Showing posts with label bãi ngầm James. Show all posts
Showing posts with label bãi ngầm James. Show all posts

Wednesday, November 18, 2015

Những diễn tiến ở Biển Đông

Những diễn tiến ở Biển Đông


Góc nhìn về Philippines, Malaysia, và xa hơn

(Developments in the South China Sea
Perspectives on the Philippines, Malaysia, and Beyond)

Bill Hayton

Bài báo cáo trong Hội nghị của CSIS tháng 9/2015

(Bản dịch đã đăng trên anhbasam ngày 18/11/2015)



Tốt nhất là bắt đầu với những gì bài viết này không chú trọng tới: cụ thể là các cuộc thảo luận về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) -China. Các cuộc đàm phán đã và đang diễn ra trong nhiều vỏ bọc khác nhau từ năm 1995, sau khi Trung Quốc chiếm Đá Vành Khăn (Mischief Reef). Cho đến nay ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí Bản Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002, hình thành Nhóm Công tác chung ASEAN-Trung Quốc đưa vào thực hiện DOC trong 2004,[1] và gần đây nhất, Hướng dẫn thực hiện DOC vào tháng 7 năm 2011.

Tuy nhiên dù trãi qua 20 năm đàm phán, hai bên vẫn chưa thể tìm ra thỏa thuận về các biện pháp cụ thể để kiểm soát các hoạt động ở Biển Đông. Tóm gọn là Trung Quốc sẽ không đồng ý với bất cứ điều gì hạn chế sự tự do hành động của họ và chẳng có ý nghĩa gì để  ASEAN đồng ý với bất cứ điều gì không hạn chế sự tự do hành động của Trung Quốc. Vì vậy, có ba kết quả có thể có cho các cuộc đàm phán đang diễn ra: gãy đổ, dẫn đến một mảnh giấy vô nghĩa, hoặc kéo dài mãi—cấp khách sạn sang trọng của Đông Nam Á cho  các nước rất cần tới. Điều tốt nhất có thể nói cho quá trình này, diễn đạt lại câu nói của Winston Churchill, là "đấu mồm tốt hơn đấu súng” (jaw-jaw is better than war-war).

Bài viết này cũng không khai phá sâu Sáng kiến Con đường Tơ lụa trên biển thế kỉ 21 của Trung Quốc. Cho đến nay, ít nhất đối với Đông Nam Á, đó có vẻ là một ví dụ khác về đấu võ mồm. Từ khi Chủ tịch Tập Cận Bình công bố sáng kiến này đến nay đã gần 2 năm ​​và điều duy nhất thấy được tới giò này vẫn là nhiều tài trợ cho khách sạn sang trọng: một vài hội nghị và tiệc chiêu đãi nhưng chẳng có đầu tư bất cứ nơi nào bên ngoài Trung Quốc, dù chỉ một nhân dân tệ. Sáng kiến ​​cụ thể duy nhất hiện lên trong đề mục này là việc kí kết các thư bày tỏ ý định giữa cơ quan quản lí Cảng Klang trước đây đầy rẫy tham nhũng của Malaysia và 5 cảng Trung Quốc. Dù chắc chắn rằng hầu hết các nước ASEAN hết sức cần đầu tư cơ sở hạ tầng, nhưng vẫn chưa rõ rằng Con đường Tơ lụa trên biển sẽ cung cấp điều đó không.

Chừng nào mà ASEAN còn thấy các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông là đe dọa thì các nước thành viên vẫn có khả năng sẽ xử sự thận trọng với những sáng kiến như thế ​​này. Năm 2014 Trung Quốc đã đề xuất đưa năm 2015 thành năm của Hợp tác về biển của Trung Quốc-ASEAN, và tháng 3 năm [Hợp tác] đã được chính thức ra mắt bên lề Diễn Đàn Bác Ngao (Boao Forum).[2] Kể từ đó chỉ toàn im lặng. Quỹ Hợp tác Biển Trung Quốc-ASEAN đã được công bố rất đình đám tại hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-ASEAN lần thứ 14 vào tháng 11 năm 2011 với một ngân sách $ 500 triệu nhưng dường như chưa giải ngân được bất kì khoản tiền đáng kể nào bên ngoài Trung Quốc. Quan hệ Đối tác biển Trung Quốc-ASEAN đã được Thủ tướng Ôn Gia Bảo đề xuất tại Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-ASEAN lần thứ 15 năm sau.[3]  Một lần nữa, không có gì từ đó ra cả . ASEAN đã từ chối tham gia; không có hợp tác.

Thay vào đó, bài viết này tập trung vào việc phân tích làm thế nào mà các sự kiện năm ngoái — đặc biệt là phản ứng quốc tế đối với việc Trung Quốc xây dựng 7 đảo nhân tạo và việc Tòa Trọng tài Thường trực bắt đầu tiến trình xét xử — đã tạo ra một cơ hội cho hòa bình ở Biển Đông. Vâng, hòa bình.

Như thường được hiểu, có hai dạng tranh chấp ở Biển Đông. Có những tranh cãi nhỏ về việc nước nào cắm cờ trước tiên trên đảo hoặc rạn đá nào. Và có những tranh cãi to về việc liệu các nước có nên bám vào chế độ luật pháp quốc tế vốn đã tạo ra kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng nhất trong lịch sử thế giới trong hơn 70 năm qua hay không. Giải pháp cho cả hai đều nằm trong tầm tay, nếu các bên chọn cách với tới chúng.

Trước khi giải thích về việc làm thế nào, điều đáng lưu ý là mối quan ngại về những tác động rộng lớn hơn của tình hình Biển Đông đối với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ hiện có đang lan rộng. Ngay cả Liên minh Châu Âu —mặc dù có rất nhiều vấn đề khác phải giải quyết vào lúc này—cũng nêu lên quan ngại của mình. Tại Đối thoại Shangri-La năm 2015, đại diện cấp cao về đối ngoại, Federica Mogherini, nói tới một cách cụ thể một trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS):

Chúng ta cần phải duy trì một trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển. Chúng ta không đi vào tính hợp pháp của các yêu sách cụ thể, nhưng với tư cách người Châu Âu chúng tôi kiên quyết đối với việc chúng phải được giải quyết NHƯ THẾ NÀO, đó là, theo cách hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa vũ lực.[4]

Với Liên minh Châu Âu, Hoa Kì, Nhật Bản và đều cùng quan ngại về những vấn đề này, không có gì ngạc nhiên khi Nhóm G7, cũng đã bàn tới chúng.[5] Vào tháng 4 Nhóm công bố lần đầu tiên “Tuyên bố về an ninh trên biển," trong đó có chỗ đề cập cụ thể về Biển Hoa  Đông và Biển Đông và một phát biểu của nhóm như sau:

quan ngại bởi bất kì hành động đơn phương nào, chẳng hạn như bồi tạo đất quy mô lớn, làm thay đổi nguyên trạng và làm tăng căng thẳng. Chúng tôi cực lực phản đối bất kì nỗ lực nào khẳng định các đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ hoặc biển thông qua việc sử dụng đe dọa, cưỡng ép hoặc vũ lực.[6]

Tuy nhiên, tuyên bố không nêu tên bất kì nước nào.

