Showing posts with label Tôn Tử. Show all posts
Showing posts with label Tôn Tử. Show all posts

Tuesday, October 20, 2015

Nghĩ lại: huyền thoại và thiển cận về Biển Đông

Nghĩ lại: huyền thoại và thiển cận về Biển Đông
(Think again: Myths and Myopia about The South China Sea)
Alexander Vuving (Vũ Hồng Lâm)

(Bàn dịch đã đăng trên  anhbasam ngày 21/10/2015)



Tàu sân bay Mĩ

"Ẩn dụ bàn cờ" chẳng giúp chúng ta hiểu trò chơi mà Trung Quốc đang tiến hành


Khi thế giới tập trung sự chú ý vào Biển Đông, nhiều huyền thoại về vấn đề này cũng sinh sôi nảy nở. Một số huyền thoại tồn tại là do chúng ta không đủ tri thức. Nhưng nhiều huyền thoại khác vẫn còn hiện ra là do chúng ta dùng sai kính khi nhìn sự vật. Câu hỏi hóc búa về Biển Đông là một câu chuyện đầy thách thức để giải mã bởi vì hầu hết các kính thông thường mà chúng ta sử dụng không giúp chúng ta thấy ra được bản chất của câu chuyện này.


Chẳng hạn, suy nghĩ theo cách nhìn đối lập trắng đen là một cách hữu ích để đơn giản hóa và làm nổi bật sự vật lên, nhưng tròng kính này trở nên vô dụng để nhìn thấy những gì xảy ra ở Biển Đông, bởi vì sự vật ở đó chủ yếu xảy ra trong các vùng xám. Một cách tốt khác để hiểu các hoạt động của con người là nghĩ về chúng như việc tìm kiếm các nguồn tài nguyên. Phần lớn những gì mà các nước làm là một cuộc tranh giành về tài nguyên, nhưng nếu chúng ta chú tâm vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên thì chúng ta sẽ đánh mất một nguồn chủ chốt ở Biển Đông: địa điểm.


Chúng ta thường dùng ván cờ như một cách ví von cho trò chơi mà các nước tiến hành, và bàn cờ là hình ảnh phổ biến về chỗ mà các nước tác động qua lại. Nhưng cách ví von này sẽ không giúp chúng ta hiểu được t Trung Quốc đang bày trò chợi gì. Như David Lai và Henry Kissinger quan sát, chiến lược của Trung Quốc không giống như một cuộc cờ thường mà là một cuộc cờ khác của Trung Quốc có tên là weiqi (围棋/vi kì: dịch theo nghĩa đen dịch là "cờ vây" [game of encirclement] và được biết đến trong tiếng Anh qua tên tiếng Nhật là "go"). Ý tưởng cơ bản của weiqi giống như ý tưởng trong Binh pháp của Tôn Tử (Sun Tzu). Thay vì tập trung vào các trận đánh trực diện với kẻ thù, ý tưởng là vận dụng các xu hướng của sự vật để xoay chuyển tình hình có lợi cho mình. Như tôi đã trình bày trong National Interest, những gì Trung Quốc đã và đang làm ở Biển Đông là một ví dụ điển hình của việc chơi weiqi một cách thiện nghệ như thế nào.


Trong một bài báo gần đây, Lyle Goldstein đã thực hiện công việc đáng khen trong việc vạch trần một số trong những huyền thoại phổ biến về Biển Đông. Ông cũng mời các nhà hiện thực đồng bạn tham gia thảo luận. Với tư cách là một người quan sát Biển Đông và bản thân cũng là một người hiện thực, tôi rất vui lòng nhận lời mời của ông. Tôi sẽ trình bày một cái nhìn hiện thực khác, nhưng mục đích của tôi không phải là tạo ra một sự khác biệt. Điều tôi muốn là để hiểu cái gì đang thực sự xảy ra và những tác động của nó đối với chiến lược.


Bãi cạn Scarborough


Goldstein bác bỏ ý tưởng rằng "Chính quyền Obama đã phạm một sai lầm nghiêm trọng trong vụ Bãi cạn Scarborough hồi mùa xuân năm 2012, giúp hành động 'gây hấn.' của Trung Quốc tiến xa hơn nữa." Tuy nhiên, lời chỉ trích của ông chệch xa mục tiêu thực sự, và qua đó phát tán hai huyền thoại khác. Huyền thoại thứ nhất là tình huống chỉ hai mặt đen trắng trong đó chiến tranh là lựa chọn duy nhất cho những gì mà chính quyền Obama đã làm. Điều đó có thể có chỗ đúng, như đã được tường thuật rộng rãi, rằng chính phủ Philippines đã tìm kiếm sự hậu thuẫn quân sự của Washington theo hiệp ước phòng thủ chung Mĩ-Philippines. Nhưng điều này không có nghĩa là Hoa Kì chỉ có hai lựa chọn: tiến hành chiến tranh để bảo vệ đồng minh hoặc giữ thế trung lập trong cuộc xung đột. Như Bonnie Glaser bình luận trên twitter, "Mĩ có các lựa chọn khác hơn là đi đến chiến tranh đối với vụ Bãi cạn Scarborough. Việc không hành động của Mĩ đã gây nhiều hậu quả." Mục tiêu đã nêu trong những lời chỉ trích của Goldstein của, bài báo của  Ely Ratner có tiêu đề "Learning the Lessons of Scarborough Reef” (Học các bài học kinh nghiệm về Bãi cạn Scarborough) cũng vạch rõ rằng "mối đe dọa về một cuộc xung đột quy mô lớn là xa vời. Thay vào đó, sự bất ổn định trong khu vực có nhiều khả năng xuất phát từ các tranh chấp và cạnh tranh xảy ra ở một vùng xám giữa chiến tranh và hòa bình."


