Showing posts with label CSIS. Show all posts
Showing posts with label CSIS. Show all posts

Wednesday, October 10, 2018

PHÁC THẢO CÁCH HỢP TÁC HỢP TÁC SẢN XUẤT DẦU KHÍ Ở BIỂN ĐÔNG

PHÁC THẢO CÁCH HỢP TÁC HỢP TÁC SẢN XUẤT DẦU KHÍ Ở BIỂN ĐÔNG

(A BLUEPRINT FOR COOPERATION ON OIL AND GAS PRODUCTION IN THE SOUTH CHINA SEA)

NHÓM CÔNG TÁC CHUYÊN GIA BIỂN ĐÔNG CSIS
25/07/2018
(Bản dịch đã đăng trên Tiếng Dân ngày 09/10/2018)


Cạnh tranh về các nguồn tài nguyên dầu khí đã nhiều lần châm ngòi cho các vụ bế tắc giữa các bên tranh chấp ở biển Đông trong những năm gần đây, đặc biệt là giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam. Nỗ lực nghiêm túc cuối cùng trong việc hợp tác trên mặt trận này là hoạt động tiến hành thăm dò địa chấn biển chung (JMSU) ba bên từ năm 2005 đến năm 2008, đã được để cho hết hạn trong bối cảnh tranh cãi chính trị và các câu hỏi về tính hợp hiến của nó ở Philippines. Từ cuối năm 2016, chính phủ Philippines và Trung Quốc đã thảo luận việc cùng phát triển hydrocacbon ở bãi Cỏ Rong (Reed Bank), nhưng có rất ít tiến bộ thấy được dù có nhiều tuyên bố chính thức đầy lạc quan. Các chuyên gia độc lập và các luật gia nổi tiếng ở Philippines đã nói rằng bất kì ý đồ nào như vậy đều có nhiều khả năng vi hiến dựa trên các quy định nghiêm ngặt trong hiến pháp của nước này đòi hỏi chính phủ phải bảo vệ các quyền của đất nước đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi.

Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kì ước tính biển Đông có trữ lượng khoảng 190 nghìn tỉ feet khối khí thiên nhiên và 11 tỉ thùng dầu cả đã được kiểm nghiệm lẫn tiềm năng, hầu hết nằm dọc theo vùng rìa của biển Đông chứ không phải bên dưới các đảo nhỏ và rạn san hô đang có tranh chấp. Khảo sát địa chất của Mĩ năm 2012 ước tính có thể có thêm 160 nghìn tỉ feet khối khí thiên nhiên và 12 tỉ thùng dầu chưa được khám phá ở biển Đông. Ước tính của Bắc Kinh đối với tài nguyên hydrocarbon dưới biển cao hơn rất nhiều, nhưng vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu tổng thể của Trung Quốc – mức tiêu thụ dầu của nước này năm 2018 dự kiến lên đến 12,8 triệu thùng mỗi ngày.

Tuy nhiên, đối với Việt Nam và Philippines, việc tiếp cận các nguồn năng lượng ở biển Đông là rất quan trọng. Lô 06.1, một phần của dự án Nam Côn Sơn gần bãi Tư Chính (Vanguard Bank), cung cấp khoảng 10% tổng nhu cầu năng lượng của Việt Nam. Philippines tạo ra khoảng một phần ba lượng điện cho hòn đảo chính Luzon từ một nguồn duy nhất là mỏ khí Malampaya, dự kiến sẽ ngừng sản xuất vào năm 2024. Trừ khi có mỏ khác được tìm thấy - và Reed Bank là lựa chọn tốt duy nhất hiện nay đang được bàn tới- Philippines sẽ cần phải nhập một lượng đáng kể khí thiên nhiên với giá cao, nhanh chóng đưa thêm các nguồn năng lượng khác vào nguồn cung cấp năng lượng của họ nếu không muốn phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng.

Hợp tác về nguồn dầu khí đang tranh chấp thì khó khăn hơn về thủy sản hoặc quản lí môi trường, cả về mặt pháp lí lẫn mặt chính trị. Không giống như cá, không có điều khoản nào  trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) yêu cầu các nước hợp tác để quản lí các nguồn dầu khí trong một vùng biển nửa kín như biển Đông. Điều 74 và 83 của UNCLOS nói rằng trong trường hợp chưa phân định được ranh giới biển, các nước nên cùng nhau thực hiện tự kiềm chế và lập ra “các thỏa thuận tạm thời có bản chất thực tiễn” để quản lí các tranh chấp của mình tạo ra một nền tảng hẹp cho việc thoả hiệp. Nhưng các thoả thuận cùng phát triển song phương về dầu khí ở các vùng biển tranh chấp là khá ít ỏi, và đến nay chưa có vận hành đầy đủ bao gồm ba hoặc nhiều bên. Tuy nhiên, việc tìm kiếm một con đường tiến tới là cần thiết nếu các bên tranh chấp hy vọng sẽ giải toả căng thẳng và tránh làm tổn hại đến an ninh năng lượng của mình.