Bộ trưởng Quốc phòng Australia, Kevin Andrews, cũng sử dụng Đối thoại Shangri-La để làm cho rõ việc chính phủ ông "phản đối bất kì hành động cưỡng chế hoặc đơn phương làm thay đổi hiện trạng ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, [kể cả] hoạt động bồi tạo đất quy mô lớn nào".[7] Và Canberra đã biểu lộ sự không hài lòng của mình qua việc mời quân đội Nhật Bản tham gia cuộc tập trận  Talisman Sabre hàng năm Mĩ-Úc. Trong hai năm 2014 và 2015 Úc cũng đều đã tham gia cuộc tập trận Balikatan hàng năm Mĩ-Phi. Úc đang sắp chuyển giao cho Philippines hai tàu chở tăng đổ bộ.

Hoàn thành mạng tam giác, Philippines và Nhật Bản tổ chức tập trận hải quân chung lần đầu ở Biển Đông vào giữa tháng 5 năm 2015, sau một thỏa thuận giữa hai nước ký kết hồi tháng 1.[8] Nhật Bản đang cung cấp 10 tàu tuần tra cho tuần duyên Philippines và cam kết nâng cấp năng lực giám sát và phòng thủ của Manila. Hồi tháng 6, hai nước đã chính thức hóa quan hệ đối tác chiến lược của họ.[9]

Ấn Độ cũng đã trở nên can dự nhiều hơn. Tháng 9 năm 2014 tuyên bố chung Ấn-Mĩ, đặc biệt đã đề cập Biển Đông lần đầu tiên. Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Narendra Modi kêu gọi nên giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và biển, "phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế, gồm cả UNCLOS."[10]

Ấn Độ đã phớt lờ phản đối của Trung Quốc và một lần nữa mời Nhật Bản tham gia cuộc tập trận hải quân Malabar hàng năm của mình với Hoa Kì trong tháng 10 năm 2015. Ấn Độ, Nhật Bản, và Hoa Kì cũng sẽ tổ chức các cuộc đối thoại ba bên ở cấp Bộ trưởng lần đầu bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á năm 2015. Cũng có những cuộc tập trận hải quân Ấn-Nhật riêng biệt.

Trên khắp khu vực, các thỏa thuận an ninh thường được mô tả như hệ thống ổ trục và nan hoa—với Hoa Kì trong vai trò ổ trục—cũng đang trở thành hệ thống đồng bạn (peer to peer). Australia, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, Việt Nam, và những nước khác đang từng bước xây dựng các quan hệ an ninh và ngoại giao mới trực tiếp với nhau. Có một vài ngoại lệ — chẳng hạn, chỉ có "I" (India: Ấn) trong BRICS lên tiếng— nhưng hầu như tất cả các nước lớn khác đều đã trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ trích việc Trung Quốc xây dựng đảo và đưa ra những lời kêu gọi cụ thể cho việc áp dụng các nguyên tắc của UNCLOS.[11]

Điều này dẫn chúng ta đến The Hague, Hà Lan, và Cung Hòa bình—trụ sở của Tòa Trọng tài Thường trực—nơi các buổi tranh tụng đầu tiên trong vụ Philippines kiện Trung Quốc đã diễn ra vào đầu tháng 7 năm 2015.[12] Trước hết, Toà phải quyết định xem có quyền phân xử vụ kiện hay không, thực ra đó là câu hỏi liệu Toà có nghĩ rằng các tranh chấp lãnh thổ cần được giải quyết trước khi Toà có thể đưa ra phán quyết về loại khu vực biển nào mà mỗi thể địa lí có thể yêu sách được có dựa trên UNCLOS. Giả sử Tòa quyết định xét xử vụ án—và sẽ đáng ngạc nhiên nếu họ nói không—thì dự kiến có thể Philippines ​​sẽ thắng hầu hết tất cả các điều khiếu kiện.

Trong 7 thể địa lí do Trung Quốc chiếm đóng ở Trường Sa, 4 chứa các mỏm đá vẫn còn ở trên mặt nước khi triều cao và 3 nằm chìm dưới nước trong trạng thái tự nhiên. Các thể địa lí này lẫn Bãi cạn Scarborough đều không thể phục vụ cho việc cư trú của con người. Do đó, nhiều nhất chúng chỉ tạo ra lãnh hải 12 hải lí, và tuyệt nhiên không có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) nào cả.

Vì vậy, rất có khả năng ảnh hưởng vụ kiện của Philippines sẽ cho tòa phán quyết  đường chữ U, hoặc chín đoạn của Trung Quốc là không phù hợp với luật pháp quốc tế. Nhiều người đã hỏi, "Thế thì đã sao? Trung Quốc sẽ chỉ việc phớt lờ phán quyết." Nhưng hãy nghĩ về tình huống này.

Philippines cần khai thác nguồn dự trữ khí tự nhiên mới để thay mỏ Malampaya ngoài khơi bờ biển Palawan. Malampaya, do Shell điều hành trong khuôn khổ quan hệ đối tác với Chevron và Công ty dầu quốc gia Philippines (PNOC), hiện đang cung cấp khoảng một phần ba lượng điện sử dụng trên đảo Luzon bao gồm cả thủ đô Manila. Các bản tin trên truyền thông Philippines gợi cho thấy mỏ này sẽ cạn kiệt vào năm 2024.[13]

Khảo sát địa chấn cho thấy câu trả lời nằm bên dưới Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) vốn nằm bên trong đường chín đoạn. Khảo sát do Forum Energy thực hiện dự phóng trữ lượng khí đốt ở đó là 8,8 nghìn tỉ feet khối—lớn hơn Malampaya.[14] Từ kinh nghiệm phải mất 6 năm để phát triển dự án Malampaya gốc (từ lúc phát hiện trữ lượng khí đốt có kích cỡ thương mại vào năm 1995 cho đến khi bắt đầu dự án năm 2001), yêu cầu bắt đầu khoan và xây dựng đường ống dẫn là cấp bách nếu thủ đô Philippines muốn tránh tình trạng thiếu điện trong vòng ít  hơn một thập kỉ tới. Tuy nhiên, hồi tháng 3, Forum Energy thông báo rằng chính phủ Philippines đã từ chối không cho phép khoan vì có phản đối từ phía Trung Quốc. Kể từ đó Forum Energy đã buộc phải rút việc niêm yết cổ phiếu khỏi Thị trường Chứng khoán London (London Stock Exchange).[15]

Tuy nhiên, nếu như Toà Trọng tài Thường trực phán quyết rằng Trung Quốc không có yêu sách EEZ hợp pháp đối với các nguồn tài nguyên ở Bãi Cỏ Rong thì Philippines sẽ có thể lập luận rằng bất kì hoạt động khai thác khí đốt nào của Forum Energy, hoặc một công ti khác hoạt động theo giấy phép của Philippines, là hoàn toàn hợp pháp. Nếu Trung Quốc cố tìm cách gây cản trở hoạt động hợp pháp như vậy thì sẽ dễ dàng cho các nhà phê bình quy hành động của họ là vi phạm luật pháp quốc tế. Đây sẽ là cơ hội hoàn hảo để Hoa Kì, nếu muốn, vẽ một lằn ranh trên biển.