Sai lầm lớn nhất mà chính quyền Obama phạm phải trong việc xử lý bế tắc Scarborough là việc họ chấp nhận vai trò làm một nhà trung gian trung thực. Đây là một vai trò cao cả, nhưng Washington định vị sai về cấu trúc khi giữ vai trò đó. Sự chênh lệch lớn về khả năng giữa Trung Quốc và Philippines có nghĩa là qua việc hành xử như một nhà trung gian trung thực, Washington tiếp tay cho Trung Quốc và tiếp tục cô lập Philippines. Quả vậy, Bắc Kinh đã nhiều lần từ chối đàm phán với Manila và dùng Hoa Kì gây sức ép để buộc Philippines lùi bước. Sự chênh lệch về tin cây (Manila tin người trung gian nhiều hơn Bắc Kinh) cũng có hậu quả. Manila dường như diễn giải thỏa thuận đạt được qua môi giới của  Washington (và một thượng nghị sĩ Philippines cấp thấp tên Antonio Trillanes) như là hai bên cùng bỏ trống khu vực, nhưng trên thực tế Bắc Kinh chỉ dời một số tàu đi trong khi vẫn duy trì kiểm soát việc ra vào khu vực này.


Huyền thoại thứ hai mà Goldstein ôm ấp là giá trị của Scarborough Shoal nằm ở tài nguyên biển của khu vực xung quanh. Nếu chỉ vì dầu và cá ở đó thì một nước lớn như Trung Quốc đã không đánh liều quan hệ ngoại giao và uy tín quốc tế của mình như thế. Thay vì các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cái đáng giá cho công sức của Bắc Kinh bỏ ra để chiếm giữ rạn san hô này là vị trí của nó. Nằm gần các tuyến đường vận chuyển chính nối eo biển Malacca ở phía nam với eo biển Đài Loan và Luzon ở phía bắc, Bãi cạn Scarborough là nơi lý tưởng để từ đó quan sát và tuần tra khu vực phía đông của vùng trung tâm Biển Đông. Mặc dù rạn san hô này chủ yếu là ngập nước với chỉ một vài mỏm đá nhỏ trên mặt nước khi triều cao, nó có tiềm năng để bồi đắp lên thành một đảo nhân tạo gấp hai lần kích thước Đá Vành Khăn (Mischief Reef). Cho đến nay có thể Trung Quốc chưa xây dựng bất kì cấu trúc nào trên Scarborough, nhưng đó không phải là lý do để nghĩ rằng một đảo nhân tạo ở đó là một ý tưởng hảo huyền. Suy cho cùng, vào năm 1995 khi Trung Quốc bắt đầu chiếm Đá Vành Khăn, có ai nghĩ rằng 20 năm sau rạn san hô ngập nước này sẽ biến thành một đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa với diện tích bề mặt gần 1.400 acre (mẫu Anh)?


Xây đắp đảo


Một "huyền thoại" khác bị Goldstein chỉ trích là "những dự án xây dựng của Trung Quốc ở Trường Sa lậap ra các 'căn cứ' mới, đủ rộng để làm thay đổi cán cân cân quyền lực trong khu vực." Ông lập luận rằng các đảo nhân tạo ở đó rất dễ bị tấn công trong thời chiến và do đó chỉ có thể là các "tiền đồn mang tính biểu tượng thôi." Tôi đồng ý với phần đầu của lập luận này nhưng không đồng ý với phần sau.


Tiền đồn của Trung Quốc ở giữa đại dương có thể không phải dễ bị làm tổn hại như một số người suy nghĩ. Nếu chiến tranh nổ ra, Trung Quốc có thể tuyên bố rằng họ không có sự phân biệt giữa một cuộc tấn công vào các đảo này và một cuộc tấn công trên đất liền. Điều này sẽ làm cho tất cả mọi người phải suy nghĩ đi nghĩ lại trước khi tung ra một cuộc tấn công vào các đảo. Tuy nhiên, như tôi đã lưu ý trên National Interest  và chỗ khác, Trung Quốc không chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tổng lực khi xây đấp các đảo và các cơ sở trong quần đảo Trường Sa. Chiến lược tổng thể của họ ở Biển Đông theo câu châm ngôn của Tôn Tử "bất chiến tự nhiên thành." Những đảo nhân tạo này có thể biến thành các điểm điều khiển mạnh, các trung tâm hậu cần lớn, và các căn cứ triển khai sức mạnh có hiệu quả trong thời bình và trong vùng xám giữa chiến tranh và hòa bình.


Do vị trí chiến lược và năng lực hậu cần của chúng, các đảo trong tay của Trung Quốc sẽ là những căn cứ lớn mà từ đó vô số tàu thuyền đánh cá, tàu thực thi pháp luật, tàu chiến và máy bay có thể khống chế các vùng biển và bầu trời Biển Đông. Hiện giờ, mục tiêu của Bắc Kinh dường như là giành uy thế tối cao về hải quân và không quân những khi không sự dính dáng về quân sự của Hoa Kì. Khả năng của Việt Nam tấn công các tiền đồn của Trung Quốc là hết sức hạn chế do dễ bị Trung Quốc trả đũa dọc theo tuyến biên giới dài 1450 km trên bộ. Bốn sân bay ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ có thể nâng thêm khoảng từ 30 tới 40 số lượng máy bay thế hệ thứ tư mà Trung Quốc có thể hoạt động cùng một lúc ở Biển Đông. Điều này sẽ cho phép Trung Quốc đạt được ưu thế trên không đối với Việt Nam và Malaysia, hai nuớc có lực lượng không quân lớn nhất trong số các đối thủ Đông Nam Á. Việt Nam có đuợc một bờ biển dài dọc theo Biển Đông nhưng cả nước chỉ có 35 máy bay thế hệ thứ tư. Malaysia nằm xa về phía nam và cả nước có không quá 44 bốn máy bay thế hệ thứ tư. Mặc dù các khí tài quân sự của Trung Quốc trên các đảo ở Biển Đông sẽ rất dễ bị tổn hại trong thời chiến, chúng có thể rất hữu ích cho tuần tra thời bình và dọa nạt về tâm lí.