Mặc dù có những khó khăn rõ ràng, các bên tranh chấp vẫn có thể hợp tác phát triển dầu khí ở biển Đông theo một cách thức vừa công bằng vừa phù hợp với luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của tất cả các bên liên quan. Làm như vậy sẽ đòi hỏi óc sáng tạo đáng kể cùng một thiện ý thỏa hiệp lớn lao hơn, đặc biệt là với Trung Quốc, so với được thấy cho đến nay. Một thỏa thuận như vậy sẽ cần phải được sắp xếp sao cho tất cả các bên có thể thấy rằng nó phù hợp với cách họ diễn giải luật pháp trong nước lẫn luật quốc tế. Khó khăn nhất là tìm ra cách để Bắc Kinh lập luận rằng kiểu hợp tác như vậy là phù hợp với những khẳng định của họ về “quyền lịch sử” đồng thời đảm bảo rằng Manila vẫn có thể giữ vững phán quyết năm 2016 của tòa trọng tài ở The Hague và tất cả các nước ven biển có thể duy trì quyền chủ quyền trên thềm lục địa của mình.

Phá thế cân bằng bấp bênh đó sẽ đòi hỏi một số nhượng bộ trước, khá khó khăn về mặt chính trị nhưng khả thi về mặt pháp lí. Thứ nhất, Trung Quốc sẽ cần phải chấp nhận rằng việc được đảm bảo một phần lợi nhuận từ các nguồn dầu khí trên khắp biển Đông sẽ đủ cho việc thoả mãn đòi hỏi về “các quyền lịch sử” của họ.  Điều này có nghĩa là chấp nhận một hệ thống trong đó các bên tranh chấp khác có thể thực hiện quyền chủ quyền qua việc cấp phép thăm dò dầu khí miễn là Bắc Kinh vẫn có hưởng phần trong đó. Điều này có thể hiện thực hoá được do Trung Quốc không có luật, tuyên bố chính thức hoặc tài liệu chính phủ nào minh định một cách chính xác quyền lịch sử mà Bắc Kinh yêu sách là gì.

Thứ hai, tất cả các bên tranh chấp phải sẵn sàng tam ngưng việc theo đuổi khoan dầu khí dựa trên các quyền được hưởng từ các hòn đảo và rạn san hô tranh chấp của biển Đông. Các khu vực quản lí thủy sản quanh các hệ thống rạn san hô có thể cung cấp một cách thức có thể chấp nhận được về mặt chính trị để khu biệt các thể địa lí này khỏi việc thăm dò mà không phải lo giải quyết tình trạng pháp lí của chúng hoặc vấn đề phân giới biển. Đối với Trung Quốc vốn là nước cho rằng các hòn đảo này được hưởng đầy đủ vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa thì điều này có thể biện minh đối với nội bộ như một cử chỉ cao thượng và hành động thiện chí. Bắc Kinh có thể lập luận rằng ngay cả khi các thể địa lí tranh chấp đó là đảo theo điều 121.3 của UNCLOS, thì bất kì một phân giới biển công bằng nào với các bờ biển của các nước Đông Nam Á đối diện chúng dài hơn cũng sẽ dẫn đến các EEZ và thềm lục địa của các thể địa lí đó bị thu lại thành các mảng biển nhỏ bao quanh chúng. Đối với các bên tranh chấp khác, việc đồng ý tạm ngưng khoan dầu khí quanh các rạn san hô và đảo tranh chấp dựa trên nhu cầu bảo tồn môi trường sẽ cho thấy một lí do có thể chấp nhận được về chính trị là để tập trung thăm dò và phát triển dầu khí trên các khu vực gần bờ biển của mình hơn. Các nhân nhượng này sẽ cần để củng cố việc thoả thuận mà không phải viết rõ ra trong văn bản. Điều đó sẽ cho phép mỗi bên đồng ý về các cơ chế hợp tác trong khi vẫn sử dụng các biện minh pháp lí khác nhau trong nước cho việc làm như thế.

