Wednesday, April 26, 2017

Karl Marx vẫn còn tác dụng

Karl Marx vẫn còn can hệ: những cái phe tả hiện đại có thể học được từ triết gia này

(Karl Marx still matters: what the modern left can learn from the philosopher)

Trò chuyện với nhà sử học Gareth Stedman Jones.

Sean Illing
Vox 18 tháng 4 năm 2017


London, Anh, ngày 7 tháng 10 năm 2007: Nơi tưởng niệm Karl Marx tại nghĩa trang Highgate. Shutterstock

Tại lễ tang của Karl Marx, người bạn và cộng sự lâu năm Friedrich Engels đã tuyên bố với khoảng chục người đến dự, "Tên ông cũng như các trước tác của ông sẽ bền vững qua nhiều thời đại".

Lời của Engels chắc chắn đã được xác nhận. Dù chủ nghĩa Mác đã thất bại nhưng ý tưởng của Marx đã làm thay đổi thế giới. Tuy nhiên, câu chuyện của Marx, nhà tư tưởng, là phức tạp.

Marx có rất nhiều điều đúng. Phê phán của ông về chủ nghĩa tư bản sai trái nhưng lại hữu ích vô cùng. Ông biết rằng công nghiệp hóa sẽ làm đảo lộn các hệ thống xã hội hiện tại và tạo ra những hệ thống mới thay vào. Ông cũng thấy, có lẽ cũng như bất cứ ai, những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản và sự biến động của các chu kì kinh doanh.

Marx cũng có rất nhiều điều sai. Ông cho rằng bản chất con người có tính co dãn và mềm dẻo, có khả năng có bất kì hình dạng nào hễ có đúng điều kiện. Ngoài việc không đúng sự thật, đây là luận điệu biện minh chuẩn bị sẵn cho các thí nghiệm kì cục trong việc lèo lái xã hội.

Marx điên cuồng tin rằng lịch sử đi theo một hướng rõ ràng: Sự vận động tiến tới một xã hội không tưởng phi giai cấp là không thể thay đổi và hiển nhiên. Đây là lúc Marx ở giai đoạn tồi tệ nhất, nâng ý tưởng lên trên kinh nghiệm, nâng hi vọng lên trên logic.

Trong những trước tác lúc đầu, ông tin rằng chủ nghĩa tư bản nhất định phải tiêu vong. Sau đó, Marx đã rút lại khẳng định này, khi nhận ra rằng chủ nghĩa tư bản bền vững hơn ông nghĩ ban đầu. Vào thời điểm cuốn Tư bản ông viết phát hành vào năm 1867, hơn hai thập kỷ sau khi Tuyên ngôn Cộng sản được công bố, ông đã hình dung chủ nghĩa cộng sản như là một đối thủ (competitor) hơn là cái thay thế tất yếu của chủ nghĩa tư bản.

Nhưng nhiệt tình cách mạng của Marx thời kì đầu đã quá quyến rũ đối với những người theo chủ nghĩa Mác để theo bước ông. Chủ nghĩa Marx, như nhà văn Pháp Albert Camus nói, đã trở thành một "tôn giáo theo chiều ngang", thay Chúa bằng lịch sử, thay sự cứu rỗi đời đời bằng thiên đường trần thế.

Với tất cả mọi thứ được thực hiện theo tên ông, di sản của Marx thách thức sự mô tả giản đơn. Lời của Marx có chịu trách nhiệm cho hành động của những người Marxist? Kể câu chuyện của ông theo cách nhìn nhận cả cái đúng lẫn cái sai của ông như thế nào?

Có vô số tiểu sử của Marx — có lẽ là quá nhiều. “Karl Marx: Tiểu sử” của David McLellan, xuất bản lần đầu năm 1973, vẫn là cuốn tốt nhất và sâu sắc nhất. Nhưng cuốn mới nhất của Gareth Stedman Jones, nhà sử học về tư tưởng thuộc Đại học London, là một bổ sung đáng chú ý.

Cuốn sách có tên là “Karl Marx: sự vĩ đại và ảo tưởng” của Jones là một cố gắng để loại bỏ việc huyền thoại hoá Marx và đặt ông lại trong "môi trường thế kỉ thứ mười chín của ông". Đó là một tiểu sử đồng cảm nhưng có cân nhắc. Hình ảnh Marx mà chúng ta có được khác với hình ảnh mà chúng ta đã quen: một nhà tư tưởng đam mê nhưng linh hoạt, ông sẽ phản đối nền chính trị thực hiện theo tên của ông.

Nhưng câu hỏi thú vị nhất là câu mà Jones không trả lời trọn vẹn: Liệu Marx có tác dụng vào lúc này?

Mới đây tôi đã ngồi với Jones để nói về cuốn sách đó. Tôi hỏi anh tại sao những ý tưởng của Marx vẫn còn thích đáng, ông đã đúng và sai điều gì về chủ nghĩa tư bản, và phe tả hiện đại có thể học được từ Marx điều gì.

Sean Illing
Xin cho biết tại sao Karl Marx vẫn còn can hệ.