Cụm từ phổ biến "bồi tạo đất" (land reclamation) không chuyển tải hết bản chất các hoạt động xây dựng của Trung Quốc ở Biển Đông. Những gì Bắc Kinh đang làm ở quần đảo Trường Sa không chỉ đơn thuần là bồi đắp đất mà còn thay đổi địa lí. Ian Storey đã gọi nó là "hình thành đất” (terraforming). Carl Thayer lập luận rằng đó không phải là bồi đắp đất mà "thực thi trung tâm biển của Đông Nam Á (excising the maritime heart out of Southeast Asia)." Cán cân quyền lực trong khu vực có thể không thay đổi quá nhiều, nhưng địa lí khu vực đang bị chuyển đổi. Và địa lí mới sẽ cho phép Trung Quốc đảo lộn sự cân bằng trong khu vực.


Hậu thuẫn các đồng minh và đối tác


Tôi đồng ý với Goldstein (và nhiều người khác) rằng sự ủng hộ của Washington đối với các bên Đông Nam Á có tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông sẽ tạo động lực để họ cuơng quyết và mạnh mẽ hơn. Nhưng tôi không đồng ý với kết luận rằng tốt hơn Hoa Kì nên rút tay ra khỏi Biển Đông


Thứ nhất, khuyến khích đến từ sự ủng hộ của Washington chỉ là một trong nhiều loại khuyến khích và gàn cản mà các nước Đông Nam Á đang phải đối mặt trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc là. Một điều cản trở rất lớn là sự chênh lệch không thể vượt qua về khả năng vốn đặt Trung Quốc vào một vị thế vô cùng thuận lợi so với các nước Đông Nam Á. Nếu không có sự ủng hộ của Washington, Philippines - trang bị kém về quân sự và gắn bó lỏng lẻo về chính trị - sẽ dễ dàng chịu thua trước sự khống chế của Trung Quốc, như điều đó cuối cùng đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng Scarborough.


Thứ hai, nguy cơ của một cuộc xung đột trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh là có thật ngay cả khi không có sự ủng hộ của Mĩ đối với các đồng minh và đối tác trong khu vực. Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông chỉ thể hiện phần nổi của tảng băng; nằm sâu dưới bề mặt là một cuộc cạnh tranh có tính chiến lược hơn giành uy thế tối cao ở Tây Thái Bình Dương. Trung Quốc và Hoa Kì là hai đối thủ chính trong cuộc cạnh tranh này, mặc dù các quốc gia khác như Nhật Bản, Philippines, Việt Nam và Ấn Độ cũng có vai trò quan trọng.


Không có sự hiện diện thường trực ở Biển Đông và với căn cứ ở xa xôi tận quê nhà, Hoa Kì phải dựa vào Việt Nam, Philippines và ở một mức độ thấp hơn vào Malaysia để giữ cán cân bằng quyền lực trong khu vực không lệch quá xa về phía Trung Quốc. Về mặt này, lợi ích của Mĩ và Đông Nam Á là bổ sung nhau chứ không phải mâu thuẫn nhau. Giúp các đồng minh và đối tác cũng là một cách kinh tế để phục vụ lợi ích của Mĩ trong khu vực. Đối với việc Mĩ  trợ giúp các đồng minh và đối tác của mình ở Biển Đông, câu hỏi thực sự ở đây không phải có nên hay không mà là giúp như thế nào. Có nhiều lựa chọn để xem xét trong việc trả lời câu hỏi này, và một cuộc xung đột trực tiếp Trung-Mĩ là một nguy cơ phải ngăn ngừa, chứ không phải là một hệ quả logic của sự ủng hộ của Mĩ đối với các đồng minh và đối tác trong xung đột với Trung Quốc.


Tự do hàng hải và lãnh đạo khu vực


Nhưng tại sao Hoa Kì phải tranh giành vị thế đứng đầu ở Tây Thái Bình Dương? Câu trả lời gần như chuẩn là Hoa Kì có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải và vị thế đứng đầu về quân sự của Mĩ tại các vùng biển này là sự bảo đảm tốt nhất cho điều đó. Tôi nghĩ rằng câu trả lời này có sai sót, nhưng không phải vì những lý do do Goldstein đưa ra. Thứ nhất, mặc dù Hoa Kì có lợi ích quan trọng ở Biển Đông, tự do hàng hải không phải là từ ngữ tốt nhất dùng cho lợi ích này. Thứ hai, có một lý do khác để cho Hoa Kì để tranh giành vị thế đứng đầu ở Tây Thái Bình Dương. Cho tôi đuợc giải thích.


Thuật ngữ "tự do hàng hải" là một lựa chọn không tồi về từ ngữ. Ý nghĩa của nó thay đổi tùy theo ta đứng ở vị trí pháp lý hoặc quan điểm quốc gia nào. Cái đuợc mất ở đây không phải là quá nhiều về quyền tự do hàng hải như là một tình hình thực tế mà là quyền truy cập tự do tới các vùng biển và bầu trời ở khu vực đông đúc này. Có một sự khác biệt cốt yếu giữa các cam kết của Trung Quốc và Mỹ đối với "quyền tự do hàng hải" ở Biển Đông. Sự khác biệt này xuất phát từ thực tế cơ bản rằng trong khi Hoa Kì đề cao khái niệm các vùng biển chung của toàn cầu (golobal commons), còn Trung Quốc lại trân quý ý tưởng về "đường chín đoạn". Với ý tưởng này, Bắc Kinh coi khu vực được chỉ ra bởi "đường chín đoạn" là một cái gì đó giống như một địa hạt có chủ quyền mà họ đã đánh mất vào tay người khác và họ có quyền lấy lại. Trung Quốc và Hoa Kì có thể có chung quan điểm khi nói đến tự do hàng hải tại hầu hết các vùng biển trên trái đất, nhưng Biển Đông là một trường hợp đặc biệt vì có "đường chín đoạn". Trong khi Washington thừa nhận quyền của mọi người, kể cả của kẻ thù của mình, được tự do tiếp cận các vùng biển và bầu trời ở khu vực này, Bắc Kinh giữ lại quyền đó cho chính họ. Khi Trung Quốc nói rằng họ đảm bảo quyền tự do đi lại ở Biển Đông thì cần ngầm hiểu rằng với tư cách một cường quốc độ lượng họ mở cửa ra cho tất cả mọi người nhưng những người khác phải tôn trọng chủ quyền của họ.