Để đạt mục đích đó, các bên tranh chấp phải đồng ý:
1.    Thành lập một liên doanh, dưới hình thức một thực thể thương mại mới, ở mỗi nước ven biển Đông bao gồm công ti dầu mỏ quốc doanh của bên tranh chấp đó và càng nhiều đối tác từ các bên tranh chấp khác khi họ có quan tâm đến việc đầu tư vào. Công việc làm ăn duy nhất của liên doanh sẽ là thăm dò và sản xuất các nguồn tài nguyên hydrocarbon của biển Đông ngoài khơi bờ biển của nước đó. Đã có các mô hình liên doanh thành công giữa các công ti dầu khí quốc doanh hoạt động ở biển Đông, nhưng một tổng công ti nhiều bên được thành lập bởi các bên tranh chấp sẽ có tính đột phá.
· Các tổng công ti này nên tìm cách có được các giấy phép dầu mỏ cho các lô mới ngoài khơi biển Đông do các nước mà họ đặt trụ sở chính ở đó chào mời, hoặc thông qua thỏa thuận chia sẻ sản phẩm hoặc hợp đồng dịch vụ, tùy thuộc vào luật của nước chào mời đấu thầu. Điều này sẽ đảm bảo rằng tất cả các bên đều có cơ hội hưởng lợi từ việc sản xuất dầu khí trên khắp biển Đông.
· Các liên doanh nên tìm cách mua lại cổ phần mà các công ti thành viên riêng lẻ của họ đang nắm giữ ở các lô được cấp phép dầu khí trong các phần của biển Đông mà họ quan tâm tới. Các hợp đồng hiện tại mà các nước ven biển có với các bên khác sẽ không bị ảnh hưởng, nhưng các tổng công ti nên tìm cách mua lại các giấy phép đó khi chúng bị các nhà khai thác hiện tại từ bỏ. Các tổng công ti cũng nên tìm cách mua lại các cổ phần thiểu số ở các lô đang sản xuất thương mại mà nhà điều hành hiện tại chưa có vẻ từ bỏ giấy phép trong tương lai gần. Về một khảo sát các lô dầu khí đã được các bên tranh chấp Đông Nam Á cấp phép, hãy xem bản đồ bên dưới. Bản đồ này sẽ được cập nhật để bao gồm các lô ngoài khơi của Trung Quốc và cung cấp thông tin chi tiết về các nhà khai thác, các bên liên quan và thông tin sản xuất.
· Các bên tranh chấp phải thoả thuận công khai rằng việc liên doanh đầu tư vào các lô cụ thể ở biển Đông sẽ không có ảnh hưởng gì đến các yêu sách của họ hay phân giới biển cuối cùng, và không thể được hiểu như là công nhận yêu sách của bất kì bên nào từ các thành viên khác của liên doanh. Cho mục đích này, một điều khoản không gây tổn hại tường minh nên được đưa vào các thỏa thuận tạo nên các liên doanh và trong tất cả các hợp đồng mà họ tham gia.
· Mỗi bên tranh chấp sẽ được đảm bảo quyền đầu tư, thông qua các công ti dầu nhà nước của họ, trong mọi liên doanh, nhưng không bị bó buộc phải làm như vậy. Điều này có nghĩa là một bên tranh chấp, chẳng hạn như Trung Quốc, có thể có một công ti đầu tư vào mọi liên doanh trong khi một công ti khác có thể đầu tư vào chỉ một hoặc hai liên doanh. Bên tranh chấp nào không có công ti dầu nhà nước đầu tư vào một liên doanh cụ thể tại thời điểm thành lập nó sẽ được hoan nghênh làm như vậy trong tương lai. Ngược lại, mỗi công ti sẽ được tự do thoái vốn trong bất kì liên doanh nào vào bất kì thời điểm nào (mặc dù chỉ đối với các công ti dầu mỏ quộc doanh khác).
·      Việc sở hữu cổ phần như nhau cho mỗi công ti tham gia liên doanh trong một số trường hợp có thể là lựa chọn ưa thích hơn, trong những trường hợp khác một số công ti có thể muốn đầu tư nhiều hơn hoặc ít hơn tùy theo khả năng và quan tâm của họ. Những chi tiết này nên được để lại để thương lượng và điều chỉnh khi cần thiết. Tương tự như vậy, các chi tiết về cách thức mỗi công ti đưa ra quyết định đầu tư và (các) bên tham gia nào sẽ hoạt động như nhà điều hành trong bất kì dự án cụ thể nào nên dành lại để đàm phán giữa các công ti dầu mỏ nhà nước với nhau. Lợi nhuận từ các hoạt động của liên doanh nên được chia sẻ dựa trên cổ phần của mỗi công ti đối tác trong tổng công ti.


[Trong bản đồ này có các lô TQ vẽ trong EEZ của VN (dĩ nhiên trong đường lưỡi bò - xem bản đồ vẽ thêm bên dưới) gồm lô Vạn An Bắc có từ 1992 và 9 lô khác mà tổng công ti dầu khí CNOOC của họ chào mời đấu thầu 6/2012- ND]


(10+ lô TQ gọi thầu hầu như nằm hoàn toàn trong EEZ của VN , cũng lưu ý thêm rằng nhóm nghiên cứu của CSIS có lẽ sử dụng bản đồ cũ chưa cập nhật, như bản đồ của IHS năm 2006 chẳng hạn, nên các lô dầu của VN vươn ra xa hơn, bản đ̀ồ này dựa trên bản đồ đã cập nhật của JETRO năm 2010- ND)

