Showing posts with label tính chính danh. Show all posts
Showing posts with label tính chính danh. Show all posts

Saturday, July 6, 2013

Trung Quốc đang đùa với lửa

David Brown
David Brown là một cây bút tự do và trước đây là nhà ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam.
(Bài viết này được đăng tải lần đầu tiên trên số tháng 6, 2013 của tạp chí điện tử China Economic Quarterly, do công ty Gavekal Dragonomics (Hương Cảng) xuất bản.
Bản dịch có hiệu đính của chính tác giả có đăng ở đây: 1882. Trung Quốc đùa với lửa )

Theo Mỹ thì mất đảng; theo Tàu thì mất nước. Câu nói phổ biến này ở Việt Nam, vạch rõ nan đề địa chính trị mà Đảng Cộng sản cầm quyền đang đối mặt. Bốn mươi năm sau khi toán lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, cái Đảng giành được độc lập và thống nhất cho đất nước đang mất đi phần lớn tính chính đáng (legitimacy) của mình. Có quay ra đề cao đạo đức của Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đến mấy cũng không thể lấy lại được sự tín nhiệm và có vẻ cũng không nhổ bỏ được nạn tham nhũng có hệ thống. Trách nhiệm lớn nhất của chế độ là đã thất bại trong việc chỉnh đốn nền kinh tế sút kém. Nhưng dư luận cũng khinh thường về sự bất lực của Đảng trong việc bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trước Trung Quốc (TQ).

Theo cái nhìn của người dân thường ở Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Kinh đã vứt bỏ lớp vỏ bọc "trỗi dậy hòa bình" và quay lại vai trò trong lịch sử là kẻ côn đồ trong khu vực. Tuyên bố lố bịch của họ đối với tài nguyên khoáng sản biển trên toàn bộ biển Đông chỉ là ví dụ nổi trội nhất. Việc TQ xây dựng một chuỗi các con đập trên thượng nguồn sông Mê Kông ở tỉnh Vân Nam và trợ giúp cho kế hoạch xây dựng thêm mười một con đập hạ lưu ở Lào đe dọa xoá mất đi đợt lũ lụt hàng năm vốn duy trì màu mỡ vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Các doanh nghiệp TQ cũng đang săn đuổi các nguồn tài nguyên khoáng sản và gỗ của Lào, thách thức quyền bá chủ Việt Nam tại sân sau của họ. Ở ngay chính Việt Nam, sự gia tăng đầu tư của các công ty kỹ thuật, xây dựng và khai thác mỏ - đáng chú ý là dự án bauxite nhiều tỷ đô la của Chinalco ở Tây Nguyên - đã lôi kéo sự chỉ trích nặng nề. Hàng hóa giá rẻ và thường kém chất lượng của TQ đã tràn ngập thị trường Việt Nam, đang đè bẹp các nhà sản xuất địa phương.
Người dân thường muốn trả đũa. Họ không nghĩ tới chuyện lực lượng vũ trang của Việt Nam là không sánh được với TQ hay Việt Nam rất dễ bị tổn hại bởi việc trả đũa kinh tế. Các nhà phân tích phương Tây thường gán sự "lấn lướt" của TQ cho sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc trong dân chúng và cho sự tận tuỵ thái quá các cơ quan an ninh, nhưng đối với người Việt Nam bình thường rõ ràng là sự gây hấn của TQ có sự điều phối từ Bắc Kinh. Điều đó không có gì mới: chủ đề lớn trong lịch sử đất nước này mà mọi người đều học ở trường, là sự chống trả ngoan cường và cuối cùng giành thắng lợi đối với nhiều kẻ xâm lược. Và hầu hết các đội quân tràn qua biên giới Việt Nam trong 2000 năm qua đều là quân TQ. Hiện nay không có lý do gì để phải khác đi.

Quan hệ đối tác gai góc

Việt Nam và TQ có chung đường biên giới 1 350 km và nhiều thứ nữa. Cả hai nước đều là những nước Leninist với một nền văn hóa chính trị được hình thành từ những ý tưởng tân Nho giáo về hệ thống tầng bậc tuyển chọn theo tài năng và các mối quan hệ được vun quén. Đảng Cộng sản cầm quyền của hai nước này đã trụ được bằng cách rủ bỏ nền kinh tế Marxist trong khi vẫn dung dưỡng một bộ máy an ninh nhà nước trùm khắp. "Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" của họ cho phép thị trường tự do sôi động cùng tồn tại với hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước đang thống trị ngành công nghiệp nặng. Cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội đang bị công kích bởi những lời chỉ trích mạnh bạo của những người bất đồng chính kiến trên internet. Những yếu tố văn hóa và chính trị chung này là nền tảng cho một mạng lưới tham vấn giữa hai Đảng và hai Nhà nước nhằm vào việc duy trì sự hợp tác giữa hai chế độ.