Sẽ có vấn đề cần làm rõ liên quan tới phạm vi địa lí trong các cam kết của Hoa Kì đối với việc bảo vệ Philippines theo Hiệp ước tương trợ Quốc phòng Mĩ-Philippines, nhưng vì Điều V của Hiệp ước có nói tới "lực lượng vũ trang, tàu hay máy bay công cộng ở Thái Bình Dương," nên không khó để các luật sư của chính phủ tranh luận rằng nó bao hàm cả Biển Đông.[16] Đây cũng có thể là cơ hội khi các nước khác cùng chọn cách nói lên sự ủng hộ trật tự trên biển hiện có đi tới việc bảo vệ UNCLOS cũng như tăng thêm sự ủng hộ về ngoại giao và về các mặt khác đối với những nỗ lực của Hoa Kì và Philippines. Đây sẽ là thời điểm nguy hiểm — Trung Quốc và Hoa Kì, và có khả năng nhiều nước khác, có thể đối đầu trực diện nhau quanh Bãi Cỏ Rong. Nhưng vào lúc này, Trung Quốc sẽ có thể phải do dự. Họ khó có khả năng an lành thoát ra khỏi một cuộc đối đầu như vậy.

Câu hỏi đặt ra là liệu Trung Quốc có sẵn sàng đánh liều về những hậu quả của cuộc đối đầu đó, vốn có thể xảy ra chỉ trong hai năm nữa, hay bây giờ họ có thể thấy đuợc những gì sắp xảy ra và bắt đầu thực hiện các bước để ngăn chặn truớc. Về cốt lõi câu hỏi là như thế này: lãnh đạo chính trị của Trung Quốc có coi lợi ích của họ ở Biển Đông là quan trọng đến mức đáng để hi sinh các quan hệ quốc tế khác của họ hay không? Nếu không thì có thể lợi ích trung tâm của đảng-nhà nước Trung Quốc như một tổng thể vuợt trội hơn lợi ích của các cơ quan nhà nước khác nhau—quân đội, cảnh sát biển, các công ti dầu, các nhóm vận động hành lang nghề cá, và các tỉnh ven biển— với các chương trình hành động quan liêu để vuơn lên của chính họ hay không?

Nguyên nhân gốc rễ của những hành động của các bộ phận này ở Biển Đông là phiên bản lịch sử vốn đã trở thành chính thống trong các trường học và các học viện Đảng Cộng sản Trung Quốc, theo đó Biển Đông đã thuộc thẩm quyền của Trung Quốc "từ thời xa xưa." Tôi cho rằng có quá nhiều bài phân tích về các tranh chấp này dành sự chú ý quá ít cho mức độ nghiêm trọng mà Trung Quốc đặt để cho yêu sách lịch sử của họ. Tôi đã lập luận ở những nơi khác rằng phiên bản lịch sử này dựa trên việc đọc sai bằng chứng, giải thích sai, và thậm chí dịch sai.[17] Tuy nhiên, đó lại là một yếu tố thúc đẩy cốt lỏi đằng sau các hành động của Trung Quốc trên biển. Nó đáng được chú ý nhiều hơn nữa.

Phiên bản lịch sử bị bóp mép này nằm đằng sau nỗ lực gần đây nhất của Trung Quốc mở rộng kiểm soát lãnh thổ ở Biển Đông: tại cụm bãi Luconia, khoảng 65 hải lí ngoài khơi bờ biển Borneo. Đầu tháng 6 năm 2015 Shahidan Kassim, Bộ trưởng phụ trách cảnh sát biển Malaysia, đã đăng trên Facebook các bức ảnh từ một chuyến bay kiểm tra trên các bãi ngầm và, trong một cuộc họp báo tại Sân bay Miri ở gần Bang Sarawak, cho thấy một tàu cảnh sát biển biển Trung Quốc đã bỏ neo đậu tại cụm bãi Luconia kể từ tháng 8 năm 2013.

According to local fishermen, the China Coast Guard vessel is still anchored at Luconia Shoals.
 Theo ngư dân địa phương, tàu cành sát biển vẫn còn bỏ neo tại cụm bãi Luconia
(nguồn Borneo Post)

Gốc gác của chuyến Trung Quốc đi tới rạn đá này là kì quái. Yêu sách ban đầu của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa và các rạn đá gần đó nảy sinh từ cuộc họp của một ủy ban chính phủ nước Trung Hoa Dân Quốc hồi năm 1935. Không có quan chức Trung Quốc nào đã từng tới quần đảo Trường Sa vào thời điểm đó, do đó, Ủy ban Thẩm tra Bản đồ Đẩt và Biển (Thuỷ lục địa đồ thẩm tra uỷ viên hội) chỉ đơn giản là lấy các bản đồ của Anh hiện có và dịch hay phiên âm tên sang tiếng Trung. Luconia không phải là một tên Trung Quốc, nó là một từ cũ chỉ Luzon.[18]

Năm 1935, Uỷ ban Thẩm tra chỉ việc phiên âm tên tiếng Anh Luconia thành Lú kāng ní yǎ tān [盧康尼亞 灘: lô khang ni á than] - trong đó tan (than) là từ Tiếng Trung để chỉ "bãi cát". Mãi cho đến năm 1947 các quan chức Trung Hoa Dân quốc mới quyết định cho các thể địa lí này mang tên "Trung Quốc" hơn. Họ đã chọn Bei-kang Ansha [北 康 暗 沙: Bắc Khang Ám Sa] cho phần phía Bắc và Nan-kang Ansha [南康 暗 沙: Nam Khang Ám Sa] cho phần phía nam của nhóm bãi ngầm này. Kang [康: khang] theo nghĩa đen có nghĩa là "mạnh khỏe" nhưng có nhiều khả năng rằng nó chỉ đơn giản là cách viết tắt của các chữ phiên âm trước đó. Từ ansha (ám sa: nghĩa đen là "cát ngầm") dường như được vay mượn từ ngôn ngữ văn học vào khoảng thời gian này để cho ra một từ tiếng Trung tương đương với từ tiếng Anh "shoal" —một thuật ngữ biển mơ hồ có gốc gác là một từ tiếng Anh cổ có nghĩa là "cạn".[19]

 Cụm bãi ngầm Luconia cách bờ biển Malaysia khoảng 84 hải lí, và cách bãi ngầm James (mà TQ coi là 'lãnh thổ' cực Nam của họ và gọi là bãi Tăng Mẫu) khoảng 60 hải lí
[các vị trí ghi chữ đò là chỗ TQ đang chiếm đóng]

Khẳng định thuờng đuợc đưa ra rằng Trung Quốc là "nước đầu tiên đặt tên" các đảo ở Biển Đông chỉ đơn giản là không có bằng chứng hậu thuẫn. Tuy nhiên, ý thức về quyền làm chủ đối với quần đảo Trường Sa, dựa trên khẳng định cũng thiếu chứng cứ của Trung Quốc, đã trở thành mối nguy hiểm lớn nhất đối với hòa bình ở Biển Đông. Việc dạy sai kéo dài về yêu sách lịch sử của Trung Quốc chỉ tạo ra một cảm giác bất bình trong dân chúng vốn làm cho các tranh chấp càng trở nên rất khó giải quyết hơn.

Blog của Andrew Chubb, South Sea Conversations (Trò chuyện về Biển Đông), cho thấy một phần bối cảnh gần đây hơn về những nỗ lực của Trung Quốc chiếm cụm bãi Luconia.[20] Việc đó dường như đuợc bắt đầu với chuyến đi đến các bãi ngầm này của nhóm ba nguời thuộc tạp chí Địa lí quốc gia Trung Quốc trên tàu của Malaysia trong tháng 4/5  năm 2009. Toàn bộ câu chuyện có thể đọc trên blog của Chubb, nhưng có vẻ là chuyến đi đó đã đặt vào những cái đầu ở Cục Quản lý Hải duơng quốc gia Trung Quốc một ý tưởng —thuyết phục họ cố yêu sách cụm bãi ngầm này như là lãnh thổ cực nam mới của đất nước.