2.    Đồng ý rằng tất cả các nước ven biển Đông có thể cấp phép cho thăm dò và khai thác dầu khí trong phạm vi 200 hải lí tính từ bờ biển của họ trong khi chờ phân định cuối cùng các yêu sách biển. Trong các khu vực chồng lấn nhau, trừ khi có thỏa thuận song phương đạt được trước đó, trung tuyến nên được sử dụng để xác định nước nào có quyền tạm thời cấp phép thăm dò và sản xuất. Sự sắp xếp này được mô tả chi tiết trong bản đồ bên dưới.
·      Các bên tranh chấp phải công khai đồng ý rằng việc thành lập các lô ngoài khơi sẽ không ảnh hưởng đến các yêu sách lãnh thổ hoặc sự phân định ranh giới biển cuối cùng , và không thể hiểu như công nhận yêu sách của bên khác. Bất kì giấy phép nào do các nước ven biển đưa ra cũng phải lồng vào đó một điều khoản về không gây tổn hại xác định rằng thỏa thuận tạm thời này sẽ không ảnh hưởng đến việc phân định ranh giới cuối cùng.
·      Quy trình cấp phép sẽ vận hành theo luật pháp của các nước ven biển. Trong một số trường hợp, chính phủ có thể chỉ đơn giản cấp giấy phép cho liên doanh tham gia vào việc thăm dò và sản xuất hydrocarbon ngoài khơi bờ biển của mình, trong những trường hợp khác việc đấu thầu cạnh tranh có thể là cần thiết. Ngay cả trong những trường hợp đòi hỏi đấu thầu, các công ti liên doanh sẽ có lợi thế đáng kể - chính trị và những mặt khác -  so với các đối thủ khác.
·      Nước ven biển nào đấu thầu giấy phép được một trong các tổng công ti liên doanh giành được sẽ được hưởng cùng phần lợi nhuận (phần lớn trong hầu hết các trường hợp) và cũng có cùng quyền đánh thuế như khi đấu thầu cấp giấy phép cho bất kì công ti nào khác. Điều này sẽ đảm bảo rằng các nước ven biển được hưởng lợi nhiều nhất từ các nguồn tài nguyên ngoài khơi bờ biển của họ trong khi vẫn cho phép tất cả các thành viên của liên doanh chia sẻ lợi nhuận.
·      Tất cả các khuôn khổ phát triển chung hiện có, chẳng hạn như giữa Malaysia và Brunei ngoài khơi bờ biển hoặc giữa Malaysia và Việt Nam gần lối vào Vịnh Thái Lan (xem bản đồ), sẽ không thay đổi. Liên doanh mới được thành lập sẽ tìm cách xin giấy phép tại các khu vực này như bất kì công ti dầu nào, trong khi các nước ven biển sẽ đấu thầu giấy phép và chia lợi nhuận theo thỏa thuận từ trước của họ.

Areas in which South China Sea claimants should have provisional rights to license hydrocarbon exploration and production, pending a final delimitation of claims.
Các khu vực mà các bên yêu sách biển Đông tạm thời có quyền cấp giấy phép thăm dò và sản xuất hydrocarbon, trong khi chờ phân định cuối cùng các yêu sách biển.

3.    Đồng ý tạm dừng việc thăm dò trong các khu vực đánh cá bao bọc hệ thống các rạn đá quan yếu trong biển Đông, bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vùng bãi cạn Scarborough và Luconia, như được xác định bởi một cơ quan đa phương gồm các chuyên gia độc lập và các quan chức khu vực (xem Kế hoạch chi tiết về quản lí thủy sản và hợp tác môi trường).

4.     Tiến hành một khảo sát chung, do một hoặc nhiều công ti thực hiện, về dầu khí khu vực đáy biển ở trung tâm biển Đông cách bờ quá 200 hải lí như một biện pháp tạm thời. Điều này sẽ có tác dụng như một sự thừa nhận rằng một số khu vực vượt quá 200 hải lí có thể nằm trong yêu sách thềm lục địa chồng lấn của các nước ven biển yêu sách trong khi các khu vực khác có thể nằm hoàn toàn ngoài các thềm lục địa đó và do đó tạo thành một phần di sản chung của nhân loại.


Phác thảo này thể hiện sự đồng thuận giữa các thành viên của Nhóm công tác chuyên gia biển Đông tại CSIS hành động theo năng lực cá nhân chứ không phải trong tư cách đại diện của các tổ chức chủ quản của họ.

Thursday, July 13, 2017

Bàn tay ẩn khuất của Hà Nội góp phần định hình chương trình làm việc của nhóm chuyên gia ở Washington thế nào ?

Bàn tay ẩn khuất của Hà Nội góp phần định hình chương trình làm việc của nhóm chuyên gia ở Washington thế nào ?