Tuy nhiên, quan hệ song phương thường là gai góc. Sự chênh lệch quá xa về địa chính trị và kinh tế của TQ nói lên rằng mối quan hệ với Việt Nam về cơ bản là không công bằng. Thảng hoặc khi nào người TQ chú ý đến Việt Nam, họ thường coi đó như là một tỉnh ngang ngạnh mà bằng cách nào đó đã vuột khỏi tầm tay của họ. Ngược lại, 90 triệu cư dân Việt Nam luôn có nhận thức không thoải mái về người hàng xóm phía bắc, vốn đông dân gấp 15 lần và có nền kinh tế lớn gấp 50 lần. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ không cúi đầu khuất phục Bắc Kinh khi sự toàn vẹn lãnh thổ bị đe dọa. Trừ Hồ Chí Minh ra, những anh hùng vĩ đại nhất của họ đều là các vị tướng đã buộc quân xâm lược TQ hết triều đại này tới triều đại khác phải tháo lui. Gần đây nhất là năm 1979, khoảng 20 000 binh sĩ TQ đã bị thiệt mạng khi Đặng Tiểu Bình tìm cách "dạy cho Việt Nam một bài học" vì đã cả gan lật đổ chế độ Maoist do Bắc Kinh bảo trợ ở Campuchia và lập thành đồng minh với Liên Xô.

Vào giữa những năm 1990, quan hệ TQ và Việt Nam tương đối êm ả trở lại. Cả hai nước đều bận tâm với cải cách kinh tế, Liên Xô đã tan rã, và TQ quảng bá việc "trỗi dậy hòa bình" của họ với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), bây giờ gồm cả Việt Nam. Thương mại song phương đã mở rộng, đã có các cuộc thảo luận nâng cấp "hành lang thương mại" từ vùng đất liền không có biển phía tây nam TQ tới các cảng của Việt Nam, và các đàm phán phân định biên giới đất liền đã tiến triển tốt. Thậm chí những tuyên bố xung khắc về quyền sở hữu các rạn san hô, đá và bãi ngầm của biển Đông dường như đã được đặt dưới sự kiểm soát, nếu không nói là gần đạt tới giải pháp.

Tuy nhiên mọi thứ đã thay đổi trong năm 2009. Dù do tính toán hoặc rủi ro ngoại giao, TQ không còn bằng lòng gác lại các yêu sách chồng lấn Tháng 5 năm đó, TQ đã đưa ra trước Liên Hiệp Quốc một bản đồ mập mờ tuyên bố "chủ quyền không thể tranh cãi" hơn 85% biển Đông. Sau đó căng thẳng leo thang nhanh chóng, lôi kéo các nước ngoài khu vực - kể cả Hoa Kỳ- vào và thách thức mức kết dính của ASEAN. Việt Nam và Philippines gánh chịu phần lớn sức nặng chủ yếu của bước đi này của TQ co họ cố tạo dựng nhiều"sự kiện", mặc dù không phù hợp với luật pháp quốc tế nhưng rất khó để bác bỏ. Tình cảm dân tộc chủ nghĩa đang sụt sôi ở cả ba nước, đe doạ gây ra xung đột vũ trang trên biển. Chính sách phục tùng TQ của Hà Nội đối với  bị phá sản.

Nhiều nhân sĩ trí thức ngoài Đảng, cũng như một số ngay bên trong Đảng, tin rằng giải pháp là tìm kiếm một liên minh kinh tế và quân sự trên thực tế (de facto) với Mỹ. Tuy nhiên, những thành viên cao cấp trong Đảng còn rất hoài nghi về ý định của Mỹ, tự coi như còn bị trói chặt trong cuộc xung đột sống còn với chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Họ chỉ miễn cưỡng thực hiện những cải cách nhắm tới việc thiết lập khả năng cạnh tranh kinh tế toàn cầu của đất nước và lôi kéo Hoa Kỳ vào làm đối trọng với TQ. Nhóm ‘bảo thủ’ trong Đảng ngậm miệng trước các đòi hỏi của Hoa Kỳ muốn Việt Nam có được các quyền tự do dân chủ nhiều hơn, vì sợ rằng mục tiêu thực sự của Washington là nhằm lật đổ chế độ Cộng sản. Đối với tất cả các xích mích gần đây, họ không tin rằng các nhà lãnh đạo TQ sẽ phản bội một Đảng Cộng sản cầm quyền giống như chính đảng CS TQ.

Vẫn đang chờ một chiếc bánh từ trên trời rơi xuống

Thật ra, hiện nay TQ quan tâm ít hơn rất nhiều tới việc giúp đỡ anh bạn Cộng sản bám lấy quyền lực so với việc khai thác tài nguyên trong khu vực và vươn vòi bạch tuộc kinh tế ra xa. Với nguồn tín dụng xuất khẩu dồi dào và khả năng vay vốn ưu đãi từ các ngân hàng nhà nước, các công ty TQ đã trở thành đối thủ chính trong việc phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, đặc biệt là việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện. Nói chung các công ty TQ không chèn ép các nhà thầu Việt Nam, mà giật lấy các hợp đồng công việc từ tay các đối thủ cạnh tranh Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ hoặc châu Âu bằng cách chào thầu với giá thấp. Nhưng các nhà phê bình cáo buộc các doanh nghiệp TQ về dùng lao động đồng hương và làm ra công việc có chất lượng thấp, thường không đúng hạn và chi phí quá mức.Phe quan tâm tới an ninh Việt Nam khẳng định thêm rằng sự phụ thuộc vào các nhà thầu TQ trong các lĩnh vực chiến lược như năng lượng sẽ làm suy yếu nền an ninh quốc gia.