Gareth Stedman Jones
Tôi nghĩ rằng trước tiên chúng ta phải tách Marx ra khỏi chủ nghĩa Marx. Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa Marx có thể sai theo nhiều cách khác nhau. Nhưng hãy tập trung vào những gì mà chính Marx thể hiện. Dù chúng ta nghĩ về ông như thế nào, ông đã đưa ra một bức tranh tuyệt vời về logic phát triển của chủ nghĩa tư bản - nó tạo ra thị trường thế giới như thế nào, nó sáng tạo ra nhu cầu mới như thế nào, nó phá bỏ các tập tục văn hoá được truyền lại và coi thường các hệ thống tầng bậc như thế nào và v.v.

Ông giải thích tất cả những điều này với sự rõ ràng đáng kinh ngạc trong Tuyên ngôn Cộng sản, mà theo nhiều cách đó là một bài ca chiến thắng (paean) đối với giai cấp tư sản tư bản chủ nghĩa và những gì họ tạo ra.

Sean Illing
Bài ca chiến thắng có lẽ là một từ quá mạnh, nhưng chắc chắn Marx có một sự nể trọng đối với những thành tựu của chủ nghĩa tư bản. Anh sẽ nói gì về việc ông ấy hầu như phản ứng chống lại những trước tác đầu tiên của mình? Mỗi nhà tư tưởng vĩ đại đều là sản phẩm của thời đại mình, nhưng điều này có vẻ đặc biệt đúng với Marx.

Gareth Stedman Jones
Marx được hình thành về mặt tri thức bởi các phê phán về tôn giáo và Kitô giáo nói riêng trong thế kỉ 19. Ông thực sự bám vào ý tưởng rằng Chúa không tạo ra con người mà con người tạo ra Chúa. Nói cách khác, chủ thể và đối tượng bị đảo ngược.

Cái mới của Marx là nói rằng điều này có thể áp dụng được không chỉ với Chúa mà còn với các thứ trừu tượng khác, như nhà nước hay kinh tế: Con người tạo ra những thứ này trong quá trình lịch sử nhưng đối với họ chúng dường như có sức mạnh độc lập, mặc dù con người là kẻ sáng tạo ra chúng chứ không phải ngược lại.

Sean Illing
Tại sao ý tưởng rằng con người tạo ra Chúa chứ không phải ngược lại, lại là một tuyên bố làm mất ổn định về chính trị như thế?

Gareth Stedman Jones
Marx thay đổi bản chất và ý nghĩa của việc phê phán tôn giáo. Thay vì thách thức các khẳng định của Kinh thánh hay Kitô giáo, ông nói rằng chúng ta phải hiểu tôn giáo, giống như mọi thứ khác, theo góc độ tiến hóa và lịch sử nhân loại; rằng những thứ chúng ta coi là thần thánh hay vĩnh cửu chỉ đơn thuần là những sản phẩm của con người, và với việc bỏ quên sự thực đó, chúng ta để cho chính mình trở thành đối tượng chứ không phải là chủ thể.

Karl Marx Wax Figure at Madame Tussauds
Tượng sáp Karl Marx tại Madame Tussauds
Ảnh của Sean Gallup / Getty Images

Sean Illing
Như vậy khi Marx phê phán tôn giáo không phải vì nó không đúng mà vì ông nghĩ rằng nó tướt đi khỏi con người ý thức kiểm soát (suy nghĩ và hành động) của mình.

Gareth Stedman Jones
Điều đó khá đúng. Dù thật hay không thì đó là một cái gì đó đã được David Strauss và Bruno Bauer và nhiều người khác trước họ và thực ra trong thế kỉ 18 có bàn luận. Phê phán của Marx nhắm vào việc thay đổi điều kiện vật chất của con người, chứ không phải giải quyết những điều vớ vẩn thần học. Vì vậy, ông mở rộng những phê phán của mình tới lĩnh vực xã hội và chính trị.

Ông nói rằng chủ nghĩa tư bản, không giống như chế độ phong kiến hay chế độ nô lệ, không phải là sản phẩm của sự chinh phục mà là kết quả của sự phát triển của xã hội dân sự. Nói cách khác, hoạt động của con người đã dẫn đến chủ nghĩa tư bản một cách tự nhiên. Nhưng, theo thời gian, chúng ta đã bị trói buộc vào tiến bộ của nó và do đó quên rằng chúng ta là kẻ tạo [ra nó] và luôn có khả năng tạo ra một cái gì đó mới hoặc tốt hơn hoặc công chính hơn.

Sean Illing
Người ta có xu hướng tập trung rất nhiều vào các trước tác ban đầu của Marx, bởi vì đó là nơi mà ta có được sự lãng mạn và nhiệt tình cách mạng, nhưng ta có vẻ thích Marx lúc sau.

Gareth Stedman Jones
Tôi quan tâm nhiều hơn tới việc Marx đạt đến đâu vào những năm 1860, đó là việc lập luận rằng cách mạng không chỉ là một biến cố mà là một quá trình, rằng nó là tích lũy. Tôi nghĩ rằng ông đã phát minh ra ngôn ngữ về dân chủ xã hội, thực sự lan rộng trong 40 hoặc 50 năm sau. Marx không phải là nhà phát minh duy nhất ra ngôn ngữ này, nhưng ông là nhà phát minh chính. Ông đã khởi xướng thành công phong trào công nhân quốc tế theo nhiều cách. Theo nghĩa đó, ông là một trong những kiến trúc sư hàng đầu của nền dân chủ xã hội.