(How Hanoi’s Hidden Hand Helps Shape a Think Tank’s Agenda in Washington)
Greg Rushford
RushfordReport (11/7/2017)
(Bản dịch này đã đăng trên Tiếng Dân  ngày 13/7/2017)

Thứ 3 tới, ngày 18 tháng 7, sẽ là một ngày trọng đại của Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS), vốn là một trong những nhóm chuyên gia cố vấn (think tank) uy tín của Washington trong hơn nửa thế kỷ. Hội nghị hàng năm lần thứ 7 của CSIS về biển Đông, như có hoá thân trước của nó hồi năm 2011, sẽ lại một lần nữa thu hút sự chú ý của công chúng đối với sự quyết đoán của Trung Quốc ở biển Đông. Các diễn giả với uy tín ấn tượng về an ninh quốc gia sẽ  từ Singapore, Việt Nam, Philippines, và các nơi khác ở châu Á. bay về đây. Họ sẽ được các tổ chức có thẩm quyền hàng đầu của Mỹ cùng tham gia, chẳng hạn như trường Đại học hải chiến Mỹ và Trung tâm Nghiên cứu hải chiến của nó. Thượng nghị sĩ Cory Gardner, đảng Cộng hòa từ Colorado hiện chủ trì ban Châu Á thuộc Uỷ ban quan hệ đối ngoại, sẽ mở đầu ngày đó với một bài phát biểu về "Đổi mới lãnh đạo của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương."
Vậy, ai đã-hào phóng chi tiền cho các hội nghị nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới lãnh đạo của Mỹ ở châu Á? Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành CSIS John Hamre đã-tránh né vấn đề này trong 6 năm qua. Chẳng hạn tháng 7 năm ngoái CSIS công bố rằng hội nghị hàng năm lần thứ 6 của CSIS về biển Đông đã "xảy ra được nhờ có sự ủng hộ rộng rãi cho CSIS."
Điều đó không những quá mơ hồ để truyền đạt ý nghĩa thực sự mà còn là “diễn giải sai” cùng cực, theo một nguồn giấu tên. Để hậu thuẫn cho cáo buộc đó, nguồn đó đã cung cấp cho tôi các tài liệu nội bộ "bí mật" của CSIS chỉ ra đích xác nguồn tiền đó là từ đâu ra.
Các bản ghi nhớ, email, và các hồ sơ khác tiết lộ rằng Hamre có một thiên thần bí mật - tại Hà Nội.
Và thiên thần đã có một tiếng nói quan trọng trong việc mời và không mời ai đến hội nghị hàng năm về biển của CSIS. Nhà hảo tâm bí mật của CSIS là một cánh tay của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Đơn vị đó, có tên là Học viện Ngoại giao Việt Nam (DAV), trực thuộc Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Đảng Cộng sản, theo trang web chính thức của nó. Phạm Bình Minh, hiện là Phó Thủ tướng Việt Nam, thành viên cao cấp của Đảng giữ chức bộ trưởng ngoại giao kể từ năm 2011.
Kể từ năm 2012, Chính phủ Việt Nam đã tặng CSIS hơn $ 450 000 để tổ chức các cuộc hội thảo hàng năm về biển Đông. Qua nhiều năm, CSIS đã tăng thêm $ 55.000 từ tài khoản nội bộ của nhóm chuyên gia này, nguồn của nó không được xác định trong tài liệu mà tôi được cho xem. Giám đốc CSIS Hamre từ chối không đáp ứng các yêu cầu liên tục cho biết ý kiến của ông.

Câu hỏi về tính minh bạch
Đây không phải là lần đầu tiên mà câu hỏi đó-được nêu ra trên báo chí về CSIS và những đóng góp trong bóng tối từ các nguồn nước ngoài. Chẳng hạn, ngày 07 tháng 9 năm 2014, báo New York Times đăng một bài viết có tên "Thế lực nước ngoài mua ảnh hưởng các nhóm chuyên gia." Các phóng viên Eric Lipton, Brooke Williams và Nicholas Confessore đã truy nguồn hàng triệu đô la từ các chính phủ nước ngoài chảy vào các nhóm chuyên gia cố vấn có ảnh hưởng ở Washington , trong đó có CSIS, trong những năm gần đây. Nguồn tiền đen tối này "đã đặt ra những vấn đề đáng lo ngại về tự do trí tuệ", họ lưu ý khi nêu ra trường hợp của các học giả mà ý kiến của họdường như bị ảnh hưởng quá mức bởi vấn đề tài chính.
Đáp ứng yêu cầu của tờ Times, CSIS đồng ý công bố một danh sách hơn một chục nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, trong đó có Nhật Bản, Thụy Điển và Thổ Nhĩ Kì. Nhưng tiết lộ của giám đốc CSIS Hamre nhiều lắm chỉ là minh bạch một nửa. CSIS "từ chối tiết lộ chi tiết hợp đồng của họ với các nước này hay số tiền tài trợ thật sự," tờ báo đưa tin.
Hiện tại, trang web của CSIS tiết lộ 11 nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài. Chẳng hạn như United Arab Emirates, đã đóng góp "$ 500 000 trở lên," cho các “nghiên cứu khu vực” không xác định. Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kì đã đóng góp đâu đó trong khoảng $ 100 000 - $ 499 999," lại cũng không xác định. Và các đóng góp từ $ 5 000 - $ 99 999 từ 5 chính phủ khác bao gồm Kazakhstan và Đức. Không đóng góp hiện đang được liệt kê là từ chính phủ Việt Nam.