Một chủ đề tranh cãi khác là thâm hụt thương mại tăng cao của Việt Nam với TQ, đối tác thương mại lớn nhất của họ mà nhà kinh tế Trần Văn Thọ gọi là "cơn sóng thần công nghiệp." Cán cân thương mại của Việt Nam với chín nước ASEAN khác và với Nhật Bản là tương đối cân bằng, và có thặng dư lớn với Liên minh châu Âu và Mỹ. Nhưng với TQ lại bị thâm hụt 16,4 tỷ USD năm 2012, giúp cho TQ có thặng dư thương mại song phương là 40%. Phần lớn hàng xuất khẩu của TQ đều ở dạng bán thành phẩm để gia công tiếp trong các nhà máy chế biến xuất khẩu của Việt Nam: vải, dây kéo, nút, dây điện, bảng mạch, và các loại vật dụng khác. Nhưng TQ cũng cung cấp hàng đắt giá hơn - máy móc trang bị cho các nhà máy của Việt Nam và xây dựng cơ sở hạ tầng. Thành phần thứ ba và rất dễ thấy là hàng tiêu dùng, giá dưới mức các đối thủ cạnh tranh trong nước. Báo chí Việt Nam thường xuyên có những câu chuyện cáo buộc rằng TQ tuồn hàng độc hại hoặc chất lượng kém vào VN, và bất kì động thái khiêu khích nào của Bắc Kinh ở biển Đông đều lập tức dẫn đến các kêu gọi tẩy chay hàng hóa TQ.

Thực tế không hẵn đi theo cách này. Theo dự đoán của các nhà kinh tế, tới giờ nàyđúng ra Việt Nam phải giành trọn miếng bánh từ tay Quảng Đông. Với chi phí lao động thấp hơn, Việt Nam là điểm đến thuận lý để cho các nhà máy từ trung tâm chế xuất của TQ di dời tới nơi rẻ hơn. Các ngành công nghiệp quần áo lao động và giày dép từ lâu chiếm khoảng 20% xuất khẩu của Việt Nam, đã lấy được bước khởi đầu trong thâp niên1990 khi hàng may mặc và giày dép xuất khẩu của TQ bị giới hạn theo hạn ngạch của EU và Mỹ. Tuy nhiên, năng suất lao động vẫn còn thấp, tiền lương thực tế tăng ở mức 10% một năm trong 2006-11, và Việt Nam đã thất bại lớn trong việc thu hút các nhà sản xuất có cơ sở đóng ở TQ. Do chi phí lao động tiếp tục tăng ở cả TQ lẫn Việt Nam, các nhà máy đang chuyển sang Campuchia, Bangladesh và thậm chí Myanmar.
Tình hình kinh tế Việt Nam không phải hoàn toàn xấu. Khi nền kinh tế toàn cầu từ từ phục hồi, khu vực đầu tư nước ngoài của Việt Nam sẽ lại tăng lên. Thay vì chuyển nhà máy khỏi TQ, một số công ty đa quốc gia và các nhà thầu của họ đã đa dạng hóa cơ sở sản xuất của họ bằng cách mở thêm các hảng xưởng tại Việt Nam. Bằng chứng bên lề cho thấy một xu hướng rõ rệt đối với các khoản đầu tư chất lượng cao hơn, có thể hưởng lợi từ việc giảm thuế đáng kể. Các công ty thành lập hoặc mở rộng nhà máy lắp ráp bao gồm những cái tên nổi tiếng như Canon, Samsung, Intel và IBM, Hitachi, Panasonic và Nokia. Tuy nhiên, gần như tất cả các yếu tố đầu vào để sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam đều là nhập khẩu, một số từ TQ. Tất cả những gì được thêm vào ở Việt Nam, chủ yếu chỉ là lao động chân tay– cái mà TQ có thể làm hiệu quả hơn và trên một quy mô lớn hơn nhiều.

Sai lầm chiến lược toàn diện

Năm 2008 khép lại một giai đoạn nồng ấm trong quan hệ hai nước, Hồ Cẩm Đào và người đồng cấp Việt Nam tuyên bố một "quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện" song phương. Và nếu TQ thực sự quan tâm đến việc vun quén một quan hệ đặc biệt với chế độ cộng sản "XHCN thị trường" duy nhất trên thế giới - và do đó tăng cường sức mạnh ngoại giao ở Đông Nam Á - thì Bắc Kinh đứng ở vị thế giúp đỡ. Mặc dù nhà cầm quyền Việt Nam thừa nhận không lo lắng về sự mất cân bằng thương mại song phương, tuy nhiên đó vẫn là một trách nhiệm chính trị thường trực. TQ nhập khẩu nhiều cao su, than, dầu, gỗ, nông sản và các loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, nhưng chẳng màng tới hàng công nghiệp của Việt Nam. Động thái thân thiện trong việc tăng thêm nhập khẩu công nghiệp sẽ không gây tốn kém nhiều cho TQ nhưng lại là tin rất tốt cho Hà Nội. Trên hết, một đề nghị chân thành về việc cùng khai thác tài nguyên khoáng sản và cùng quản lý nguồn cá trong khu vực tranh chấp ở biển Đông có thể là một sự kiện đột biến – cho cả mối quan hệ với Việt Nam lẫn với các nước ASEAN.