Trung Quốc còn lâu mới có thể kiểm soát tất cả các "cửa" dọc theo "đường chín đoạn", và thậm chí nếu họ có thể làm như vậy, họ cũng sẽ không đóng các "cửa" đó. Xét cho cùng, Trung Quốc có lợi ích rất to lớn trong việc giữ các dòng chảy thương mại xuyên qua Biển Đông không bị cản trở. Sự đe dọa của Trung Quốc đối với tự do hàng hải và hàng không ở khu vực này ảnh hưởng đến các cơ sở có tính quy phạm của quyền tự do này nhiều hơn là tình hình thực tế. Nếu Hải quân Trung Quốc trở thành kẻ giám hộ quyền tự do hàng hải trong vùng biển này, hầu hết tàu thuyền, hầu như mọi lúc, vẫn có thể đi lại qua đó không bị cản trở, nhưng đó không phải là vì các nước được hưởng quyền khách quan về tự do truy cập mà vì họ được hưởng sự độ lượng chủ quan của Trung Quốc mà nhiều khi sưự độ luợng này có thể có chọn lọc và tùy tiện. Chi tiết tinh tế này có thể không quan trọng đối với các công ty bảo hiểm và vận chuyển, nhưng nó sẽ có hậu quả sâu rộng cho nền chính trị thế giới. Nó có nghĩa là trong trật tự khu vực do Trung Quốc  bảo lãnh thì luật pháp quốc tế phải nhường bước cho chính sách của Trung Quốc.


Ngay cả khi Trung Quốc hành xử theo cùng cách như Hoa Kì, vị thế đứng đầu của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông sẽ vẫn còn đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng đối với quyền lãnh đạo của Mĩ trong khu vực. Sự tập trung của các động mạch chính của Châu Á ở khu vực này có nghĩa rằng, diễn giải lại theo cách nói của Harold Mackinder, ai kiểm soát Biển Hoa Đông và Biển Đông thì kẻ đó sẽ thống trị Châu Á; và với sự trỗi dậy của Châu Á, ai thống trị khu vực này thì kẻ đó sẽ điều khiển thế giới. Trong 70 năm tính từ ngày cuối của Thế chiến II, vị thế đứng đầu của hải quân Mĩ ở Tây Thái Bình Dương đã cho phép Washington đóng một vai trò lãnh đạo ở Châu Á. Về phần mình, Trung Quốc đã ngày càng thể hiện sự tin tưởng rằng con đường của họ tới vị trí đứng đầu Châu Á cũng chạy qua vị thế đứng đầu ở vùng biển này.


Chiến tranh Mĩ-Trung


Nếu cuộc thách giữa hai đối thủ này là không thể tránh được thì ai sẽ thắng ai? Tôi đồng ý với Goldstein rằng kết quả của một cuộc chiến tranh Mĩ-Trung là rất không chắc chắn. Với tất cả những lợi thế về công nghệ, Hoa Kì lại bị bất lợi rất lớn về địa lý.


Nếu nguy cơ bị thua của Mĩ va Trung Quốc là tương đương nhau thì Washington sẽ phải suy nghĩ lại chiến lược lớn của mình. Ngăn chặn sẽ là một trụ cột rất yếu trong chiến lược của Mĩ. Washington phải dựa trên cân bằng, chứ không ngăn chặn hoặc hòa giải, như là các đặc tính chủ yếu của chính sách ngoại giao và hoạch định chiến lược của mình. Vì chiến tranh vừa là một cái cần phải tránh vừa là cái không thể thắng, nên việc hoạch định chiến lược của Mĩ phải chuyển trọng tâm từ chiến tranh sang các vùng xám giữa chiến tranh và hòa bình.


Hoa Kì có thể cũng không cần phải sử dụng rất nhiều công cụ công nghệ cao của mình. Điều mà họ cần phải làm nhiều hơn là khắc phục những bất lợi về địa lý bằng cách sử dụng thế "cờ vây" một cách điêu luyện như Trung Quốc. Họ sẽ cần phải giúp các nước ven biển như Nhật Bản, Philippines, Việt Nam và Malaysia tăng cường khả năng phòng thủ, cả quân sự lẫn phi quân sự, và góp chung lực lượng trong một liên minh mạnh mẽ. Có lẽ huyền thoại lớn nhất hơn cả liên quan đến an ninh Châu Á hiện nay là Hoa Kì không thể và không nên kiềm chế Trung Quốc.


Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương Nghiên cứu An ninh Daniel K. Inouye. Các quan điểm thể hiện trong bài viết này là của riêng tác giả và không phản ánh quan điểm của DKI-APCSS, Bộ Quốc phòng, hay Chính phủ Hoa Kì.