Sean Illing
Ngôn ngữ và ý tưởngcủa Marx lan rộng, nhưng chúng cũng được lọc lựa và thay đổi. Có một chủ đề lặp đi lặp lại trong cuốn sách của anh, ý tưởng rằng những gì được nói và làm dưới tên của Marx thường phản bội tinh thần trong các trước tác của ông.

Gareth Stedman Jones
Trong những năm 1850, Marx vẫn nghĩ rằng chủ nghĩa tư bản là một cơ thể, do đó sẽ có việc sinh ra, lớn lên, trưởng thành, và chết đi. Ông nghĩ rằng logic của hàng hoá và các giao dịch cá nhân sẽ lan rộng và bao trùm cả thế giới, và cuối cùng, chúng ta sẽ chứng kiến một cuộc khủng hoảng và sự sụp đổ một khi hệ thống đó cạn kiệt nguồn lực. Dù sao đi nữa, đó là hi vọng của Marx từ năm 1848 tới 1857.

Tuy nhiên, ông dần dần nhận thức được rằng chủ nghĩa tư bản dễ phục hồi hơn thế, rằng nó có thể điều chỉnh việc sản xuất quá mức và dân số quá mức, thu hoạch xấu và mọi thứ còn lại. Nói cách khác, ông thấy rằng chủ nghĩa tư bản không ở trong một cuộc khủng hoảng cuối cùng nào đó mà sẽ tiếp tục. Và điều đó trở nên ngày càng rõ ràng hơn sau khi ông xuất bản cuốn Tư bản, trong đó ông nhận ra rằng chủ nghĩa tư bản không quá dễ bị thương tổn như ông từng hi vọng. Vì vậy, ông thực sự chuyển hướng và bắt đầu tin rằng chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy có thể sống sót theo cách nào đó và bỏ qua sự phát triển tư bản chủ nghĩa.

Sean Illing
Tại sao sự tiến hóa này không được phản ánh trong chủ nghĩa Marx vào đầu thế kỉ XIX?

Gareth Stedman Jones
Sự phát minh ra chủ nghĩa Marx thật sự xảy ra vào những năm 1870, và nó hoàn toàn gắn bó với niềm tin rằng toàn bộ hệ thống tất yếu phải bị huỷ diệt và phải bị lật đổ. Điều này dẫn đến một dạng trung thành kiểu tôn giáo với ý tưởng rằng chủ nghĩa tư bản đang trong tình trạng khủng hoảng và các cuộc cách mạng là cần thiết để đẩy nhanh sự sụp đổ của nó. Loại suy nghĩ này là cái tạo ra những người Bolsheviks trong thế kỉ 20.

Cuộc họp ở Putilov Works, Petrograd trong thời Cách mạng Nga 1917. Shutterstock

Sean Illing
Hãy nói thêm một ít về cái mà Marx thực sự tin tưởng. Marx bị ảnh hưởng bởi triết gia người Đức Hegel, người cho rằng lịch sử được thúc đẩy bởi các ý tưởng và sự tiến hóa của ý thức con người. Nhưng Marx đảo ngược lời Hegel, nói rằng chính đấu tranh giai cấp và lực lượng sản xuất định hình nhận thức của con người và do đó lịch sử.

Anh có nghĩ Marx đúng chỗ này không?

Gareth Stedman Jones
Tôi nghĩ rằng có một xu hướng đánh giá quá cao cho khẳng định ông đưa ra xúc cảm đến mức nào. Bạn có thể quay trở lại thế kỉ 17 và thấy rằng các nhà lí thuyết về luật tự nhiên đã đưa ra các khẳng định tương tự về mối quan hệ giữa tài sản, sản xuất và xã hội. Marx chỉ đơn giản nói rằng chúng ta bắt đầu với việc săn bắt và hái lượm và sau đó chúng ta có đồng cỏ rồi chúng ta có nền nông nghiệp và sau đó chúng ta có xã hội thương mại và các thoả thuận chính trị tương ứng với các giai đoạn phát triển này.

Sean Illing
Tôi thường thất vọng vì chúng ta không có khả năng tách rời thuyết quyết định lịch sử của Marx với các phê phán của ông về chủ nghĩa tư bản. Marx, như anh nói, đã sai về rất nhiều thứ, nhưng ông hiểu bệnh trạng của chủ nghĩa tư bản, mặc dù ông đã không xây dựng ra được cái khả dĩ thay thế nó.

Gareth Stedman Jones Tôi nghĩ rằng đây là một trong những cái nhìn sâu sắc nhất của Marx. Ông chỉ ra rằng những cái ta có không chỉ là tái sản xuất hay mở rộng việc phân chia lao động mà ta còn có cả một hệ thống tạo ra điều mới mẻ đồng thời nó tạo ra các hệ thống quan hệ xã hội mới mà tới lượt mình các hệ thống này lại tạo ra các nhu cầu mới. Điểm cơ bản của ông là hệ thống đó là một hệ thống vốn dễ thay đổi và bóc lột, vừa có thể bị khủng hoảng vừa có khả năng xói rỗng các tổ chức chính trị được nghĩ là tồn tại bên trên nó.

Sean Illing
Các phê phán chính mà anh nghe về Marx trong các nhà lí thuyết chính trị rằng ông là một nhà tư tưởng có hệ thống kép kín. Ông đã cố gắng thu nhỏ thế giới vào lí thuyết, để làm cho nó nằm vừa vặn trong một khung ý niệm, đó là một việc vặt của kẻ ngốc.