Tuy nhiên, thực tế là quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã trở nên bất ổn một cách nguy hiểm kể từ thỏa thuận năm 2008. Sức ép của TQ về các vấn đề chính trị và chiến lược đã o ép các nhà lãnh đạo Việt Nam, có lẽ tới mức đe dọa sự sống còn của họ. Bắc Kinh đã tăng cường được vị thế họ trong những người dân tộc chủ nghĩa TQ qua việc phô trương sức mạnh của họ ở biển Đông. Trong khi đó những nỗ lực chống lại hành động khiêu khích của TQ thiếu hiệu quả của Hà Nội đã liên tục làm xói mòn vị thế của họ đối với công chúng Việt Nam. Chưa có xung đột vũ trang nên rất khó để tưởng tượng ra TQ có thể làm thêm gì nữa để đẩy nhanh sự sụp đổ của người vừa là bạn bè vừa là đồng minh ý thức hệ của mình trong chế độ "XHCN thị trường" khác duy nhất trên thế giới. Rất có thể, khi các nhà lãnh đạo hiện nay rời vị trí thì các nhà lãnh đạo mới sẽ tìm cách hâm nóng quan hệ với Hoa Kỳ – một kết cục thất bại hoàn toàn do TQ tự chuốc lấy.
Đáng lo ngại hơn, một cuộc xung đột vũ trang giữa chừng không phải là điều viễn tưởng. TQ có binh lực lực hơn Việt Nam rất xa, nhưng Hà Nội đang gia tăng khả năng ngăn chặn trên không và ngoài biển. Nếu bị dồn vào chân tường, lịch sử cho thấy rằng Việt Nam sẽ đánh trả. Một tính toán sai lầm của bên này hay bên kia đều có thể dẫn đến đánh nhau. Điều này sẽ gay gắt và đẫm máu, với những hậu quả không thể đoán trước. TQ có thể tiếp tục dỡ trò bắt nạt - nhưng họ đang đùa với lửa.

Tuesday, June 11, 2013

Tính chính danh của đảng cầm quyền và trách nhiệm cải cách

(Xin giới thiệu bài viết tâm huyết của TS. Vũ Minh Khương, Đại học Quốc gia Singapore vừa đăng ở http://viet-studies.info/kinhte/VuMinhKhuong_ChinhDanhCuaDang.pdf)

Việt Nam đang bước vào một thời kỳ có tính bước ngoặt. Đất nước đang đứng trước những
khó khăn, hiểm họa, và dường như bế tắc trong con đường đi lên.1 Song, người dân và xã hội
cũng đã chuyển mình thức tỉnh trước những đòi hỏi cấp bách và vận hội to lớn cho cho sự trỗi
dậy của dân tộc.

Tình thế đang đòi hỏi cải cách đột phá, chiến lược, và sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực. Nó
không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế (như cải cách cơ cấu, cải cách hệ thống ngân hàng,
cải cách doanh nghiệp nhà nước) hay xã hội (như cải cách giáo dục) mà cả chính trị và thể
chế. Trong tinh thần đó, bài viết này đi sâu vào một nội dung có tính nền tảng cho các nỗ lực
cải cách này; đó là tính chính danh của đảng cầm quyền và trách nhiệm cải cách. Bài viết
đề cập tới ba nội dung chính: (1) Tính chính danh của đảng cầm quyền; (2) Các lựa chọn cho
hành động; và (3) Một số kiến nghị cụ thể.

1. Tính chính danh của đảng cầm quyền

Tính chính danh của một đảng cầm quyền thể hiện ở hai mặt: hình thức và nội dung. Về hình
thức, đảng có chính danh nếu giành quyền lãnh đạo của mình qua bầu cử dân chủ trong một
hệ thống đa đảng. Về nội dung, đảng có chính danh nếu sự cầm quyền của đảng thỏa mãn
người dân trong năm thước đo chủ đạo sau:

1. Cuộc sống yên bình: người dân không phải sợ hãi về sự hoành hành của trộm cắp,
cướp giật, bạo lực, tệ nạn xã hội (như nghiện hút, mại dâm, cờ bạc), và tai nạn giao
thông.
2. Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia: người dân thấy chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ của đất nước được nhà nước gìn giữ cẩn trọng vẹn toàn như một báu vật thiêng
liêng mà tổ tiên để lại.
3. Phát triển kinh tế: người dân thấy mức sống của mình được nâng lên không ngừng;
cơ hội kiếm việc làm và học tập dồi dào; bộ mặt đất nước đổi thay nhanh chóng.
4. Gắn kết xã hội: Lòng tin lẫn nhau trong xã hội không bị xói mòn bởi bất công, chụp
giật, đặc quyền đặc lợi của con ông cháu cha và những kẻ tham nhũng. Người dân có
ý thức cộng đồng cao và cùng chia sẻ một khát vọng chung về viễn cảnh tươi sáng của
đất nước.
5. Phẩm chất người lãnh đạo: đa số người dân cảm phục người lãnh đạo về tầm nhìn,
phẩm chất hiến dâng, và năng lực nắm bắt đổi thay trong quyết sách và hành động;
nạn tham nhũng được kiểm soát, người hiền tài thỏa sức thể hiện tài năng.