Saturday, August 10, 2013

Thuyền phủ rơm và mối đe dọa Trung Quốc

Union of Concerned Scientists (07/08/2013)

Gregory Kulacki, Chủ nhiệm dự án Trung Quốc và chuyên gia phân tích cao cấp

 

Có một nhóm các nhà phân tích Hoa Kì dường như bị mê hoặc bởi ý tưởng rằng chính sách an ninh hiện nay của Trung Quốc chịu ảnh hưởng tư tưởng quân sự xưa của họ. Trong cuốn The China Threat (Mối đe dọa Trung Quốc), Bill Gertz cho rằng các mưu lược nêu trong Binh pháp Tôn Tử đang chỉ đạo một nỗ lực phối hợp của Trung Quốc mượn tay các nhà phân tích Hoa Kì vô tình "ủng hộ Bắc Kinh"thao túng chính sách của Mĩ .

Kế hoạch của Trung Quốc được hình dung là sử dụng gián điệp và tuyên truyền để chinh phục Hoa Kì mà không cần bắn một phát súng. "Nhóm xanh" của Gertz gồm các nhà phân tích Trung Quốc của Hoa Kì tuyên bố rằng họ nhìn thấu được sự che dấu đó. Mục tiêu của họ là làm cho các nhà hoạch định chính sách Hoa Kì nhận thức được rằng Trung Quốc đang che đậy các chuẩn bị quân sự và ẩn giấu ý đồ hung hăng của họ phía sau những tiếng nói trấn an của "nhóm đỏ" có thế lực gồm các chuyên gia hoặc bị cưỡng ép hoặc bị lừa trong việc hạ thấp mối đe dọa Trung Quốc.

Gertz dường như không xét tới khả năng là những nhà phân tích chắc hẵn "chống Bắc Kinh" bên nhóm xanh cũng có thể bị Trung Quốc thao túng trong việc phục vụ cho mục đích của họ.

Không phải Tôn Tử mà là Gia Cát Lượng?

Vào thời Tam Quốc (220-280 AD) Gia Cát Lượng, một chiến lược gia huyền thoại của Trung Quốc, đã sử dụng một chiến thuật thông minh trở nên bất tử trong câu thành ngữ "thảo thuyền tá tiễn " (草船借箭 - [dùng] thuyền phủ rơm mượn tên). Sự kiện lịch sử mà thành ngữ này xuất phát không được nhiều người biết, nhưng ý nghĩa của nó, như đã được truyền qua nhiều thời đại, chỉ đơn giản là dùng mưu mẹo để sử dụng các nguồn lực của đối phương cho mục đích của chính mình. Theo truyện kể, Gia Cát Lượng đã phái một đoàn thuyền phủ rơm (xem hình minh họa ở trên) ra kình chống lại quân địch và đối phương đã bắn tên vào đoàn thuyền giả này. Ngoài việc làm lộ vị trí đối phương, đoàn chiếc thuyền rơm còn giữ lại được nhiều tên, mà Gia Cát Lượng đã thu gôm lại và chuyển giao cho chủ tướng trước đó vẫn còn ngờ vực về lời hứa ông sẽ trang bị cho binh lính 10.000 mũi tên mới trong vòng ba ngày.

Có thể xảy ra hay không việc giới tuyên truyền quân sự Trung Quốc thay vì che giấu sức mạnh lại cứ phóng đại nó lên và sử dụng các nhà phân tích Hoa Kì để giúp họ làm điều đó? Nhóm xanh có thể không hay rằng mình đang trợ giúp và tiếp tay cho chiến tranh tâm lí của Trung Quốc bằng việc tạo ra ấn tượng quân đội Trung Quốc có vẻ hùng mạnh hơn và có khả năng hơn thực sự hay không?

Nhiều nguồn tin lẫn lộn về Trung Quốc

Trong nhiều thập kỉ qua, Gertz và nhóm xanh đã có hàng trăm bài viết phơi bày các thông tin được cho là bí mật về vũ khí mới của Trung Quốc khai thác các chỗ nhược hình dung được của Hoa Kì. Các nhà phân tích nhóm xanh gọi chúng là vũ khí "sát thủ" (杀手锏sát thủ giản), nhại theo ý một thuật ngữ được giới tuyên truyền quân đội Trung Quốc dùng để mô tả “con át chủ bài” công nghệ giả định mà Trung Quốc có thể dùng để thi thố với Hoa Kì. Bằng chứng về sự tồn tại của nhiều loại vũ khí "sát thủ"như thế này là rất có vấn đề. Các nguồn tin được đồ đoán như là các báo cáo chính phủ Trung Quốc hoặc các tuyên bố về chính sách quân sự chính thức của Trung Quốc xoay ra thường lại là các bài viết trên báo hoặc tạp chí của giới tuyên truyền Trung Quốc.

Lần phất cờ sai lầm mới nhất của nhóm xanh về một nguồn của Trung Quốc xảy ra ngày 30 tháng 7 năm 2013 trên Washington Free Bacon (trang web có khuynh hướng bảo thủ của Mĩ). Điều mà Gertz xác định là "một báo cáo quốc phòng nội bộ của Trung Quốc" về kế hoạch cho một cuộc "chiến tranh nhân dân trên không gian mạng" thực ra lại là một bài viết bốn trang công bố công khai của bốn kĩ sư thuộc Viện Kĩ thuật vệ tinh Thượng Hải , một công ti con của Tổng công ti Khoa học và Công nghệ Không gian Trung Quốc (CASIC) nổi tiếng với những đóng góp cho việc phát triển các vệ tinh thời tiết của Trung Quốc.

Bài viết này có thể tải về được qua cơ sở dữ liệu CNKI của Trung Quốc. Gertz mô tả cái gọi là "báo cáo nội bộ" như là "một cái nhìn hiếm hoi từ bên trong về một trong những chương trình quân sự bí mật nhất của Bắc Kinh." Không phải thế. Ở Trung Quốc hàng năm có hàng trăm bài viết tương tự như thế được công bố. Các nhà phân tích về quốc phòng Trung Quốc đôi khi gọi chúng là "các bài báo rác" mà tác giả  thường cố ý dùng để nối dài danh sách công bố của mình. Chúng thường được viết ra bởi những người có quan tâm đến chủ đề này nhưng không có kiến thức về các chương trình quân sự thực sự.