Tàu cảnh sát biển Trung Quốc có vẻ đã đóng gần như thuờng trực tại cụm bãi Luconia và bãi ngầm James gần đó kể từ năm 2013. Việc làm này bổ sung thêm cho các chuyến ghé tạt vào ít thuờng xuyên hơn của các đội tàu hải quân Trung Quốc chạy ngang qua. Hiện cũng có các báo cáo về các tàu Trung Quốc quấy nhiễu các cuộc khảo sát dầu của Malaysia trong cùng khu vực. Hai vụ diễn ra vào giữa tháng 8 năm 2012[21] và những vụ khác sau đó.

Hành động của Trung Quốc đã khiến Malaysia phải điều chỉnh thái độ "giữ im lặng và tin tưởng vào mối quan hệ đặc biệt với Bắc Kinh" có trước đó. Cá nhân Thủ tướng Najib Razak trong thời gian diễn ra hội nghị thượng đỉnh ASEAN vào tháng 2015 đã chỉ trích việc Trung Quốc  xây dựng đảo.[22] Mặc dù các chỉ dấu ban đầu cho thấy Malaysia cố gắng để lèo lái ASEAN khỏi cuộc đối đầu với Trung Quốc,[23] nhưng dưới sự chủ trì của Malaysia ASEAN đã kiên quyết trong việc phản đối những hành động gần đây của Trung Quốc. Các kết luận của hội nghị thượng đỉnh là thẳng thắn, lưu ý rằng việc Trung Quốc xây dựng đảo đã "gây mất lòng tin và sự tin cậy và có thể phá hoại hòa bình, an ninh và ổn định ở Biển Đông."[24] Nhiều nguồn tin cũng cho biết rằng các quan chức Malaysia đã và đang hợp tác chặt chẽ hơn với các đối tác Việt Nam và Philippines, cả hai đang phát họa lập trường chung về tranh chấp biển bên trong ASEAN và trong tư cách là bộ ba đối mặt với Trung Quốc.

Có thể họ không nói như vậy công khai nhưng trong tư riêng các nước này, về cốt lõi, đã đạt tới một quan điểm chung về tranh chấp lãnh thổ. Họ trỏ vào lời lẽ trong DOC ASEAN-Trung Quốc năm 2002 nói về việc không "viện đến việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực" để cho thấy rằng họ không có kế hoạch tống xuất các bên yêu sách Đông Nam Á khác khỏi các thể đia lý đang chiếm đóng.[25] Nói cách khác, trên thực tế (de facto), họ tôn trọng tính hợp pháp của việc chiếm đóng các đảo và rạn đá hiện có. Có thể họ chưa chuẩn bị để đưa ra việc công nhận chính thức theo luật pháp (de jure) việc chiếm đóng đó, nhưng rõ ràng là, ít ra là trong nội bộ ASEAN, tranh chấp lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa hầu như không về vấn đề.

Cách hiểu biết theo thực tế (de facto) như thế này có thể mở rộng tới Trung Quốc không?

Tất cả những gì cần cho hòa bình ở Biển Đông là tất cả các bên tranh chấp công nhận việc chiếm đóng của bên khác và tuyên bố dứt khoát rằng họ tán đồng với tinh thần và câu chữ của UNCLOS. Tất nhiên, sẽ có mất nhưng cũng có được. Việt Nam sẽ bị mất quần đảo Hoàng Sa, nhưng sẽ được tính hợp pháp ở quần đảo Trường Sa và, với sự cáo chung của đường chín đoạn, sẽ có thể khai thác hydrocarbon và cá mà không có đối đầu. Trung Quốc sẽ mất đường chín đoạn, nhưng sẽ được tính hợp pháp ở quần đảo Hoàng Sa, trên các thể địa lý chiếm đuợc ở quần đảo Trường Sa, và, quan trọng hơn, làm giảm đáng kể khả năng đối đầu với Hoa Kì. Philippines sẽ mất chủ quyền đối với nhiều phần của nhóm đảo Kalayaan—khu vực rộng lớn của quần đảo Trường Sa mà họ yêu sách—mà không chiếm đóng, nhưng sẽ được Bãi Cỏ Rong và EEZ không có tranh chấp dọc theo bờ biển của mình. Mọi thứ đã đâu vào đó; giờ chỉ còn tuỳ quyết định của Trung Quốc.




[1] Carlyle Thayer, “China-ASEAN and the South China Sea: Chinese Assertiveness and Southeast Asian responses,” in Major Law and Policy Issues in the South China Sea: European and American Perspectives, ed. Yann-huei Song and Keyuan Zou (Burlington, VT: Ashgate, 2014), 44.
[2] Prashanth Parameswaran, “China’s Plan for ASEAN-China Maritime Cooperation,” Diplomat, April 1, 2015, http://thediplomat.com/2015/04/chinas-plan-for-asean-china-maritime-cooperation/.
[2] Bao Haibin, “China-ASEAN Maritime Cooperation Fund,” PowerPoint presentation at the ASEAN regional Forum Maritime Security Workshop on Preparedness and response to Marine Pollution Incidents, Honolulu, HI, March 4–5, 2014, http://aseanregionalforum.asean.org/files/Archive/21st/ARF%20Maritime%20Security%20Workshop%20on%20Preparedness%20and%20response%20to%20Marine%20Pollution%20Incidents,%20Honolulu,%204-5%20March%202014/Annex%209%20-%20China-ASEAN%20Maritime%20Cooperation%20Fund.pdf.

[4] Federica Mogherini, Speech at the 14th IISS [International Institute for Strategic Studies] Asia Security Summit/Shangri-La Dialogue, Singapore, May 31, 2015, http://eeas.europa.eu/statements-eeas/2015/150531_02_en.htm.
[5] Nhóm G7 gồm có Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật, Anh và Mĩ.
[6] G7 Foreign Minister’ Declaration on Maritime Security, Lübeck, Germany, April 15, 2015, http://www.auswaertiges-amt.de/EN/Infoservice/Presse/Meldungen/2015/150415_G7_Maritime_Security.html.
[7] Kevin Andrews, Speech at the 14th IISS Asia Security Summit/Shangri-La Dialogue, Singapore, May 31, 2015, http://kevinandrews.com.au/latest-news/2015/05/31/114th-iiss-asia-security-summit-the-shangri-la-dialogue/.
[8] Reuters, “Japan Steps up Maritime Engagement with Philippines, Vietnam,” InterAksyon, May 12, 2015, http://www.interaksyon.com/article/110424/japan-steps-up-maritime-engagement-with-philippines-vietnam.
[9] Associated Press, “Philippines Wants Defense Pact for Japanese Troops,” New York Times, June 5, 2015,
[10] White House, “u.S.-India Joint Statement,” September 30, 2014, https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2014/09/30/us-india-joint-statement.
[11] BRICS viết tắt của “Brazil, Nga (Russia), Ấn Độ (India), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa).”
[13] Alvin Elchico, “Natural Gas Supply at Malampaya to Last until 2024,” ABS-CBN News, october 21, 2014, http://www.abs-cbnnews.com/business/10/21/14/natural-gas-supply-malampaya-last-until-2024
[14] Chris Larano, “Philex to Send Survey Ship to Disputed Reed Bank,” Wall Street Journal, october 29, 2014, http://www.wsj.com/articles/philex-to-send-survey-ship-to-disputed-reed-bank-1414584594.
[15] “Forum Energy Discloses Plans to Delist Shares from uK Exchange,” BusinessWorld, April 20, 2015, http://www.bworldonline.com/content.php?section=​Corporate&title=​f​orum-energy-discloses-plans-to-delist-shares-from-uk-exchange&id​=​106458 .
[16] “Mutual Defense Treaty between the united States and the republic of the Philippines,” August 30, 1951, Article V, http://avalon.law.yale.edu/20th_century/phil001.asp.