Sự thỏa mãn của người dân trong năm tiêu chí nói trên có thể không giống nhau do sự khác
biệt về nhiều mặt như mức độ thành công, hoành cảnh sống, tuổi tác, ngành nghề, nơi sinh
sống,… Tuy nhiên, số liệu tổng hợp từ cách đo đơn giản từ 1 đến 5 của sự hài lòng (5=cao;
4=khá; 3=trung bình; 2=thấp; 1=rất thấp) có thể cho ta một bức tranh khái quát về tính chính
danh của đảng cầm quyền trong một quốc gia được khảo sát:

 Nếu độ hài lòng cao từ 4 trở lên, đất nước này đang trỗi dậy trong sự phấn chấn cao
độ của lòng dân. Tính chính danh của đảng cầm quyền rất cao, dễ dàng giành sự ủng
hộ mạnh mẽ của đa số nhân dân.
 Nếu độ hài lòng cao từ 3 đến dưới 4, đất nước này đang trong quá trình phát triển ổn
định. Tính chính danh của đảng cầm quyền còn khá vững, nhưng nó phải nỗ lực cao
để bảo vệ tính chính danh của mình trước thách thức của các đảng đối lập.
 Nếu độ hài lòng từ 2 đến dưới 3, tính chính danh của đảng cầm quyền thấp ở dưới
mức yêu cầu. Người dân bi quan, ức chế, và mong muốn đổi thay. Họ sẽ thay thế
đảng cầm quyền trong cuộc bầu cử gần nhất.
 Nếu độ hài lòng từ 1 đến dưới 2 thì tính chính danh của đảng cầm quyền ở mức tồi
tệ. Mức độ thấp này thường trở nên rất nghiêm trọng trong các xã hội độc đoán.
Biểu tình phản đối có thể nổ ra rộng khắp nếu tình hình này kéo dài và đòi hỏi đổi
thay của người dân không được đáp ứng. Vũ khí phê phán được thay thế bởi sự phê
phán bằng vũ khí theo ngôn từ của Karl Marx.2 Mùa Xuân Ả Rập là một ví dụ sống
động.

Hiện chưa có khảo sát thực nghiệm kỹ càng tính chính danh của Đảng Cộng Sản Việt Nam
nên các nhận xét có thể còn thiên về cảm tính. Tuy nhiên, nhiều nhận định gần đây cho thấy
tính chính danh của Đảng có dấu hiệu giảm sút rõ rệt. Để có một nhận định khoa học và toàn
diện hơn, người viết bài này sẵn sàng cùng các nhà nghiên cứu trong nước tiến hành khảo sát
thấu đáo ý kiến đánh giá của mọi tầng lớp nhân dân trong khắp các địa phương trong cả nước.

2. Các lựa chọn hành động
Trong một hệ thống chính trị đa đảng, đảng cầm quyền sẽ bị thất cử nếu tính chính danh của
nó theo năm tiêu chí trình bày ở trên thấp dưới mức yêu cầu của đa số nhân dân. Sự thay đổi
đảng cầm quyền như vậy là cần thiết; không chỉ cho người dân lựa chọn một đảng cầm quyền
mới mà cũng buộc đảng mất quyền phải cải cách để hồi sinh với sức sống và tầm nhìn mới để
có thể thắng trong các cuộc bầu cử tiếp theo . Nhờ vậy xã hội có động lực cải biến và phát
triển không ngừng.

Trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, do lịch sử để lại, Đảng Cộng Sản hiện độc quyền lãnh
đạo và đã có những cố gắng đổi mới đáng trân trọng. Thế nhưng năng lực lãnh đạo hiện nay
của Đảng còn rất thấp so với yêu cầu. Trước tình hình này, Đảng có bốn phương án lựa chọn
(Hình 1 khái quát bốn phương án lựa chọn này):

2.1. Phương án I: Không chấp nhận hệ thống chính trị đa đảng nhưng cũng không nỗ lực cải
cách đặc biệt để nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng mặc dù nó đã ở vào mức báo động.
Đây là phương án dễ lựa chọn nhất vì nó không đòi hỏi cố gắng gì đặc biệt mà chỉ cần đưa ra
một số giải pháp xoay sở nhằm giải quyết những khó khăn, bức xúc trước mắt; chẳng hạn
như, tiến hành kiểm điểm cá nhân để ngăn chặn nạn tham nhũng tràn lan, lập thêm ban bệ
nhằm tăng thêm quyền lực cho đảng, coi trọng hơn công tác dân vận để giảm bớt sự bất bình
của nhân dân, xiết chặt tín dụng để kiểm soát lạm phát, làm cầu vượt tạm để giảm ách tắc
giao thông, khai thác cạn kiệt tài nguyên để tăng thu cho ngân sách.
Thế nhưng, phương án này lại là cách lựa chọn nguy hại nhất bởi nó không chỉ làm đảng mất
quyền lãnh đạo trong một ngày không xa mà còn làm tổn thất lớn nhất đến công cuộc phát
triển đất nước. Theo qui luật phát triển khái quát, một chính đảng chối bỏ cải cách để cố gắng
xoay sở trong tình trạng bế tắc thường đi đến hai hiện trạng phổ biến: mâu thuẫn nội bộ gia
tăng trong sự chia rẽ và phân rã của tổ chức; quyết sách loay hoay trước những biến động
khắc nghiệt dẫn đến những kết cục và tổn thất không lường trước được.