Trong trường hợp này các tác giả tường thuật một cuộc thảo luận học thuật thú vị về các kết nối quân sự giữa không gian thật và không gian mạng tương tự như những kết nối mà chính tôi nghe tại một hội nghị gần đây ở Đại học Công nghệ Quốc phòng Quốc gia Trung Quốc tại Trường Sa (Hồ Nam). Giống như rất nhiều bài báo loại này, hầu hết những ý tưởng mà bài viết này bàn đến đều được lấy từ các nguồn của Hoa Kì. Mục đích của các tác giả là giới thiệu và giải thích các ý tưởng này cho đối tượng người Trung Quốc, chứ không phải là mô tả các ý tưởng và kế hoạch của Trung Quốc. Chính phủ Mĩ dịch bài viết và đóng dấu "Chỉ sử dụng trong cơ quan" (For Official Use Only) lên bản dịch, mặc dù bài viết đó là phổ biến không giới hạn trên internet. Việc xếp bài vô loại hạn chế có thể là lí do khiến Gertz nghĩ rằng bài viết đó là bí mật, quan trọng, và hiếm hơn so với tình trạng thật của nó.

Nguy hiểm của việc phóng đại

Dù các nhà phân tích Hoa Kì đào bới trong các văn bản của Trung Quốc để tìm ra những câu chữ đáng báo động có thể tin rằng họ đang thực hiện công vụ, nhưng vẫn có nguy cơ thể hiện sai những gì họ phát hiện. Mức độ tự do hành động của Hoa Kì trong khu vực xung quanh Trung Quốc bị ràng buộc bởi chính khả năng của Hoa Kì bao nhiêu thì cũng bị trói buộc bởi mức độ nhận thức của họ về khả năng của Trung Quốc bấy nhiêu. Đánh giá quá cao những khả năng này một cách không cần thiết sẽ gò bó những người ra quyết định khiến họ có thể cảm thấy có nhu cầu phải đáp ứng với hành vi khó chịu hoặc đe dọa Trung Quốc.

Làm cho các giới chức có trách nhiệm ra quyết định của Hoa Kì tin rằng quân đội Trung Quốc mạnh hơn thực tế nằm trong lợi ích của Trung Quốc. Hơn nữa, hầu hết những tuyên bố giật gân về khả năng của Trung Quốc do nhóm xanh đưa ra ở Mĩ lại được báo chí Trung Quốc lặp lại cũng tạo thêm thuận lợi cho việc làm cho quân đội Trung Quốc trông có vẻ ấn tượng hơn trước mắt dân Trung Quốc. Có lẽ đây là lí do tại sao giới tuyên truyền quân đội Trung Quốc lại công bố rất nhiều bài viết về vũ khí "sát thủ" vốn được coi là bí mật của Trung Quốc.

Lần tới khi nhóm xanh quyết định viết về mối đe dọa Trung Quốc họ có thể sẽ dẹp Binh pháp Tôn Tử sang một bên và sẽ đem câu chuyện về những chiếc thuyền rơm của Gia Cát Lượng ra sử dụng.