[17] Xem, chẳng hạn Bill Hayton, “Fact, Fiction and the South China Sea,” Asia Sentinel, May 25, 2015, http:// www.asiasentinel.com/politics/fact-fiction-south-china-sea/; Bill Hayton, “China’s False Memory Syndrome,” Prospect Magazine, July 10, 2014, http://www.prospectmagazine.co.uk/world/chinas-false-memory-syndrome. 

[18] Bill Hayton, The South China Sea: The Struggle for Power in Asia (New Haven, CT: yale university Press, 2014).
[19] Ibid.
[20] Andrew Chubb, “Luconia Breakers: China’s New ‘Southernmost Territory’ in the South China Sea?,” South Sea Conversations, June 16, 2015, https://southseaconversations.wordpress.com/2015/06/16/luconia-breakers-chinas-new-southernmost-territory-in-the-south-china-sea/.
[21]  James Clad and robert A. Manning, “China’s Bad Diplomacy,” National Interest, December 17, 2012, http://nationalinterest.org/commentary/chinas-bad-diplomacy-7855?page=​show.
[22]  “Najib: Avoid Show of Force in Maritime overlapping Claims,” Borneo Post, April 24, 2015, http://www.theborneopost.com/2015/04/24/najib-avoid-show-of-force-in-maritime-overlapping-claims/.
[23] Praveen Menon and Manuel Mogato, “Host Malaysia Avoids Chinese Ire over Disputed Sea at ASEAN Summit,” reuters, April 23, 2015, http://www.reuters.com/article/2015/04/23/us-asean-summit-philippines-iduSKBN0NE0TL20150423.
[24]  “South China Sea Island-Building ‘May Undermine Peace’—ASEAN,” BBC, April 28, 2015, http://www.bbc.com/news/world-asia-32476951.
[25] Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea, Phnom Penh, November 4, 2002, http://www.asean.org/asean/external-relations/china/item/declaration-on-the-conduct-of-parties-in-the-south-china-sea.

Tuesday, August 26, 2014

Đường chín vạch: ‘đã khắc sâu trong tâm khảm chúng tôi'

Đường chín vạch: ‘đã khắc sâu trong tâm khảm chúng tôi'

The Nine-Dashed Line: 'Engraved in Our Hearts'

The Diplomat (25/08/2014)
Zheng Wang

Yêu sách "chín đường vạch"của Trung Quốc (bao gồm James Shoal) đã được dạy trong các trường học Trung Quốc từ những năm 1940 như thế nào.


Bạn có nghe nói về bãi ngầm James Shoal (tiếng Trung là Tăng Mẫu Ám Sa) không? Bạn có biết nó ở đâu không? Bài viết cuối trên blog của tôi nói về khoảng cách nhận thức giữa Trung Quốc và các nướcláng giềng. Câu chuyện của bãi ngầm James là một ví dụ tốt về sự khác biệt to lớn trong nhận thức.

Đối với những ai tiếp nhận nền giáo dục ở Trung Quốc, Tăng Mẫu Ám Sa (bãi ngầm James) là một cái tên rất quen thuộc. Ví dụ, trong sách giáo khoa địa lí lớp 8 hiện tại do nhà xuất bản Giáo dục nhân dân in, có thể tìm thấy bản đồ Trung Quốc với đường chín vạch ở trang 4. Để dễ nhận diện, ban biên tập đã dùng một mũi tên trỏ vào bãi ngầm James. Ngoài ra, còn có một khung chú thích chỉ vào nó ghi: "Điểm cực nam của lãnh thổ nước ta là Tăng Mẫu Ám Sa ở quần đảo Nam Sa (Trường Sa)." Học sinh được yêu cầu sử dụng thước để đo từ điểm cực bắc của Trung Quốc tới Tăng Mẫu Ám Sa rồi tính toán khoảng cách thực tế dựa theo tỉ lệ của bản đồ. Câu trả lời đúng là 5 5 000 km (3.417 dặm).

James Shoal textbook image
Hình bãi ngầm James trong sách giáo khoa
Bản đồ Trung Quốc từ sách giáo khoa địa lý lớp 8 của nhà xuất bản Giáo dục nhân dân. Khung ghi chú ở góc phải phía dưới trỏ vào Tăng Mẫu Ám Sa

Bãi ngầm James là một bãi nhỏ ở biển Đông, nằm dưới nước ở độ sâu 22 mét (72 feet). Nó cách bờ biển Malysia khoảng 80 km (50 dặm) và cách Trung Quốc khoảng 1 800 km. Cả CHNDTH lẫn THDQ (Đài Loan) đều chính thức tuyên bố bãi ngầm này là thể địa lí cực nam của nước Trung Hoa. Malaysia cũng tuyên bố chủ quyền bãi ngầm này. Một bãi chìm dưới nước thì không có cách nào để dựng được bia chủ quyền. Tuy nhiên, ngày 20 tháng 4 năm2010, tàu hải giám 83 của Trung Quốc đã đến vùng biển xung quanh bãi ngầm này. Một số nhân viên trên tàu đã ném một tấm bia chủ quyền xuống nước. Bia là một tấm đá cẩm thạch lớn và nặng có khắc hai chữ 中国 (Trung Quốc). Một bản tin khác hồi năm 2013 kể câu chuyện về sĩ quan và lính hải quân Trung Quốc tham gia một buổi lễ tuyên thệ tại vùng biển cạnh Tăng Mẫu Ám Sa, hứa bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích biển của Trung Quốc.

Câu chuyện về Tăng Mẫu Ám Sa là "điểm cực nam" của Trung Quốc không phải là một tuyên truyền mới của ĐCSTQ. Bản đồ biển Đông chính thức đầu tiên của Trung Quốc với các đường đứt đoạn đã được THDQ của chính phủ Quốc Dân Đảng công bố vào năm 1948 (dù được vẽ vào năm 1947 sử dụng nội bộ). Cũng có các tài liệu cho rằng một bản đồ do nhà vẽ bản đồ Bai Meichu (Bạch Mi Sơ) vẽ ra năm 1936 sử dụng đường liền bao quanh quần đảo Hoàng Sa, bãi ngầm Macclesfield và quần đảo Trường Sa. Bản đồ năm 1936 này đánh dấu Tăng Mẫu Ám Sa thuộc quần đảo Trường Sa như ranh giới cực nam của Trung Quốc ở biển Đông. Từ thập niên1940, nhiều thế hệ dân Trung Quốc đã học theo sách giáo khoa địa lí của họ rằng Tăng Mẫu Ám Sa là điểm cực nam của lãnh thổ Trung Quốc. Các thế hệ học sinh Trung Quốc khác nhau cũng đã tiến hành cách thực hành tương tự trong các giờ học địa lí trung học: học sinh sử dụng thước để đo khoảng cách từ điểm cực bắc của Trung Quốc (Mohe [Mạc Hà], gần sông Amur, ở vĩ độ 53° 29'Bắc) tới Tăng Mẫu Ám Sa (ở vĩ độ 4° 15' Bắc) và sau đó cảm thấy rất tự hào về lãnh thổ rộng lớn của đất nước.