2.2. Phương án II: Không chấp nhận hệ thống chính trị đa đảng nhưng tập trung mọi nỗ lực
cho cải cách nhằm nâng cấp năng lực lãnh đạo của đảng.
Đây là một phương án của mong muốn chủ quan. Nó có thể khả thi trong một số hoàn cảnh
nhất định; nhưng không bền vững về lâu dài. Kinh nghiệm Hàn Quốc, Chi-lê, và Đài Loan
cho thấy, dân chủ hóa trở thành một nhu cầu có tính then chốt. Nó là động lực mạnh mẽ có
tính nền tảng cho đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế-xã hội.
Với Việt Nam trong hoàn cảnh hiện tại, phương án này hoàn toàn không còn khả thi. Kết quả
Hội nghị Trung ương 6 và 7 vừa qua cho thấy nếu không có sự chiếu rọi bởi ánh sáng mặt
trời của lòng dân thông qua hệ thống chính trị đa đảng thì đảng không thể nào tự thoát ra
được tình trạng mọt ruỗng và xuống cấp hiện tại.

2.3. Phương án III: Cải cách chính trị, chấp nhận đa đảng; trong khi thiếu quyết tâm và
chiến lược cho nỗ lực nâng cao vượt bậc năng lực lãnh đạo của đảng.
Phương án này tốt hơn nhiều so với Phương án I vì nó là một cách hữu hiệu giúp đất nước ra
khỏi bế tắc hiện nay. Tuy nhiên, nó không phải là phương án tối ưu cho Đảng cũng như cho
đất nước. Đảng có thể mất quyền lãnh đạo trong khi đất nước có thể rơi vào mất ổn định
chính trị một thời gian trước khi chuyển sang giai đoạn phát triển ổn định.

2.4. Phương án IV: Cải cách toàn diện hệ thống chính trị, chấp nhận đa đảng, đồng thời
dùng động lực cải cách này để nâng cấp vượt bậc năng lực lãnh đạo của đảng.
Thổi vào xã hội và chính mình liều thuốc hồi sinh để cùng trỗi dậy trong sự thôi thúc của ý
chí dân tộc từ ngàn đời và ý thức trách nhiệm cao cả với tương lai. Theo phương án này,
Đảng sẽ thu phục được lòng dân và rất nhiều người tài, mở ra một thời kỳ phát triển vẻ vang,
hiền tài nhiều không kể xiết, mà lịch sử ngàn năm sau còn hãnh diện tự hào. Khi đó chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ không chỉ bằng nền kinh tế và quốc phòng hùng
mạnh mà còn bằng trí tuệ và con tim của muôn triệu người Việt Nam và sự trân trọng và
ngưỡng mộ của cả cộng đồng thế giới.

Qui luật phát triển đã chỉ ra rằng tương lai của đất nước khi trỗi dậy không bị chi phối bởi
những khiếm khuyết và khó khăn hiện thời mà phụ thuộc hoàn toàn vào truyền thống tiềm
tàng của dân tộc và quyết sách quả cảm của người lãnh đạo. Do vậy, những những khó khăn
yếu kém ngổn ngang hôm nay không phải là trở ngại gì lớn nếu những người lãnh đạo quyết
tâm lựa chọn phương án cho sự trỗi dậy này của đất nước.

Hình 1: Bốn phương án lựa chọn của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong tình thế hiện nay


Trước khi chuyển sang trình bày một số kiến nghị cụ thể, người viết bài này muốn chia sẻ
cùng bạn đọc câu chuyện “Trâu Kỵ khuyên vua Tề nên nghe lời can gián”3 có từ ngàn năm
trước, đại ý như sau:

Trâu Kỵ chiêm nghiệm từ bản thân thấy rằng người đời thường cho mình lời khen không thật
vì một trong ba lý do: có tư vị với mình; sợ mình; hoặc nhằm cầu cạnh với mình. Vì vậy,
người có quyền cao, chức trọng, lắm của cải chắc chắn sẽ chỉ nhận được lời ngợi khen và
không bao giờ nhận được lời phê phán chân thành vì hầu hết mọi người thân cận đều hoặc có
tư vị, hoặc sợ, hoặc muốn cầu cạnh.
Thấm thía điều này, với cương vị là tướng quốc nước Tề, ông bèn đến gặp vua Tề là Tề Uy
Vương và tâm tình: “Nước Tề vuông ngàn dậm, có tới một trăm hai chục thành; cung nữ và
kẻ tả hữu trong cung có ai dám không tuân phục Đại Vương; đình thần có ai không sợ Đại
Vương; người trong bốn cõi có ai không cầu cạnh Đại Vương. Xét vậy thì đủ biết Đại Vương
bị che lấp bởi các lời khen không thật nhiều lắm rồi!”

Tề Uy Vương thấy lời Trâu Kỵ thật xác đáng bền hạ lệnh:

“Quan lại và dân chúng ai chỉ trích thẳng vào mặt quả nhân một lỗi nào thì sẽ được thưởng
hạng nhất; ai mà dâng thư can gián quả nhân thì được thưởng hạng nhì; ai chê bai quả nhân
ở chợ hoặc ở triều đình, mà đến tai quả nhân thì được thưởng hạng ba.”