Tuesday, July 30, 2013

Trung Quốc: Không đánh mà thắng

Trung Quốc: Không đánh mà thắng

Phương pháp tiếp cận láng giềng tốt bắt đầu thay đồi từ thập kỷ trước vì lãnh đạo Trung Quốc tin rằng cuối cùng thời cơ của Trung Quốc đã đến.
Theo cách Trung Quốc cướp lấy đất đai xuyên qua dãy Himalaya trong thập niên 1950 bằng việc phát động các cuộc xâm chiếm ngấm ngầm và bây giờ họ tiến hành những cuộc chiến lén lút không bắn một phát súng nào nhằm thay đổi hiện trạng trên Biển Hoa Đông và Biển Hoa Nam (Biển Đông Việt Nam), trên biên giới với Ấn Độ và trên các dòng sông quốc tế.
Mặc dù Trung Quốc từ một quốc gia nghèo trỗi dậy trở thành cường quốc kinh tế thế giới nhưng các yếu tố chính trong lãnh đạo quốc gia và học thuyết chiến lược vẫn không hề thay đổi.
Từ thời Mao Trạch Động Trung Quốc đã từng bám sát lời khuyên trong Binh pháp Tôn Tử “Không đánh mà thắng mới là cách tốt nhất.”
Trung Quốc, Philippine, biển Đông
Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản đã dùng vòi rồng để tấn công thuyền của Đài Loan khi con thuyền này đi vào vùng biển thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Phép dùng binh này liên quan đến việc đánh thắng kẻ địch bằng sự bất ngờ qua việc khai thác điểm yếu của kẻ thù và chớp lấy thời cơ cũng như qua việc ngụy trang công bằng thủ. Tôn Tử đã nói “Tất cả các cuộc chiến đều dựa trên sự lừa bịp”. Chỉ khi cuộc chiến lén lút không thể đạt được mục tiêu đề ra thì mới phát động cuộc chiến công khai.
Trung Quốc đã dàn dựng các cuộc chiến tranh quân sự công khai ngay cả khi đất nước họ còn nghèo và nội bộ còn bất ổn. Một báo cáo của Lầu Năm Góc đã nêu việc TQ tấn công phủ đầu vào các năm 1950, 1962, 1969 và 1979 như là những ví dụ về tấn công được ngụy trang bằng phòng thủ [bảo vệ]. Và cũng có thể kể thêm vào đó cuộc tấn công bằng vũ lực của Trung Quốc chiếm Quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và Đá Gạc Ma (Johnson Reef) vào năm 1988, Đá Vành Khăn (Mischief Reef) vào năm 1995 và Bãi cạn Scarbourough vào năm ngoái (2012, ND).
Tuy nhiên, một  thế hệ sau khi Đặng Tiểu Bình củng cố xong quyền lực, Trung Quốc chủ động đề cao mối quan hệ láng giềng tốt với các nước Châu Á nhằm tập trung phát triển kinh tế nhanh chóng. Chiến lược này cho phép Bắc Kinh tích lũy sức bật kinh tế và chiến lược trong khi cho phép các nước láng giềng thúc đẩy kinh tế mình lên bằng cách bám theo sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc.
Phương pháp tiếp cận láng giềng tốt bắt đầu thay đồi từ thập kỷ trước vì lãnh đạo Trung Quốc tin rằng cuối cùng thời cơ của Trung Quốc đã đến.
Một trong những tín hiệu đầu tiên là sự phục hồi yêu sách âm ỉ lâu dài đòi chủ quyền bang Arunachal Pradesh vùng Đông Bắc Ấn Độ hồi năm 2006. Bằng chứng tiếp theo là việc chuyển qua cách tiếp cận “phô trương cơ bắp”, với việc TQ sẵn sàng tấn công giành lãnh thổ với nhiều nước láng giềng và mở rộng “lợi ích cốt lõi”. Và năm ngoái (2012, ND), Trung Quốc chính thức đưa yêu sách đường lưỡi bò theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển đòi chủ quyền hơn 80% Biển Đông.
Từ việc sử dụng sức mạnh thương mại để gây tổn thương đối phương tới khai thác tính độc quyền toàn cầu về sản xuất các nguồn tài nguyên sống còn như các khoáng sản dạng đất hiếm. Trung Quốc đã đóng vai trò mạnh mẽ hơn, làm tăng mối quan ngại ở Châu Á và ở phạm vi rộng lớn hơn. Thực tế, Trung Quốc càng mở cửa làm ăn kinh tế theo phương Tây thì tư tưởng chính trị càng Tầu hơn. Tầng lớp có quyền lực của Trung Quốc, bằng cách quay lưng lại với học thuyết Marxist được nhập khẩu từ Phương Tây, đang đưa chủ nghĩa quốc gia Trung Quốc vào trung tâm của tính chính đáng chính trị. Kết quả là sự quyết đoán mới của Trung Quốc trở nên ngày càng gắn bó với sự đổi mới quốc gia.
Trên bối cảnh này, việc Trung Quốc gia tăng sử dụng cuộc chiến lén lút nhằm đạt được các mục tiêu chính trị và quân sự đang trở thành một nguồn bất ổn chiến lược chính ở Châu Á. Các công cụ được tận dụng rất đa dạng từ việc tiến hành các cuộc chiến tranh kinh tế tới việc tạo ra tầng lớp chiến binh lén lút mới dưới vỏ bọc là các cơ quan bán quân sự như Cục An toàn Hàng hải (the Maritime Safety Administration), Cơ quan Kiểm ngư (the Fisheries Law Enforcement Command) và Cục Hải dương Quốc gia (the State Oceanic Administration).
Các cơ quan này với sự hỗ trợ của Hải quân Trung Quốc đang trong đội quân làm thay đổi hiện trạng theo hướng có lợi cho Trung Quốc ở Biển Hoa Nam (Biển Đông) và Biển Hoa Đông. Trung quốc đã đạt được một số thành công rồi và các thành công đó khuyến khích họ theo đuổi sự quyết đoán đa phương chống lại nhiều nước láng giềng cùng một lúc.
Ví dụ sau cuộc dằng co nhiều tháng với Philippines, Trung Quốc đã kiểm soát thực tế Bãi Scarborough từ năm ngoái (2012, ND) bằng cách dàn đội tầu xung quanh bãi đó và từ chối không cho đối phương tiếp cận. Ngư dân Philippines không còn có thể vào khu vực đánh bắt cá truyền thống của mình được nữa.
Với các tàu Trung Quốc nằm bao vây, Philippines đã bị đối mặt chỉ với một lựa chọn chiến lược: hoặc chấp nhận thực tế do Trung Quốc áp đặt hoặc chấp nhận nguy cơ nổ ra chiến tranh.
Thậm chí khi Trung Quốc đã làm thay đổi hiện trạng trên thực tế trên hiện trường, Mỹ hầu như đã không trợ giúp gì cho đồng minh của mình là Philippines. Mỹ cứ giục hai bên kềm chế và cẩn trọng sau khi một tàu chiến của Philippines chuẩn bị tấn công vào các tàu của Trung Quốc gần bãi ngầm một năm trước, sự việc này thúc đẩy Trung Quốc tấn công Philippines trên lĩnh vực kinh tế.
