1970, cái nhìn của khu vực về tính ưu việt của Mĩ thay đổi đột biến. Chủ nghĩa chống Mĩ nhanh chóng trở thành một phần trong DNA chính trị Mĩ Latin. Kể từ đó, nhiều chính phủ đã cố gắng đẩy lùi Washington theo đúng cùng một cách mà người châu Á đang làm với TQ hiện nay. Tuy nhiên sự kiện tòa nhà Thượng viện Brazil được đặt theo tên Monroe làm nổi bật cách mà khu vực này hiểu học thuyết của ông vào thời điểm đó.

Phản ứng dữ dội ở châu Á định hình hồi năm 2010 sẽ không dễ cho TQ có thể đảo ngược, ngay cả khi họ cố gắng để trở lại một nền “ngoại giao cười nụ” khác. Năm đó không phải là chuyện xảy ra bùng phát rồi thôi, nhưng nó biểu hiện cho một sự sắp xếp lại dài hạn trong nền chính trị châu Á, một nền chính trị mà trong đó nhiều chính phủ đã rút ra kết luận rằng lợi ích của họ có chỗ trùng khớp với Washington. Có thể thấy đây không đang trỗi dậy: Austrlia và Việt Nam.phải là thất bại tạm thời của TQ bằng cách xem xét kĩ hơn hai quốc gia quan trọng trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, hai quốc gia này có thể khác nhau nhiều về chính trị, văn hóa và lịch sử, nhưng thể hiện thiên hướng tương tự về một TQ



[i] Theo một uỷ ban điều tra gồm 7 nước Hàn, Anh, Mĩ, Anh, Canada, Australia và Thuỵ Điển thì tàu Cheon của Hàn Quốc bị chìm ở Hoàng Hải làm thiệt mạng 46 lính thuỷ ngày 16/3/2010 là do bị trúng ngư lôi (có khả năng phóng từ tàu ngầm Bắc Triều Tiên), tuy nhiên TQ [và Nga] không đồng ý, thậm chí còn cho rằng tàu bị trúng mìn do Mĩ thả xuống khi tập trận trước đó…
[ii] Theo Peter Kien-Hong Yu trong The Chinese U-shaped line in the South China Sea: points, lines, and zones, Institute of Southeast Asian Studies (ISEAS), 2003, ĐLB được một nhà bản đồ vẽ lần đầu vào năm 1914 sau khi Nhật chiếm và trà lại đảo Pratas (TQ gọi là Đông Sa), và đó là một đường liền nét với điểm tận cùng phía Nam khoảng 15°, 16° (tức là chỉ tới khoảng Hoàng Sa) và cũng không bọc đảo Đài Loan (lúc đó Đài Loan còn thuộc Nhật), sau năm 1933 khi Pháp tuyên bố chiếm đóng một số đảo ở Trường Sa thì mới có một vài bản đồ tư nhân nới ĐLB xuống  khoảng vĩ tuyền 9° hoặc 7°  để bao luôn các đảo này (xem Zou Keyuan trong South China Sea Studies in China: Achievements, Constraints and Prospects, Singapore Year Book of International Law and Contributors, 2006)