Đó có là một phê phán công bằng?

Gareth Stedman Jones
Tôi nghĩ phê phán đó đúng cho Engels và chủ nghĩa Marx hơn là cho chính Marx. Marx có nhiều hạn chế và có nhiều thứ khác mà ông không để tâm vào, và tôi nghĩ ông không thấy được nhiều điều trong số những điểm yếu này. Ông được biết qua phê phán của ông về tôn giáo nhưng ông cũng được biết bởi những lí tưởng Hi Lạp xưa về cái đẹp, số phận và công lí. Nhưng đôi khi ông không kiểm soát được mình. Ông cố biến thế giới thành một cái gì đó khác với chính nó. Tôi nghĩ rằng những kẻ theo ông đã đi xa hơn ông rất nhiều trong việc cố nhét thế giới vào một cái khung.

Sean Illing
Ý tưởng của Marx cho thấy những cuộc tranh luận hiện tại của chúng ta về vấn đề toàn cầu hóa, thương mại tự do và chủ nghĩa tân tự do như thế nào?

Gareth Stedman Jones
Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa tân tự do là một phiên bản mới của việc làm cho con người thành kẻ sáng tạo ra các lực lượng ngoài tầm kiểm soát của mình hơn là chịu trách nhiệm về chúng. Ví dụ, đối với tôi có vẻ có rất nhiều điều đã trở nên tệ hại từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc vì trong giai đoạn giữa Thế chiến thứ hai và đầu những năm 90, luôn có ý thức rằng có một sự hiện diện của Cộng sản cần phải bị đánh trả và tranh đua.

Đó là thời hoàng kim cho nền dân chủ xã hội vì các chính phủ, kể cả chính phủ Mỹ hối hả tìm kiếm cái thay thế (alternative) cho chủ nghĩa cộng sản, nhưng điều đó có nghĩa là công nhận các công đoàn, khuyến khích các đảng dân chủ, khuyến khích hợp tác nhiều loại và v.v...

Kể từ năm 1991, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không có lực phản kháng, và chính sự phát triển không kiểm soát được đó mà Marx đã phản ứng chống lại trong Tuyên ngôn Cộng sản. Hiện nay, cũng như trước đây, mọi người đều được cho biết rằng có một giới hạn cho những gì ta có thể làm và mặc dù việc làm của họ đang bị lấy đi và cuộc sống của họ đang bị đảo lộn, họ chỉ có việc phải đối phó với nó bởi vì nó là một kết quả không thể tránh khỏi của sự tiến bộ và phát triển.

Nhưng tôi nghĩ rằng đây là việc chúng ta thoái thác trách nhiệm của mình trong việc cải thiện và thay đổi thế giới.

Sean Illing
Dù sao thì chủ nghĩa tư bản dường như đã thắng. Luật vô thường áp dụng cho chủ nghĩa tư bản cũng nhiều như cho bất cứ thứ gì khác, nhưng không còn lựa chọn có ý nghĩa nào khác, không có gì ở phía bên kia của chủ nghĩa tư bản. Vậy điều đó đặt chúng ta ở đâu?

Gareth Stedman Jones
Tôi nghĩ chúng ta không nên chấp nhận điều đó. Những gì chúng ta nên nói là chủ nghĩa tư bản có thể là một đặc điểm không tránh được của thế giới, nhưng nó có thể kiểm soát được. Nó có thể chuyển thành các hình thức ít phá hoại hơn, và đó là những gì mà các đảng phái chính trị nên quyết tâm làm.

Sean Illing
Marx có câu viết nổi tiếng rằng các nhà triết học chỉ giải thích thế giới, trong khi cái chính là thay đổi nó. Không chút nghi ngờ là Marx đã thay đổi thế giới. Anh có nghĩ rằng Marx đã làm nó tốt lên không?

Gareth Stedman Jones
Rất khó để phân biệt tác động của ông với tác động của tất cả các loại hoàn cảnh khác, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta được tốt lên hơn là nhờ có các phê phán của ông.

Sean Illing
Phê phán của Marx về tôn giáo rằng nó là một loại thuốc gây mê. Có lẽ cần có một phê phán tương tự về thế giới hiện tại của chúng ta, bão hòa với điện thoại thông minh và phương tiện truyền thông xã hội cùng với các hình thức phân tâm khác. Bạn có nghĩ rằng những công nghệ này ngăn chúng ta đối mặt với tình trạng của mình, và quan trọng hơn, ngăn chúng ta thay đổi nó?

Gareth Stedman Jones
Tôi nghĩ điều đó là đúng. Đó là chỗ mà suy nghĩ của Marx vẫn còn truyền cảm và tích cực. Ông nhấn mạnh rằng thế giới có thể khác đi. Dù đó là điện thoại thông minh hoặc internet hoặc băng chuyền và nhà máy, không có thứ gì trong số này nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Có những cách để hạn chế những thứ này, hoặc ít nhất đảm bảo rằng chúng ta có thể kiểm soát được ảnh hưởng của chúng.
Luôn luôn có tiềm năng cho thay đổi, và chính trị là con đường dẫn đến sự thay đổi đó.