Trong một bài viết trên số tháng6 năm 2013 của tạp chí Địa lí Quốc gia Trung Quốc, Shan Zhiquang (Đan Chí Cường), tổng biên tập điều hành của tạp chí, viết như sau :

Đường chín vạch đã được sơn phết trong tim óc người Trung Quốc trong một thời gian dài. Đã 77 năm từ khi Bai Meichu đưa nó vào bản đồ năm 1936 của ông. Bây giờ nó đã khắc sâu trong tim óc người dân Trung Quốc. Tôi không tin rằng bất kì nhà lãnh đạo Trung Quốc nào sẽ loại bỏ các đường chín vạch khỏi người Trung Quốc. Tôi không tin rằng sẽ có có lúc mà Trung Quốc tồn tại không với đường chín vạch.

Trong thời gian nghỉ phép năm ngoái, tôi có giảng một khóa học tại một trong những trường đại học hàng đầu của Trung Quốc với tư cách giáo sư thỉnh giảng. Một lần tôi hỏi cả lớp liệu họ có đồng ý với phát biểu trên của Shan Zhiqiang không, hầu hết các sinh viên đều giơ tay lên.

Trong nhiều tranh chấp lãnh thổ, bản đồ đã được các bên tranh chấp sử dụng như là công cụ quan trọng để biện minh cho việc bảo vệ hoặc thu lại các vùng lãnh thổ tranh chấp. Bản đồ cũng được sử dụng trong hệ thống giáo dục để hình thành khái niệm về biên giới quốc gia và chủ quyền ở thế hệ trẻ. Bản đồ và sách giáo khoa là một trong những bài giảng quan trọng nhất về bản sắc và thế giới quan đối với một nhà nước quốc gia, và Trung Quốc không phải đơn độc trong việc sử dụng chúng. Trong những năm gần đây, chúng ta đã thấy rằng nhiều quốc gia có yêu sách ở biển Đông đã có chú tâm mới về giáo dục và chuyện kể với mục đích tăng cường nhận thức của người dân về yêu sách lãnh thổ của họ, bao gồm việc duyệt xét lại bản đồ và sách giáo khoa. Ví dụ, Philippines đã chính thức đổi tên vùng biển ở biển Đông ngoài khơi bờ biển phía tây của nước này là"biển Tây Philippines" vào tháng 9 năm 2012. Việt Nam cũng gọi Nam Hải là "biển Đông." Việc "giáo dục lòng yêu nước" và chuyện kể xã hội Việt Nam liên quan đến tranh chấp biển Đông trong một hoặc hai thập niên qua cũng đã đóng góp trực tiếp vào việc phát triển tình cảm chống Trung Quốc ở Việt Nam hiện nay. Các cuộc biểu tình và bạo loạn gần đây là một trong những hệ luỵ trực tiếp.

Nhận thức, chứ không phải bất cứ thứ gì khác, là điều nguy hiểm nhất ở biển Đông.

Wang Zheng là Giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu về Hòa bình và Xung đột tại Đại học Seton Hall và là thành viên toàn cầu tại Trung tâm Woodrow Wilson.

Wednesday, April 30, 2014

Trung Quốc từng chẳng biết quần đảo Trường Sa ở đâu

Trung Quốc từng chẳng biết quần đảo Trường Sa ở đâu

John Nery


Năm 1933, người Pháp phô trương sức mạnh thuộc địa của họ và sáp nhập 9 đảo thuộc quần đảo Trường Sa[1]. Khi tin tức lan đi, nước Trung Hoa Dân Quốc còn non trẻ và bất ổn phải đối mặt với một vấn đề cơ bản: Họ chẳng biết quần đảo Trường Sa ở đâu.

Một năm trước đó, người Pháp đã đưa ra yêu sách đối với quần đảo Hoàng Sa như là một phần của thuộc địa của họ ở Việt Nam. Yêu sách thứ hai của Pháp đối với một phần của quần đảo Trường Sa làm Trung Quốc rối bời. Như học giả Francois-Xavier Bonnet của IRASEC, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á đương đại, lưu ý:

"Hai yêu sách chủ quyền của chính phủ Pháp... không những làm công chúng và các phương tiện truyền thông Trung Quốc mà cả các cơ quan chính thức như quân đội và các chính trị gia ở tỉnh Quảng Đông và Bắc Kinh đều rối trí. Thật ra, người Trung Quốc tin rằng quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa hoặc Tây Sa là cùng đúng một nhóm, nhưng người Pháp chỉ vừa đổi tên như một thủ thuật để làm chính phủ Trung Quốc nhầm lẫn. Để xác định vị trí của quần đảo Trường Sa, ông Kwong, Lãnh sự Trung Quốc tại Manila, đã tới Cơ quan Khảo sát biển và trắc địa Mĩ ngày 26/07/1933 và ngạc nhiên phát hiện ra rằng quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là khác nhau và cách xa nhau."

Tôi được Bill Hayton, phóng viên của BBC, chỉ cho bài viết được nhiều người đọc của Bonnet, "Địa chính trị của bãi cạn Scarborough" (một bài viết ở thứ bậc có 100 000 lượt tải về với phiên bản PDF kể từ khi nó được đăng lần đầu hồi tháng 11 năm 2012). Tôi thấy rằng bài giảng dựa trên bản đồ của ông về nguồn gốc của các yêu sách đối với biển Đông của Trung Quốc hôm thứ Sáu tuần trước tại Đại học Philippines là rất kích thích suy nghĩ. Khi tôi hỏi Hayton khai triển thêm quan điểm của ông rằng vào năm 1933 chính phủ Trung Quốc thậm chí còn không biết quần đảo Trường Sa ở đâu, ông giới thiệu tôi tới Bonnet cũng ngồi trong số người tham dự (ngay bên cạnh Chuyên viên cao cấp Tư pháp Antonio Carpio).

Bonnet và Hayton đã cho tôi một số bản sách và các đường dẫn (link) đến tài liệu chủ chốt (quyển "Biển Đông : khu vực nguy hiểm" của Hayton mà Đại học Yale sẽ xuất bản vào cuối năm nay; tên sách là một cách chơi chữ bằng tên khác của quần đảo Trường Sa.) Chắc chắc, họ làm cho việc đọc hấp dẫn, phần lớn thông tin đều có sẵn trực tuyến. Thậm chí điều trớ trêu thú vị về việc một lãnh sự Trung Quốc tham khảo ý kiến văn phòng của chính quyền thuộc địa Hoa Kì ở Manila để xác định vị trí của quần đảo Trường Sa đã được đàm tiếu trong giới học thuật và trên mạng Internet ít nhất một thập kỉ.