Lệnh mới ban, quần thần đến can gián, cửa cung náo nhiệt như cảnh chợ; ít tháng sau,
lời can gián giảm hẳn; một năm sau, dù muốn nói cũng không có gì để can gián.

Điều đáng nhấn mạnh thêm ở đây là Tề Uy Vương là một vị vua ham vui, bỏ bê triều chính
khi mới lên ngôi. Sau đó nhờ biết lắng nghe lời tâm huyết mà thu phục nhiều người tài giỏi,
trong đó có Trâu Kỵ và Mạnh Thường Quân, tiến hành nhiều cải cách lớn biến nước Tề thành
một trong những quốc gia cường thịnh nhất thời Chiến quốc.

3. Một số kiến nghị cụ thể

3.1. Mở Hội nghị Diên Hồng
Dân tộc Việt Nam có một vũ khí chiến lược có sức mạnh vô song nhưng chỉ dùng đến khi
không còn phương sách nào khác. Đó là ý chí và tinh thần dân tộc. Hội nghị Diên Hồng là
một hiện tượng kỳ vĩ mà ít dân tộc trên thế giới có được; nó cho phép người Việt Nam mở
kho vũ khí thần diệu của mình để vượt qua thắng lợi bất kể thế lực nào thách thức sự tồn
vong của dân tộc.
Người viết bài này đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, và Quốc hội quyết định
mở kho vũ khí chiến lược của dân tộc, mở Hội nghị Diên Hồng bàn về thực hiện phương án
IV nêu trên đây. Hội nghị có thể tập trung thảo luận để đi đến thống nhất theo ba nội dung
chủ đạo sau: (i) chiến lược dân chủ hóa đất nước; (ii) chiến lược nâng cao vượt bậc sức chiến
đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng; và (iii) chiến lược cải cách kinh tế-xã hội toàn diện để
xây dựng và bảo vệ đất nước.

3.2. Nhanh chóng cải biến Đảng thành một tổ chức học hỏi
Một chính đảng chỉ có thể có sức mạnh thời đại và năng lực lãnh đạo xã hội khi nó thực sự
trở thành một tổ chức học hỏi (learning organization). Tổ chức học hỏi được đặc trưng bởi
bốn nỗ lực mạnh mẽ và thường xuyên sau đây: (i) tìm kiếm, thu nhận, và khai thác sử dụng
nhân tài; (ii) dũng cảm thử nghiệm các ý tưởng và quyết sách mới; (iii) so sánh bản thân và
đất nước mình với những mẫu hình xuất sắc nhất để noi gương học hỏi; và (iv) không ngừng
cải tiến hoàn thiện mình.

3.3. Cải cách hiến pháp
Cải cách hiến pháp là một công việc trọng đại. Nó không chỉ xây dựng nền tảng cho một thể
chế vững bền cho đất nước phát triển mà còn là một thông điệp tới toàn dân và cộng đồng thế
giới rằng Việt Nam bước vào một chương mới trong chặng đường phát triển của mình.
Trong các góp ý về cải cách hiến pháp vừa qua, kiến nghị của nhóm 72 nhân sĩ trí thức là một
đóng góp, dù chưa hoàn hảo, nhưng có ý nghĩa và giá trị rất lớn. Đề nghị Đảng, Nhà nước và
Quốc hội đặc biệt trân trọng.
Do ý nghĩa đặc biệt quan trọng của thay đổi hiến pháp, đặc biệt trong thời kỳ bước ngoặt hiện
nay, đề nghị Quốc hội không thông qua bản sửa đổi rất tầm thường hiện nay. Chúng ta đừng
bỏ rất nhiều công sức, thời gian, và tiền bạc của nhân dân để chứng minh với người dân và
thế giới rằng chúng ta là những người manh mún về tầm nhìn, nhút nhát trong hành động, và
vô cảm trước vận mệnh sống còn của của đất nước.

3.4. Chiến lược kinh tế
Một trong những điểm yếu cốt lõi trong phát triển kinh tế của Việt Nam là thiếu tầm chiến
lược. Đất nước đang rất lệ thuộc không phải do bị thế lực ngoại bang nào xâm chiếm mà vì
lãnh đạo chưa đưa ra được một chiến lược phát triển có tầm nhìn sâu rộng và hiệu lực mạnh
mẽ. Xót xa hơn nữa, nhiều học giả nước ngoài ngạc nhiên khi thấy Việt Nam không có chiến
lược phát triển để đánh dấu 50 năm ngày thống nhất đất nước (2025) và 100 năm ngày độc
lập (2045) cho dù đất nước này đã chịu nhiều hy sinh mất mát mà khó có dân tộc nào sánh
được trong công cuộc giành độc lập và thống nhất đất nước của mình.
Một điều chúng ta nên biết là, nhiều nước trong khu vực (chẳng hạn như Indonesia
vàMalaysia) đều có chiến lược cải biến mạnh mẽ nền kinh tế hướng tới 100 năm ngày độc lập
của họ. Đặc biệt, Trung Quốc gần đây đưa ra chiến lược phát triển “nhị bách”(hai cái 100):
Năm 2020, kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản, Trung Quốc trở thành một xã
hội khá giả; Năm 2049, kỷ niệm 100 năm ngày thành lập CHND Trung Hoa, Trung Quốc trở
thành một quốc gia hoàn toàn phát triển.7