Saturday, April 1, 2017

Trung Quốc thật sự muốn gì ở Biển Đông?

Trung Quốc thật sự muốn gì ở Biển Đông?

Huyền thoại lịch sử, chiến lược quốc phòng và lợi ích kinh tế, tất cả đều có vai trò

Nikkei Asian Review 29 tháng 3 năm 2017
Bill Hayton

(Bản dịch đã đăng trên anhbasam ngày 31/03/2017)

Câu hỏi Trung Quốc thực sự muốn gì ở biển Đông ít được nghiên cứu một cách đáng ngạc nhiên ở phương Tây. Có quá nhiều nhà phân tích quốc tế dường như bằng lòng khi đưa ra các giả định về động cơ chiến lược và chiến thuật của Trung Quốc mà không đối chiếu các tuyên bố hay tài liệu của Trung Quốc.

Mối quan tâm của các chiến lược gia Mĩ, đặc biệt về tự do đi lại, an toàn của các đồng minh và duy trì một trật tự dựa trên luật pháp chi phối hầu hết các bài viết/sách vở tiếng Anh về tranh chấp. Họ rất thường chiếu cùng những động lực đó lên “thứ khác” và diễn giải các hành động của Trung Quốc trên cơ sở đó

Một số tài liệu chính thức của Trung Quốc có thể đọc được, vẽ ra một hình ảnh khác biệt. Sách trắng của Trung Quốc về chiến lược quân sự công bố tháng 5 năm 2015 xác định các mối đe dọa lớn nhất đối với Trung Quốc là “chủ nghĩa bá quyền, chính trị quyền lực và chủ nghĩa can thiệp mới”, và nêu rằng ưu tiên hàng đầu của quân đội là “bảo vệ sự thống nhất quốc gia [của Trung Quốc], toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của sự phát triển.”

Trong khi các nhà phân tích Mĩ tập trung vào quyền truy cập biển Đông như là một phần của “khu vực dùng chung của toàn cầu”, Trung Quốc tập trung vào việc bảo vệ biển Đông như là một phần của lãnh thổ vốn có của Trung Quốc. Nghiên cứu của tôi dấy lên mối nghi ngờ nghiêm trọng về các kể lể lịch sử này nhưng các nhà phân tích phương Tây cần nghiêm túc nhiều hơn nữa nếu họ muốn hiểu những gì đang thúc đẩy các tranh chấp ở đó.

Mặc dù tiến trình chính trị mờ đục của Trung Quốc gây khó khăn cho việc đánh giá cách lãnh đạo của quốc gia “thật sự” coi biển Đông như thế nào, các văn bản và các tuyên bố chính thức chắc chắn cung cấp một số hiểu biết sâu sắc. Như Ryan Martinson của trường Naval War College Mĩ nhận xét, hồi tháng 6 năm 2014 Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khẳng định rằng Trung Quốc phải đặt ưu tiên cao nhất vào việc xây dựng “một bức tường bất khả xâm phạm đối với việc bảo vệ biên giới và đại dương.”

Michael Swaine của Quỹ Carnegie vì Hòa bình quốc tế đã lưu ý rằng Tập Cận Bình đã nhiều lần tập trung vào “sự cần thiết phải duy trì vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, các quyền và lợi ích trên biển và đoàn kết dân tộc, và xử lí đúng đắn các tranh chấp lãnh thổ và hải đảo.”

Danh sách của đô đốc

Năm 2004 hồi kí của mình, Đô đốc Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), được xem như là cha đẻ của hải quân Trung Quốc hiện đại, đã liệt kê 6 mục tiêu về biển trong chiến lược của ông về “phòng thủ tích cực vùng biển gần”, bao gồm việc tái thống nhất Đài Loan với đại lục; lấy lại lãnh thổ biển bị mất và có tranh chấp; bảo vệ tài nguyên biển quốc gia; bảo đảm các tuyến đường liên lạc chiến lược của Trung Quốc; ngăn cản hoặc đánh bại bất kì cuộc tấn công bằng đường biển nào của nước ngoài; và xây dựng rào cản hạt nhân chiến lược đủ tầm.

Điều có vẻ có ý nghĩa nhất là ba mục tiêu đầu liên quan đến việc “lấy lại” lãnh thổ và kiểm soát tài nguyên biển quốc gia. Đây là bằng chứng cho sự ám ảnh lâu dài của lãnh đạo Trung Quốc với việc làm chấm dứt mối “quốc sỉ” của đất nước.

Mặc dù vậy, phân tích quốc tế về các hành động của Trung Quốc tại biển Đông đã chú trọng quá nhiều vào ba mục tiêu sau - các chủ đề cổ điển của các nghiên cứu hải quân truyền thống và quan hệ quốc tế - nhưng không đúng mức cho ba mục tiêu đầu. Những phân tích như vậy không hiểu được những động cơ chính thúc đẩy chính sách của Trung Quốc.

Hành động của Trung Quốc được dựa vào cảm nhận về quyền nước này được làm chủ (sense of national entitlement) đối với các đảo, các rạn san hô và vùng biển của biển Đông dựa trên các tài liệu lịch sử khu vực theo chủ nghĩa dân tộc. Cảm nhận về quyền được làm chủ này có thể dẫn Trung Quốc tới việc thực hiện các động thái quyết đoán hơn trong khu vực trong những năm tới - việc sáp nhập mỗi lần một ít các khu vực chiến lược và có nhiều tài nguyên-- sẽ dẫn tới đối đầu nhiều nữa.