Năm 2004, Bonnet viết bài "The Spratlys: A Past Revisited (Trường Sa: Một quá khứ xem xét lại)" cho World Bulletin, một ấn phẩm của Viện nghiên cứu pháp lí quốc tế của UP. Bài này có một phần về " sự nhầm lẫn Trung Quốc" về vị trí của 9 hòn đảo bị sáp nhập trong quần đảo Trường Sa.

Tuy nhiên, giai đoạn cụ thể này trong lịch sử vẫn còn ít được biết đến. Một số đoạn từ bài viết năm 2012 của Bonnet có lẽ đáng được nêu lại ở đây.

Thứ nhất, chú thích sau đây. "Ngày 01/08/1933 Lãnh sự gửi báo cáo cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc, cho biết:" Các đảo [trong quần đảo Trường Sa mà người Pháp sáp nhập] được gọi chung là Tizard Bank[2] và nằm cách Hải Nam 530 dặm, cách Hoàng Sa 350 dặm và cách Palawan 200 dậm... Các báo cáo cho rằng 9 hòn đảo này là một phần của quần đảo Tây Sa [ Hoàng Sa ] là không chính xác."[3]

Thứ hai, trích dẫn sau đây từ một lá thư của Wang Gong Da, Giám đốc Peiping News (Tin tức Bắc Bình), gửi Bộ trường ngoại giao (foreign affairs secretary): "Đừng gây ra một sai lầm ngoại giao; các đảo này không thuộc quần đảo Tây Sa. Đảo Tri Tôn [thuộc Tây Sa] là phần cực nam của lãnh thổ của chúng ta [điều này được viết trước khi Trung Quốc có nỗi ám ảnh vô lí với bãi ngầm James[4]]. Phía nam đảo Tri Tôn, không có dính dáng tới lãnh thổ Trung Quốc. Những kẻ được gọi là chuyên gia, nhà địa lí, đại diện Hải quân, vv … của chúng ta làm điều hổ thẹn cho đất nước."

Vị trí các đảo thuộc Trường Sa Pháp tuyên bố chủ quyền năm 1933 so với đảo Tri Tôn (đa giác chứa đảo Tri Tôn là đường cơ sở Hoàng Sa theo TQ, đa giác lớn là khu vực Trường Sa mà Philippines yêu sách) 

Và thứ ba, đoạn sau trích từ một báo cáo bí mật của Hội đồng quân sự, ghi ngày 01/09/1933 : "Tóm lại, chúng ta chỉ có một mẫu chứng cứ, các ngư dân của chúng ta từ đảo Hải Nam [có mặt trong một số chỗ thuộc quần đảo Trường Sa], và chúng ta chưa bao giờ làm bất cứ điều gì trên các đảo này. Chúng ta cần phải hạ nhiệt trận đấu với người Pháp, nhưng cứ để cho ngư dân của chúng ta tiếp tục hoạt động để bảo vệ quyền đánh cá của chúng ta. Hải quân của chúng ta yếu và 9 đảo này không có ích cho chúng ta bây giờ... "

Tôi đã cố gắng tìm kiếm thêm thông tin về vụ sáp nhập năm 1933 và phản ứng của Trung Quốc. Có một bài báo (trong tất cả mọi chỗ) trên tờ Salt Lake Tribune, làm nổi bật những gì chắc chắn là thực tế địa chính trị của những năm 1930. Được ghi là từ Manila, báo cáo bắt đầu : "Cuộc chiếm đóng bằng tàu thuyền do Pháp phái tới 9 đảo cách Philippines 200 dặm về phía tây [báo cáo nêu đúng về sự kiện này] trong biển Đông là tín hiệu của một cuộc chạy đua giữa hai toà lãnh sự Nhật Bản và Trung Quốc ở đây để có được thông tin xác thực về nhóm đảo này."

Có một bản ghi nhớ nội bộ của Bộ Ngoại giao Mĩ, trong đó lưu ý rằng "Một báo cáo chính thức đề ngày 28/07/1933 từ Manila nêu rằng lãnh sự Trung Quốc Kwong được chính phủ ông chỉ thị điều tra việc người Pháp chiếm đóng quần đảo này và báo cáo lại vì chính phủ Trung Quốc có ý định phản đối sự chiếm đóng của Pháp. Lãnh sự Trung Quốc đã gửi một báo cáo sơ bộ."

Và K. L. Kwong là ai? Chúng tôi biết, theo sách Who’s Who in China 1934 (Ai là ai ở Trung Quốc) thì ông ta là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, từng đại diện Trung Quốc tại Hội Quốc Liên[5] ở Geneva, và đã giữ chức Tổng lãnh sự Trung Quốc tại Philippines từ tháng 11 năm 1930 đến ngày 19 /06/1934; nhiệm sở tiếp theo của ông là San Francisco.

(Một phiên bản không có chú thích của người dịch đã đăng trên Dân Luận ngày 30/04/2014)


Chú thích của người dịch:


[1] Bộ NG Pháp tuyên bố chiếm đóng các đảo Trường Sa, An Bang, Song Tử, Loại Ta, Ba Bình, Thị Tứ cũng như các đảo nhỏ, rạn đá, bãi ngầm, bãi cạn phụ thuộc ngày 26/07/1933, còn việc chiếm đóng xảy ra trong tháng 4/1933 do các tàu Malicieuse, Alerte, Astrobale và de Lanessan thực hiện (Pháp chỉ nêu ra cụ thể 6 tên, trong đó có tên là cho cụm đảo nên có thể vì vậy mà TQ tính thành 9 đảo). 
[2] TQ gọi là bãi Trịnh Hoà, bãi này chứa cả đảo Ba Bình, Nam Yết…
[3] Theo Thân báo (申報) số ra ngày19/8/1933, sau khi được TQ yêu cầu cung cấp tên và toạ độ các đảo thuộc TS mà Pháp chiếm đóng, Pháp đã gửi công hàm nêu rõ toạ độ các đảo chiếm đóng có kèm theo bản đồ vào ngày 4/8/1933. TQ không có hành động chính thức gì khác sau khi nhận được công hàm này.
[5]Hội Quốc Liên (The league of Nations) là tổ chức quốc tế thành lập sau Chiến tranh thế giới II, có thê coi như là tiền thân của LHQ hiện nay

Saturday, February 9, 2013

Vì sao bãi ngầm James thành chỗ cực Nam của TQ?

Cớ làm sao mà một hòn đảo không tồn tại lại thành chỗ cực Nam lãnh thổ Trung Quốc
Bill Hayton

Dich: Phan Văn Song
Hiệu đính: Lê Vĩnh Trương

Bill Hayton nói rằng hồ sơ cũ cho thấy rằng có thể do một lỗi dịch thuật cách đây 80 năm



thành phố Tam Sa trên chuỗi đảo đang tranh chấp Hoàng Sa (ảnh AFP)


Chỗ nào là "điểm cực nam của lãnh thổ Trung Quốc"? Đó là một câu hỏi gây tranh cãi và câu trả lời ít gây tranh cãi nhất có thể là đảo Hải Nam. Các câu trả lời gây nhiều tranh cãi khác sẽ là quần đảo Hoàng Sa (TQ gọi là Tây Sa) hoặc quần đảo Trường Sa (TQ gọi là Nam Sa). Nhưng điểm cực Nam chính thức thậm chí còn xa hơn thế, - xa về phía Nam tận tới bãi ngầm James (James Shoal), cách bờ biển đảo Borneo khoảng 100 km. Có gì đáng ngạc nhiên hơn là mảnh đất quê hương này lại thực sự không thể trông thấy được. Chẳng có gì để thấy trừ khi bạn có thiết bị lặn.