3.5. Đặc khu kinh tế Hải Phòng-Quảng Ninh
Trong nỗ lực nâng cao tính chính danh của một đảng cầm quyền, cải biến Đảng thành một tổ
chức học hỏi, trong đó dũng cảm thử nghiệm thường đem lại hiệu quả to lớn không chỉ trong
chính trị mà cả cục diện phát triển kinh tế. Thành lập một số đặc khu với qui mô lớn nhằm tạo
sức phát triển kinh tế vượt bậc nhờ sự tổng hòa cao độ của ý chí dân tộc, tinh hoa tri thức
nhân loại, và thời cơ phát triển trỗi dậy của châu Á là một bước đi cấp bách, chiến lược, và có
sức đột phá rất lớn.
Trong xem xét bước đi này, chúng ta nên tham khảo phát biểu sau đây của ông Đặng Tiểu
Bình năm 1992:
“… Nếu Quảng Đông muốn đuổi kịp bốn con rồng nhỏ châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông, và Singapore –lời người dịch) trong 20 năm tới, và muốn phát triển nhanh hơn, nó sẽ
phải tăng tốc so với nhịp độ hiện nay. Thượng Hải nhất định phải đi nhanh hơn. Bằng cách
tăng tốc phát triển, tình hình ở bốn khu kinh tế đặc biệt, ở đồng bằng sông Dương Tử, và ở
toàn Trung Quốc sẽ khác hơn hiện nay rất nhiều… Khi suy ngẫm lại, tôi thấy mình đã
phạm một sai lầm rất lớn là không biến toàn bộ Thượng Hải thành một đặc khu kinh tế
khi chúng ta quyết định thành lập các khu kinh tế đặc biệt (vào năm 1980 –lời người
dịch).”4
Sẽ cần có những thảo luận sâu sắc để đi đến quyết sách thành lập đặc khu kinh tế lớn ở Việt
Nam, và đây sẽ là một điểm sáng chói trong bản hiến pháp sửa đổi. Trong nỗ lực này, chúng
ta nên xây dựng đặc khu kinh tế-chính trị trên địa bàn Quảng Ninh-Hải Phòng. Ở đặc khu
này, những cơ chế quản lý và thể chế chính trị hiện đại, với tham khảo đặc biệt từ Singapore
cần được áp dụng. Nơi đây sẽ không chỉ thành một động lực kinh tế mạnh mẽ, mà còn là
ngọn cờ vẫy gọi ý chí và niềm tin dân tộc. Nó cũng là một điểm tựa để thế giới tham gia hội
nhập vào sự trỗi dậy của châu Á. Nó cũng gửi đến chính phủ và người dân Trung Quốc một
thông điệp sáng rõ về ý chí phát triển, tình hữu nghị, và khả năng qui tụ thế giới của dân tộc
Việt Nam.

Thay lời kết

Cải cách đột phá là một nỗ lực phi thường. Nó đòi hỏi sự cộng hưởng mạnh mẽ của xúc cảm
về vận mệnh dân tộc và sự khai sáng trong nhận thức và tư duy. Có là thực tế không khi kỳ
vọng vào thay đổi kỳ diệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam và đất nước Việt Nam ta? Người
viết bài này thường đêm nằm mơ thấy đất nước mình bừng sáng trong ngày mai và mình
được hòa cùng muôn triệu đồng bào sát cánh phấn đấu trong khát vọng phục hưng của dân
tộc. Bài viết này là một sự trải lòng thành tâm sau khi bừng tỉnh từ giấc mơ thôi thúc này.

Mọi công cuộc cải biến vĩ đại khởi đầu từ lòng thành tâm và sự kính trọng lẫn nhau. Người
viết vội ghi lại vì biết rằng nếu để 10-15 năm nữa mới nói ra thì chắc đã quá muộn./.

Vũ Minh Khương, ĐH QG Singapore

__________________________________
(1) Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asia Development Outlook 2013), năm 2012, tăng trưởng GDP của Việt Nam là 5,0% thấp hơn hẳn so với các nước láng giềng: Lào (7,9%); Trung Quốc (7,8%); Campuchia (7,2%); Philippines (6,6%); Thái lan (6,4%); Miến Điện (6,3%); Indonesia (6,2%); Malaysia (5,6%). Báo cáo này cũng dự báo Việt Nam còn tiếp tục tình trạng tăng trưởng thua kém này trong 2013 và 2014.
(2) Marx, K. (1843). Marx’s Critique of Hegel’s Philosophy of Right, Oxford University Press, 1970, trang 5.3
(3) Chiến Quốc Sách, biên dịch và biên soạn bởi Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Nhà Xuất Bản Trẻ, 1989, trang 198.6
(4) Phát biểu của Đặng Tiểu Bình trong chuyến thăm miền Nam Trung Quốc năm 1992. Nguồn: Marti, M. E. (2002). China and the legacy of Deng Xiaoping: From communist revolution to capitalist evolution. Dulles, VA: Potomac Books.8