Bàn tay ẩn khuất của Hà Nội
Có một món tiền nào đó của Việt Nam tặng cho CSIS, tuy nhiên, được ghi nhận ở chỗ khác trên trang web của CSIS - giấu đi dưới dạng các quà biếu của 48 cơ sở, các tổ chức phi chính phủ, và "các nhà tài trợ phi lợi nhuận". Học viện Ngoại giao Việt Nam được liệt kê như đã tặng ít nhất $ 5 000 cho CSIS, nhưng không nhiều hơn $ 99 999. DAV là gì, hoặc món tiền đó định dành cho cái gì, khác hơn "các nghiên cứu khu vực," thông thường không xác định, không được tiết lộ.
Không có gì bất cứ nơi nào trên trang web của CSIS chỉ ra rằng DAV là một cánh tay chính thức của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Không có gì gợi ra rằng Học viện Ngoại giao Việt Nam tư vấn Bộ trưởng ngoại giao "trong việc xây dựng, hoạch định và thi hành chính sách đối ngoại của Nhà nước," như nó ghi trên chính website của mình. Để biét được rằng DAV cũng tham gia trong viẹc "trao đổi học thuật" với các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam và ở nước ngoài, người ta phải đi đến trang web của DAV mà CSIS không nêu nó ra.
Các kết nối chính thức giữa các quan chức của CSIS và chính phủ Việt Nam, theo tài liệu mà tôi được xem, tính từ ngày 25 tháng 4 năm 2012. Đó là ngày kí bản ghi nhớ đầu tiên giữa CSIS và một nhà ngoại giao Việt Nam. Ernest Bower đã thay mặt CSIS kí với tư cách cố vấn cao cấp kiêm giám đốc Chương trình Đông Nam Á của nhóm chuyên gia này. Từ năm 2011 Bower cũng-từng là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của BowerGroupAsia, một công ti tư vấn quốc tế có văn phòng tại Việt Nam và các nước châu Á khác.
Nguyễn Vũ Tùng, vào năm 2012 là Phó trưởng đoàn công tác của toà Đại sứ Việt Nam tại Washington, đã thay mặt DAV kí kết. Hà Nội đã đóng góp $ 129 236 cho việc tổ chức hội nghị thứ 2 của CSIS vào tháng 7 năm đó. CSIS thêm vào $ 20 000.
Nhà ngoại giao Nguyễn Vũ Tùng bây giờ là một quan chức cấp cao của DAV; ông có mặt trong nhóm chủ toạ điều khiển Hội nghị của CSIS về biển Đông 2016, tổ chức-ngày 12 tháng 7 năm ngoái. Và tại sự kiện lần 7 của CSIS vào thứ Ba tới, Đặng Cẩm Tú, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược của DAV, sẽ có mặt trong nhóm chủ toạ được Cố vấn cao cấp Murray Hiebert của CSIS điều tiết.