Bãi ngầm James nằm dưới mực nước biển 22 mét. Tuy nhiên, sự bất tiện này không ngăn cản các tàu của Hải quân PLA lúc này lúc khác đến thăm bãi cát ngầm này để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với nó. Nghi thức này liên quan đến kéo một mảnh đá lớn có chạm khắc lên bên sườn tàu. Bây giờ có một bộ sưu tập nhỏ các tấm bia Trung Quốc đóng vỏ sò ốc dưới đáy biển, cách Hải Nam hơn 1 000 km.

Bằng cách nào mà nhà nước Trung Quốc có thể xem thể địa lí mơ hồ này, quá xa đất nước, là điểm cực nam của mình? Tôi đã có lúc nghiên cứu câu hỏi này trong khi viết một cuốn sách về biển Đông. Câu trả lời có nhiều khả năng đúng nhất là đó có thể là kết quả của một lỗi dịch thuật.

Trong những năm 1930, Trung Quốc đã đắm chìm trong làn sóng lo lắng dân tộc chủ nghĩa. Việc Chính phủ THDQ bất lực không làm được bất cứ điều gì có ý nghĩa để ngăn chặn đất nước bị các cường quốc phương Tây và đế quốc Nhật xâu xé đã gây ra sự tức giận cả trên đường phố lẫn trong các hành lang quyền lực. Năm 1933, nước THDQ đã lập ra "Uỷ ban Thẩm tra bản đồ đất và biển" chính thức liệt kê, mô tả và vẽ bản đồ tất cả các phần của lãnh thổ của TQ. Đó là một nỗ lực để khẳng định chủ quyền đối với lãnh thổ rộng lớn của nước này.

Vấn đề chính phải mà Uỷ ban đối mặt, ít nhất là đối với biển Đông, là họ không có phương tiện để khảo sát thực sự bất kì một thể địa lí nào mà họ muốn giành chủ quyền. Thay vào đó, Uỷ ban này chỉ đơn giản là sao chép các đổ biểu hiện có của Anh và đổi tên của các đảo thành âm tiếng Hoa. Chúng tôi biết họ đã làm điều này vì bản đồ của Uỷ ban này gồm luôn cả khoảng 20 chỗ sai nằm trên bản đồ Anh – những thể địa lí mà về sau này, các khảo sát tốt hơn đã cho thấy không thực sự tồn tại.

Uỷ ban đã đặt tên tiếng Hoa một vài đảo của Trường Sa. North Danger Reef (Đá Bắc) trở thành Bắc Hiểm [Beixian: 北崄 "nguy hiểm phía bắc"), Antelope Reef (Đá Hải Sâm) đã trở thành Linh Dương (Lingyang: 羚 羊). Các tên khác cũng chỉ đơn giản là phiên âm tương tự như thế, ví dụ, đảo Spratly (Trường Sa) đã trở thành Tư Phổ Lạp Đặc Lợi (Sipulateli: 斯普拉特利)*  và James Shoal trở thành Tăng Mẫu (Zengmu: 曾 母). Và điều này có vẻ là chỗ mà những sai lầm đã len lỏi vào.

Nhưng dịch từ "shoal" (bãi ngầm) thế nào? Đây là một thuật ngữ về biển có nghĩa là một khu vực biển cạn nơi sóng nhập thành"bầy" (shoal up). Người đi biển sẽ thấy một vùng nước kì lạ đầy sóng giữa đại dương và biết khu vực đó không sâu và do đó nguy hiểm. Bãi ngầm James là một trong nhiều thể địa lí tương tự như vậy trong quần đảo Trường Sa.

Nhưng Uỷ ban dường như không hiểu thuật ngữ tiếng Anh tối nghĩa này vì họ dịch "shoal" thành “than” (tan: 滩 bãi biển hoặc bãi cát - một thể địa lí thường cao hơn mặt nước). Chưa từng đến tận nơi, Ủy ban này dường như đã cho rằng James Shoal / bãi Tăng Mẫu (Tăng Mẫu Than) là một khoảnh đất và do đó là một khoảnh đất của Trung Quốc.

Năm 1947, các nhà vẽ bản đồ của THDQ xem xét lại các câu hỏi về biên giới biển của Trung Quốc, vẽ ra cái bây giờ được biết đến là "đường chữ U". Có vẻ như họ đã nhìn vào danh sách tên tiếng Hoa, cho rằng Tăng Mẫu Than nằm trên mặt nước và đã gộp nó vào trong đường chữ U này. Thế là một hòn đảo không tồn tại đã trở thành lãnh thổ cực nam của đất nước TQ.

Tuy nhiên, có một quá trình song song vào cùng thời gian đó, chính phủ THDQ đã đặt tên mới cho nhiều thể địa lí biển. Chẳng hạn, đảo Trường Sa đã trở thành Nam Uy (Nanwei: 南威 uy nghi phía Nam), và James Shoal được thay đổi từ một bãi cát (than) thành một rạn san hô (ám sa = ansha 暗 沙 bãi cát ngầm – ám: ngầm). Có lẽ, tới lúc đó, các cơ quan có thẩm quyền đã nhận ra cái sai của họ. Tuy nhiên, vị thế cực nam chính thức của Tăng Mẫu Ám Sa vẫn giữ nguyên.

Đến nay, lỗi dịch thuật này đã biến thành một thực tế, đưa khu vực này vào tiến trình tranh chấp 80 năm sau.

Điều này không chỉ là chuyện vặt của lịch sử; bãi ngầm James là một phép thử cho việc liệu Bắc Kinh thực sự toàn tâm toàn ý theo các quy định của luật pháp quốc tế ở biển Đông hay không. Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), không một nước nào có thể đòi chủ quyền đối với một thể địa lí ngầm, trừ khi nó nằm trong phạm vi 12 hải lý cách đất liền. Bãi ngầm James cách lãnh thổ không có tranh chấp của TQ hơn 1.000 km.

Tháng trước, chính phủ Philippines loan báo sẽ tìm kiếm một phán quyết của tòa án quốc tế về việc liệu các đòi hỏi chủ quyền biển của TQ có tương thích với công ước của Liên Hiệp Quốc hay không. Bãi ngầm James sẽ là một ví dụ rõ mồn một về một đòi hỏi không tương thích. Có lẽ đây là một thời điểm tốt để Bắc Kinh xét lại xem làm thế nào họ có thể đòi hỏi chủ quyền mảnh đá ngầm mờ mịt này ngay từ bước đầu


Bill Hayton đang viết một cuốn sách về Biển Đông sẽ xuất bản vào cuối năm nay

_____________________________
* Lưu ý rằng đối với âm R người Hoa thường chuyển thành âm L (ví dụ: Roma --> Luó Mă [La Mã], Rousseau--> Lú Suō [Lư Thoa]... mới thấy Si-pu-la-te-li [tư phổ lạp đặc lợi - 斯普拉特利] là phiên âm của S-p-ra-t-ly, hoặc Pai-la-su [phách lạp tô - 柏拉苏] là Pa-ra-cel... Qua đó cũng thấy khi chuyển thêm qua âm Hán Việt thì thường là 'trớt quớt', cách biệt quá xa so với âm gốc như mấy ví dụ vừa nêu. :-)