Những cân nhắc chiến lược rõ ràng là rất quan trọng đối với Trung Quốc. Đối với một nước phụ thuộc vào thương mại, việc tiếp cận đại dương mở thông qua biển Đông là vấn đề có tính sống còn của quốc gia. Nhìn qua ống kính này, có thể dễ dàng lập luận rằng việc xây dựng đảo của Trung Quốc là một phản ứng phòng thủ trước một chiến lược chiến tranh có thể có trong tương lai của quân đội Mĩ ngăn chận con đường thương mại trên biển.

Trung Quốc đã là nước chuyên nhập khẩu lương thực thực phẩm từ năm 2007, và năm 2013 Trung Quốc đã vượt Mĩ để trở thành nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới. Ngoại thương chiếm khoảng 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc, tuy nhiên nước này không có đường ra biển không bị cản trở.

Một yếu tố thứ hai cho chương trình “phòng vệ” này là tăng cường chiến lược “chống truy cập / từ chối khu vực” đối với các nỗ lực của Hoa Kì trong việc hậu thuẫn Đài Loan trong trường hợp có xung đột. Các căn cứ trên đảo mới của Trung Quốc gia tăng lớn lao việc giám sát qua các hệ thống cảnh báo sớm của Trung Quốc, tạo điều kiện dễ dàng theo dõi các mục tiêu tiềm năng hơn và cung cấp những khu trú ẩn phân tán cho tàu chiến và máy bay.

Yếu tố thứ ba là Trung Quốc dự kiến sẽ sử dụng các vùng nước sâu của biển Đông làm căn cứ cho tàu ngầm tên lửa đạn đạomới lớp Jin [Tấn]. Sẽ rất dễ dàng để Trung Quốc xây dựng “pháo đài” cho những tàu ngầm này nếu họ có thể kiểm soát bãi cạn Scarborough.

Việc lắp đặt “các trại trên không” lớn và tháp radar trên các đảo nhân tạo mới mà Trung Quốc đang xây dựng cho thấy chúng sẽ được sử dụng làm cơ sở cho các hoạt động giám sát trên không, trên biển và dưới mặt biển nhằm tăng cường khả năng bảo vệ tích hợp cho tàu ngầm bên trong pháo đài. Việc xây dựng đảo của Trung Quốc cũng phản ánh mục tiêu ngăn chặn không cho các bên yêu sách Đông Nam Á làm bất kì hành động nào có thể ngăn chặn Trung Quốc khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đó.

Người ta đã lập luận rằng hành động của Trung Quốc ở biển Đông là kết quả của một chiến lược lớn được cấp cao nhất của chính hệ thống chính trị sau khi Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo của Trung Quốc vào năm 2012 cho phép. Nhưng có rất nhiều dấu hiệu cho thấy một số quan chức Trung Quốc ủng hộ một chính sách quyết đoán hơn ngay trước khi Tập Cận Bình nắm quyền.

Điều này dường như phản ánh sự cạnh tranh giữa nhiều bên, trong đó có lực lượng vũ trang trên biển, các ngành công nghiệp đánh bắt cá và các công ty năng lượng nhà nước, vốn được hưởng lợi từ một chính sách biển Đông quyết đoán. Mặc dù những nhóm vận động này đôi lúc đấu đá lẫn nhau, nhưng sức mạnh của các nhóm lợi ích đó rất to lớn khi họ bắt tay với nhau. Một điều mà tất cả bọn họ có thể đều đồng ý là dù vì lí do dân tộc, an ninh, lợi nhuận hay việc làm, Trung Quốc phải tiếp cận được không gian và các nguồn lực của biển Đông.

Quyền “lịch sử”

Bên dưới các động cơ “phòng thủ” và quan liêu là một phiên bản lịch sử đặc biệt, sô vanh nước lớn. Mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy ngược lại, quan điểm chính thức của Trung Quốc là chỉ có các tàu thuyền Trung Quốc từng sử dụng biển Đông xưa nay và do đó Trung Quốc có “quyền lịch sử” đối với các vùng biển bên trong đường chữ U. Hồi tháng 7 năm 2016 Tòa trọng tài quốc tế ở The Hague kết luận rằng không có cơ sở chính đáng để Trung Quốc khẳng định “quyền lịch sử”, tuy nhiên, lập luận này tiếp tục là nền tảng cho cuộc xung đột đang diễn ra giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á láng giềng.

Nghiên cứu gợi ra mạnh mẽ rằng yêu sách của Trung Quốc đối với  biển Đông đã được phát triển trong nửa đầu thế kỷ 20 như là một phản ứng chính trị trong nước để chống lại chủ nghĩa đế quốc Nhật và châu Âu. Nó xuất hiện trong các giai đoạn trong thời kì khủng hoảng năm 1909, 1933 và Thế chiến II. Sự phát triển của yêu sách đó, một phần, là một hành động kháng cự có tính biếu tượng và chính khía cạnh này trong lịch sử của họ vẫn làm cho nó thành một vấn đề đầy cảm xúc hiện nay.