Lợi ích xung khắc
Hiebert là cố vấn cao cấp cho BowerGroupAsia. Công việc của ông như một nhà tư vấn doanh nghiệp tư nhân không nêu trên lí lịch CSIS của ông, ông cũng không tiết lộ mối quan hệ với các công ti trong các giối thiệu công cộng của CSIS. Hiebert từ chối giải thích vai trò kép của ông, còn giám đốc CSIS là Hamre và ban giám đốc nhóm chuyên gia này cũng giữ im lặng.
Trong năm 2015 Hiebert thừa nhận rằng một nghiên cứu của CSIS về mối quan hệ Mỹ-Việt mà ông là đồng tác giả đã đượcchính phủ Việt Nam trả tiền - sư thật là nghiên cứu được công bố này đã không được tiết lộ. Hiebert đã thu hút chú ý trước đây vì thái độ miễn cưỡng không muốn đưa ra phân tích chỉ trích thành tích nhân quyền bị hoen ố của Việt Nam. Thậm chí có lần ông đã gọi người bảo vệ kèm một người Mỹ gốc Việt ủng hộ dân chủ nổi bật ra khỏi cơ sở của CSIS, sau khi đã bị các quan chức an ninh Việt Nam áp lực đòi làm như vậy. (Để biết thêm chi tiết, xem How Hanoi Buys Influence in Washington, D.C [Hà Nội mua ảnh hưởng ở Washington, DC thế nào], và Obama’s Vietnam ‘Legacy’ Trip: A Realiti Check [Chuyến đi Việt Nam ‘di sản’ của Obama: một kiểm nghiệm thực tế], www.rushfordreport.com.)
Hiện giờ, ông chủ chi tiền cho CSIS của Việt Nam là Trần Trường Thủy. Thuỷ là một quan chức lâu năm cựu của DAV từng tham gia các hội nghị về biển hàng năm của CSIS kể từ lần đầu tiên vào năm 2011. Vào ngày 11 tháng 7 năm 2016, Thúy đã ký bản ghi nhớ bí mật của CSIS định ngân sách cho hội nghị năm ngoái. Lúc đó ông đội một cái mũ khác: Giám đốc Quỹ [Hỗ trợ] Nghiên cứu Biển Đông (FESS).
FESS miêu tả chính mình trên trang web của họ như là một tổ chức phi lợi nhuận do DAV và các nhà ngoại giao Việt Nam khởi xướng năm 2014. FESS và DAV có chung một địa chỉ tại Hà Nội. Nhiệm vụ của FESS về cơ bản là giải thích cho khán giả trong nước và quốc tế về vị thế của chính phủ Việt Nam đối với các tranh chấp trên biển với Trung Quốc. Cách giải thích ngắn gọn về việc điều hành: Bộ Ngoại giao - và trên hết là Đảng Cộng sản – nắm quyền kiểm soát cả DAV lẫn FESS.
Ngân sách hội nghị CSIS năm ngoái là điển hình cho các hội nghị trước đó. Việt Nam đồng ý chi $ 94 935 trong tổng chi phí $ 104 935. Sáng kiến Minh bạch trên biển châu Á của CSIS đóng góp $ 10 000. Nguồn tiền được sử dụng để chi cho thời gian nhân viên CSIS tiêu tốn cho sự kiện này, đi lai và khách sạn từ các địa điểm khác nhau ở châu Á cho các diễn giả, và các chi phí hội nghị khác chẳng hạn như những khoản liên quan tới các bữa ăn và các tài liệu in ấn. Như đã từng làm trong những năm trước đây, CSIS đồng ý gửi tất cả các biên lai cho Hà Nội.
Trong khi thỏa thuận hợp đồng với Hà Nội quy định rằng cả CSIS lẫn Việt Nam sẽ "cùng nhau dự thảo chương trình nghị sự và danh sách người tham gia," CSIS cũng khẳng định quyền đối với việc hoàn toàn độc lập trong biên tập và và “quyền tự do định đoạt toàn bộ và thẩm quyền quyết định cuối cùng".
Những quyền đó đã bị thử thách trong những ngày trước khi hội nghị năm ngoái, được tổ chức vào ngày 12 tháng 7 năm 2016. Cũng vào ngày đó, một tòa án quốc tế ở The Hague công bố phán quyết xác định rằng Trung Quốc đã và đang hành động vi phạm các nghĩa vụ pháp luật quốc tế qua việc huỷ diệt các rạn san hô để xây dựng đảo nhân tạo vũ trang hoá ở vùng biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines - đưa cả Manila lẩn Hà Nội vào trong tầm các máy bay phản lực ném bom của Trung Quốc.

Quyền lực của ông chủ chi tiền thể hiện
Biết khả năng công chúng quan tâm rất lớn sau phán quyết của tòa án, hai nhân viên CSIS là Murray Hiebert và Greg Poling đề nghị Thôi Thiên Khải, đại sứ Trung Quốc ở Washington, phát biểu tại hội nghị. Xét tới những đòn đánh mà Bắc Kinh sẽ nhận lấy ngày hôm đó theo ánh sáng của phán quyết này, Hiebert và Poling nghĩ rằng điều đó là công bằng, và đã nói như vậy trong email của họ.
Poling báo cho Thuỷ vào ngày 7 tháng 7 rằng ông đã nghe tin từ toà đại sứ Trung Quốc rằng ông Khải sẵn sàng để nói chuyện.
Thủy nổi cáo lên.
Nhà ngoại giao Việt Nam báo cho Hiebert trong một email ngày 8 tháng 7 năm 2016 "Murray, chúng tôi không thể đồng ý với cách anh xử lí hội nghị này.Anh mời Đs Trung Quốc mà không tham khảo ý kiến chúng tôi và bây giờ nói rằng không thể huỷ lời mời ông ta. Hãy hiểu rằng tạo ra một diễn đàn để giúp Trung Quốc đẩy mạnh việc tuyên truyền không phải là mục đích của chúng ta.”
Hiebert phản hồi: "Mục tiêu của chúng tôi không phải là để tạo ra một chỗ cho Trung Quốc tuyên truyền mà nhằm tạo ra một diễn đàn đáng tin cậy cho thấy hành vi không thể chấp nhận của Trung Quốc ở BĐ [biển Đông]. Đs Khải sẽ không thuyết phục được ai rằng công lí đứng về phía ông ta. Cho phép ông ta phát biểu sẽ làm cho tất cả các sự kiện trong ngày của chúng ta và các chỉ trích mạnh mẽ đối với Trung Quốc của hội nghị được nhiều sự tín nhiệm hơn nữa mà không làm thông điệp của chúng ta bị mất tập trung."
Cuối cùng, sau một loạt các email với các nhân viên của CSIS đến chỗ bế tắc, Thuỷ khẳng định lập trường. "Murray, không phép Đs Trung Quốc phát biểu không phải chỉ là ý kiến cá nhân mà là một đòi hỏi nghiêm ngặt từ 'các nhà bảo trợ' của chúng tôi và tôi không-còn cơ hội để thuyết phục họ nữa."
Đối mặt với thái độ không suy xuyển của những người có túi tiền tại Hà Nội, Hiebert và Poling đưa ra một lập trường thoả hiệp. Hiebert báo cho nhà hảo tâm Việt Nam vào ngày 11 "Anh Thủy, ông Khải sẽ không phát biểu tại hội nghị BĐ ngày mai, mà ông sẽ nói chuyện sau này sau khi hội nghị kết thúc một ngày, theo lời mời của Chương trình Sức mạnh Trung Quốc, không liên quan đến chương trình Đông Nam Á phụ trách tổ chức hội nghị này".
Như Hiebert đã hứa với Thủy, hội nghị ngày 12 tháng 7 do Chính phủ Việt Nam chi trả ngưng lúc 4:30 pm. Mười lăm phút sau đó, lúc 4:45 giờ chiều, đại sứ Trung Quốc phát biểu các nhận xét của ông, được phát trực tuyến.