Bắc Kinh đã tìm cách làm phá sản nhiều chủ vườn trồng chuối ở Philippines và tấn công vào ngành công nghiệp du lịch ở Philippines bằng cách hạn chế nhập khẩu chuối và ra khuyến cáo hạn chế du lịch tới Philippines. Bãi cạn này nằm cách xa lục địa Trung Quốc trên 800 km nhưng nằm gọn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines theo Công ước luật biển.
Trong cuộc chiến lén lút của Trung Quốc nhằm tranh giành quyền quản lý mấy thập kỷ của Nhật Bản đối với Quần đảo Senkaku, Bắc Kinh đã giành được thành công trong bước đầu, làm cho cộng đồng quốc tế nhận biết về sự tồn tại của tranh chấp [ở đây]. Theo nghĩa đó, cuộc chiến tranh xói mòn mà Trung Quốc tiến hành chống Nhật Bản trên quần đảo Senkaku đã khuấy động lên hiện trạng tranh chấp.
Bằng cách điều các tầu tuần tiễu thường xuyên đến quấy nhiễu vùng nước xung quanh quần đảo vào mùa thu năm ngoái (2012), và bằng cách cố tinh vi phạm vùng không phận của quần đảo, Bắc Kinh đã phớt lờ nguy cơ một cuộc cuộc xô xát có thể diễn biến ngoài tầm kiểm soát kéo theo hậu quả thảm khốc. Quả thực Trung Quốc đã thực hiện hành động khiêu khích liều lĩnh vào đầu năm nay (2013) khi tầu Trung Quốc chĩa ra đa định vị mục tiêu tấn công vào một tầu Nhật Bản, một hành động tương tự với việc người bắn tỉa chỉnh chấm đỏ trong máy ngắm laser ngay vào trán của một mục tiệu chọn trước!
Cuộc chiến lén lút chống lại Nhật Bản cũng xuất hiện dưới dạng chiến tranh kinh tế, với việc Trung Quốc tẩy chay không chính thức hàng hóa của Nhật Bản dẫn đến sự giảm sút xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản tới Trung Quốc và sự suy giảm việc bán sản phẩm của Nhật sản xuất ở Trung Quốc.
Mỹ đã phản ứng gì đối với tất cả những điều này? Mỹ đã thúc giục cả đồng minh Nhật lẫn đối tác kinh tế Trung Quốc hãy làm dịu cuộc khủng hoảng chính trị đối với quần đảo không người ở này. Bộ trưởng quốc phòng Leon E. Panetta nói với các nhà báo trong chuyến viếng thăm Nhật Bản hồi tháng 9 năm 2012 rằng “Tôi quan ngại khi hai nước này dính vào các khiêu khích theo bất kỳ cách nàođối với quần đảo này và điều đó có thể làm tăng khả năng bên này hay bên kia suy xét nhầm lẫn có thể dẫn đến bạo lực và có thể tạo ra một cuộc xung đột vũ trang.”
Trung Quốc, ngoài việc muốn nắm quyền  bá chủ đối với Biển Hoa Nam và đối với phần lớn Biển Hoa Đông, còn từng bước gia tăng áp lực chiến lược lên Ấn Độ theo nhiều phương diện, bao gồm cả việc gây ra tranh chấp lãnh thổ. Không giống như Nhật Bản, Philippines và một số nước Châu Á khác ngăn cách với Trung Quốc bởi đại dương, Ấn Độ có đường biên giới trên bộ còn tranh chấp với Trung Quốc  dài nhất trên thế giới. Ví thế Ấn dễ bị sức ép quân sự trực tiếp của Trung Quốc hơn.
Bất động sản lớn nhất mà Trung Quốc đang tìm kiếm không phải ở Biển Hoa Nam hay Biển Hoa Đông mà thậm chí không phải là Đài Loan, mà là Ấn Độ, bang Arunachal Pradesh, lớn gấp ba Đài Loan và gấp đôi Thụy Sỹ. Sự căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Ấn Độ gia tăng với cùng lý do giống như trường hợp ở Biển Hoa Nam và Biển Hoa Đông – thực hiện các động thái phá vỡ hiện trạng.
Mặc dù Chính phủ Ấn Độ chọn cách làm nhẹ bớt hành động của Trung Quốc để không khơi dậy sự gây hấn lớn hơn, những con số theo quan sát từ 2007 cho thấy rằng số các vụ tấn công lén lút của Trung Quốc vào lãnh thổ của Ấn Độ lại gia tăng vào năm ngoái. Với vùng biên cương Himalaya rộng lớn không cư trú được và do vậy khó tuần tra đầy đủ có hiệu quả, quân đội Trung Quốc đã nhiều lần lẻn qua để châm chọc Ấn Độ đồng thời có thể để dịch chuyển đường biên giới về phía nam.
Trong trường hợp mới đây nhất, một trung đội lính Trung Quốc đã lẻn qua khỏi đường biên giới 10 km xâm nhập vào trong vùng đất tranh chấp ở khu vực Ladakh thuộc bang Kashmir vào một đêm tháng tư, và lập trại ở đó. Sự xâm nhập này đã châm ngòi một cuộc đối đầu quân sự nguy hiểm làm cho Ấn Độ phải gửi gấp quân đội tới khu vực đó.
Như trong trường hợp tranh chấp lãnh thổ trên bộ và trên biển, Trung Quốc tìm cách phá vỡ hiện trạng đối với các dòng sông quốc tế chảy tới các nước láng giềng. Cũng giống như Trung Quốc đã ngấm ngầm xâm nhập vào vùng đất tranh chấp trong quá khứ để thể hiện “việc đã rồi” (fait accompli), Trung Quốc đang tìm cách thay đổi dòng chảy các con sông chảy qua biên giới các nước bằng cách tiến hành các dự án xây dựng đập một cách lén lút.
Trung Quốc đánh giá cao việc khống chế dòng chảy các con sông xuyên qua biên giới các nước trong việc thu đạt đòn bẩy kinh tế chính trị lớn hơn đối với các nước láng giềng. Sức mạnh, quyền khống chế và đòn bẩy là các yếu tố trọng tâm trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Một khi các đập ngăn nước theo kế hoạch trên các con sông liên quốc gia mà hoàn thành thì Trung Quốc sẽ giành được đòn bẩy ngấm ngầm chống lại động thái của các nước láng giềng.
Theo ánh sáng này các mối quan hệ ngày càng ngang ngạnh của Trung Quốc với các nước láng giềng và Mỹ đặc trưng bởi sự giảm sút an ninh và sa sút chuẩn mực được tạo ra để đối mặt với những thách thức mới. Thuyết phục Trung Quốc chấp nhận hiện trạng [đúng với sự thực] trở thành điều mấu chốt cho hòa bình và ổn định ở Châu Á.
Tác giả: Brahma Chellaney. Người dịch: Nguyễn Đức Hùng. Hiệu đính:Phan Song
Brahma Chellaney nhà địa chiến lược, tác giả của “Asian Juggernaut” (Tên cuồng Châu Á) (HarperCollins) và “Biển, Hòa Bình và Chiến Tranh” (Rowman & Littlefield)