Mĩ và các chính phủ khác, đã khôn ngoan giữ trung lập về vấn đề lãnh thổ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là họ nên bỏ qua nó. Nếu các nhà phân tích bỏ bớt các yếu tố lãnh thổ và chỉ tập trung vào các câu hỏi về chiến lược lớn thì họ sẽ đi tới việc trả lời câu hỏi sai, làm vấn đề biển Đông càng tệ hại hơn. Kết quả cuối cùng, như khu vực đã nhiều lần nhìn thấy, là tranh chấp. Tranh chấp này không thể giải quyết được bằng các biện pháp xây dựng lòng tin hoặc việc phô trương lực lượng hải quân. Nguyên nhân gốc rễ của cảm nhận về quyền được làm chủ của Trung Quốc cần phải được giải quyết.

Chính sách của Trung Quốc đối với biển Đông phản ánh một cảm xúc bất bình mà những đấu thủ khác trong các tranh chấp thường không đánh giá cao. Trung Quốc tin rằng họ đang chỉnh lại cho đúng những sai trái gây ra cho họ trong những thập kỷ trước. Theo quan điểm của Bắc Kinh, những bước lấn tới của họ ở biển Đông là biện minh được bởi vì họ đang đòi lại lãnh thổ “bị mất”.

Hoang tưởng lịch sử

Bắc Kinh tin rằng bất kì hành động của một cường quốc nước ngoài cố cản trở việc thống nhất lãnh thổ quốc gia - dù đó là một cuộc tuần tra hải quân hay một toà trọng tài quốc tế - phải bị chống lại, bởi vì đó chỉ đơn giản là một màn diễn khác trong một lịch sử lâu dài về mưu toan của nước ngoài chia cắt tổ quốc Trung Quốc.

Mặc dù những kể lể lịch sử chính thức của Trung Quốc rõ ràng là có nhiều vấn đề, điều quan trọng là phải nhận ra rằng ý thức về sự chính đáng mà nó tạo ra cho việc hoạch định chính sách của Trung Quốc có thể dẫn đến xung đột hơn nữa. Nếu các nhà hoạch định chính sách ở Hoa Kì và những nơi khác không nhận ra được sức mạnh thúc đẩy của những kể lể lịch sử và tính mệnh lệnh về lãnh thổ của Trung Quốc thì họ sẽ không hiểu được các mục tiêu của Trung Quốc.

Cả ngoại giao lẫn đối đầu đều sẽ không làm giảm động lực thúc đẩy phía sau các hành động của Trung Quốc ở biển Đông. Mặc dù việc sử dụng vũ lực có thể cản trở những bước lấn tới của Trung Quốc, nó cũng sẽ làm tăng cảm giác thất vọng và kích động những đòi hỏi bên trong Trung Quốc về một phản ứng quyết đoán hơn. Các tranh chấp chỉ có thể được giải quyết thật sự qua việc làm suy yếu ý thức chính đáng của Trung Quốc - và điều đó đòi hỏi phải vạch trần việc sử dụng gian lận các bằng chứng lịch sử và thách thức phiên bản lịch sử sai lệch của họ.

Lí do chiến lược của việc Trung Quốc duy trì một sự hiện diện mạnh mẽ ở biển Đông - bảo vệ bờ biển, các tuyến đường biển và ngăn chặn hạt nhân - sẽ còn bền vững. Nhưng các lập luận của họ cho việc kiểm soát độc quyền các nguồn tài nguyên biển và quyền điều chỉnh giao thông thì lại dựa trên các kể lể lịch sử lệch lạc và có thể bị thách thức.

Vì đây là hai vấn đề có nhiều khả năng gây xung đột, thách thức chúng là đáng giá hơn. Hoàn toàn có thể giữ trung lập về mặt chính trị đối với vấn đề lãnh thổ, trong khi vẫn khẳng định rằng các yêu sách của Trung Quốc thiếu những bằng chứng có thể kiểm chứng được. Tất cả các nước có lợi ích trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp biển Đông cần phải xem xét lịch sử một cách nghiêm túc hơn và khẳng định rằng những yêu sách thiếu hậu thuẫn không phải là cơ sở để đối thoại và giải quyết xung đột.

Đối với khu vực châu Á và trên thế giới, sự tham gia không thể thiếu của các chuyên gia về Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách về cơ sở của các kể lể của họ về biển Đông là bước thiết yếu đầu tiên. Các nhà đối thoại với các quan chức Trung Quốc phải tự vũ trang mình các bằng chứng đó để thách thức các kể lể lịch sử không có thật và sẵn sàng sử dụng chúng trong các cuộc thảo luận. Trong 20 năm qua, tất cả các bằng chứng này đã trở nên tìm thấy dễ dàng. Đã đến lúc sử dụng chúng.

Bill Hayton là một nhà nghiên cứu tại Chatham House và là tác giả của cuốn sách The South China Sea: The Struggle for Power in Asia” (Biển Đông: Cuộc tranh giành quyền lực ở châu Á) Bài báo này dựa trên một bài giảng sẽ trình bày tại Đại học Tokyo ngày 6 tháng 4.

Sunday, March 26, 2017

Trung Quốc luôn thù hằn và hiếu chiến

Trung Quốc luôn thù hằn và hiếu chiến

(The Chip on China’s Shoulder)

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc sử dụng các bản đồ lịch sử giống như một dùi cui, và những tuyên bố giả trá của họ bây giờ tạo thành cái mà nhiều người Trung Quốc tin là "trật tự tự nhiên" cần phải được phục hồi.