Rơi vào cảnh trớ trêu và thất bại về trí tuệ và đạo đức
Có một điều trớ trêu trong câu chuyện này. CSIS đã giành được sự tôn trọng đích thực trong các các nhóm chuyên gia đối ngoại hàng đầu vì những thành quả trong việctập trung sự chú ý của công chúng Mỹ vào hành vi sai trái của Trung Quốc ở biển Đông. Chỗ lấn cấn là việc lãng tránh liên quan tới ai đã chi tiền. Điều đó lại bị chồng chất thêm bởi các quan hệ với doanh nghiệp bên ngoài của các quan chức của CSIS đang quyên tiền từ chính phủ Việt Nam cùng lúc họ quảng bá các giao dịch doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.
Người đọc sẽ rút ra kết luận của riêng mình về việc chính phủ Việt Nam được gì với đồng tiền họ bỏ ra. Những năm được đề cập trong bài viết này, chương trình làm việc của Việt Nam ở Washington có một số phần chủ chốt. Hà Nội muốn tạo ra một bầu dư luận để nuôi dưỡng quan hệ gần gũi hơn về ngoại giao và an ninh với Hoa Kì. Các nhà phân tích của CSIS cũng muốn điều đó. Việt Nam  muốn Tổng thống Barack Obama đến thăm Việt Nam, để góp phần đưa các quan hệ vào chiều sâu. CSIS cũng ủng hộ chuyến đi đó. Hà Nội muốn Washington dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí gây chết người với chế độ cộng sản này. Các nhà phân tích CSIS cũng chia sẻ phần này của chương trình hoạt động. Và Việt Nam muốn sự hậu thuẫn của Mỹ cho Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương. CSIS cũng có chung ý nghĩ đó.
Chắc chắn, các quan chức CSIS có thể lập luận nghe có lý rằng chương trình làm việc mà họ đang thúc đẩy là vì các quan hệ Mỹ-Việt tốt hơn là hợp lí.
Nhưng có nhiều điều trong câu chuyện này dấy lên những câu hỏi rắc rối. Trên hết mọi thứ, chính phủ Việt Nam muốn giới ưu tú trong chính sách đối ngoại ở Washington không để mắt tới các vi phạm thô bạo về nhân quyền của Hà Nội. Đảng Cộng sản thấy sự tồn tại của chính họ như là phụ thuộc vào khả năng tiếp tục đàn áp ngay cả người bất đồng chính kiến ôn hoà. Và như tôi đã báo cáo trước đó trong bài Hà Nội mua ảnh hưởng thế nào và Chuyến đi Việt Nam ‘di sản’ của Obama , John Hamre, Ernie Bower, Murray Hiebert, và Greg Poling-đã-cẩn thận không làm mất lòng khó sửa chữa đối với những kẻ có quyền lực tại Hà Nội khi các câu hỏi trái khoáy về chính trị tù nhân-nêu ra.
Từ chối lên tiếng khi các công dân Việt Nam dũng cảm bị bỏ tù chỉ vì thực hiện ôn hoà các quyền phổ quát của họ về tự do ngôn luận chắc chắn là một thất bại về đạo đức.
Và cũng có một sự thất bại về trí tuệ. Việt Nam, một thành viên của Liên Hiệp Quốc, là một bên kí kết nhiều văn bản pháp luật quốc tế khác đảm bảo công dân của họ có các quyền phổ biến về tự do ngôn luận và bày tỏ. Bất kì nhà phân tích nào chỉ trích Trung Quốc coi thường luật pháp quốc tế ở biển Đông chắc chắn phải có nghĩa vụ chỉ ra rằng việc Việt Nam đàn áp liên tục một số công dân tốt nhất của mình cũng là vi phạm các chuẩn mực pháp lí quốc tế được thừa nhận của Liên Hiệp Quốc.

Có lẽ, trừ khi có loại tiền được làm ra bằng cách quay nhìn chỗ khác.