Stephen R. Platt điểm cuốn sách "Everything Under the Heavens” (Mọi thứ dưới trời) của Howard W. French.

WSJ (24/3/2017)
Stephen R. Platt

(bản dịch đã đăng trên anhbasam 27/3/2017)

Howard W. French, tác giả sách Everything Under the Heavens. Ảnh: AsiaStore.

Trong cuốn sách có thể tìm đọc được và thú vị của ông về các tham vọng toàn cầu của Trung Quốc, Howard French viết ‘Lịch sử để lại cho Trung Quốc tình hình địa chính trị phức tạp nhất trong bất kì nước lớn nào, không trừ nước nào." Ông không nói quá. Với biên giới đất liền dài 14.000 dặm và 20 nước láng giềng liền kề, quá rõ vì sao Trung Quốc lại mong muốn thứ trật tự khu vực có thể đảm bảo an ninh và tính trung tâm của chính họ.

Ông French khám phá ra mong muốn đó thông qua từ "tian xia" (thiên hạ) của Trung Quốc mà ông dịch là "Mọi thứ dưới trời". Nó bao hàm cách nhìn thế giới thời các vương triều trước đây, trong đó Trung Quốc là nền văn minh trung tâm của châu Á, trong khi các nước láng giềng sống dưới bóng văn hóa và quân sự của họ, đã triều cống và thừa nhận ưu thế của họ để đổi lấy việc giao thương. Đó là một vị thế mà Trung Quốc từng giữ trong quá khứ thông qua việc pha trộn giữa hiếp đáp và rộng lượng, và ông French gợi ý rằng một lần nữa nó đặt nền móng cho tham vọng của Trung Quốc trong tương lai.

Điều này không có nghĩa là Trung Quốc bị quá khứ của mình định nghĩa toàn bộ. Tác giả nói rõ rằng ông không tin vào một loại ‘DNA văn hóa’ nào quyết định hành vi của Trung Quốc, nhưng rõ ràng là một vài kiểu cách từ thời các vương triều xưa cung cấp một mô hình hấp dẫn cho các nhà lãnh đạo hiện nay của nước này—quá khứ “nửa lý tưởng hóa, nửa thần thoại hóa” đầy mong nhớ, như ông French nói, khi Trung Quốc được chấp nhận là tối thượng ở Châu Á.

Tuy nhiên, cái nhìn thế giới tự tin về tian xia được cân bằng bởi một chủ đề riêng lẻ và dè dặt hơn từ lịch sử gần đây của Trung Quốc, đó là "sự sỉ nhục": cụ thể là mong muốn phục hồi lãnh thổ bị mất vào thời kì nước này suy yếu trong thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 . Chính từ động lực thứ hai này, chúng ta có "đường chín vạch" nổi tiếng mô tả các yêu sách biển của Trung Quốc, xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1947 và bây giờ có thể được tìm thấy trên tất cả các bản đồ in ở Trung Quốc. Nhà lãnh đạo quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch bị ám ảnh bởi vấn đề lãnh thổ đến mức ông viết "trả thù cho sự sỉ nhục" trên đầu mỗi trang nhật kí trong 20 năm. Một "Bản đồ quốc sỉ" được tạo ra trong thời ông cầm quyền năm 1938 đã vạch ra lãnh thổ Trung Quốc cần phải phục hồi để giành lại vị thế vĩ đại trong quá khứ—bao gồm, đáng báo động, không những các yêu sách đảo quen thuộc hiện nay mà còn Mông Cổ, Hàn Quốc, Đông Dương, và thậm chí cả nhiều phần đất của Ấn Độ và Pakistan.

Cả hai chủ đề này—phục hồi và oán hận—đi cùng với nhau trong kể lể này. Ông French viết về cách mà các nhà lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc sử dụng bản đồ lịch sử như "dùi cui" để đòi hoàn trả lãnh thổ coi là phi thời gian và bất khả xâm phạm của Trung Quốc, đặc biệt là ở biển Đông. Như ông đã chỉ ra, không một quốc gia nào khác trên thế giới ủng hộ những yêu sách này, chúng tồn tại trong không gian tiếng vọng lịch sử thuộc loại chỉ có ý nghĩa đối với các khán giả trong nước TQ. Nhưng khán giả đó chỉ chiếm gần một phần năm số người trên thế giới, và có vẻ cũng giả trá như những yêu sách đó đối với người bên ngoài, chúng tạo thành điều mà nhiều người Trung Quốc hiện giờ tin chắc là một "trật tự tự nhiên" cần phải được phục hồi.

Còn về sự rộng lượng của quá khứ vương triều Trung Quốc, bất cứ ai đã sống ở nước này trong những thập kỉ gần đây đều quen thuộc với khẳng định lặp đi lặp lại rằng Trung Quốc không bao giờ xâm chiếm các nước láng giềng hay tìm kiếm "quyền bá chủ" như thể chế độ hiện tại theo một cách nào đó bị hạn chế bởi những tập tục của quá khứ—và hơn nữa,như thể những tập tục đó thậm chí có thể nói là tồn tại. Nhưng như ông French lập luận, cách mà Trung Quốc trình bày lịch sử của họ và thực tế của lịch sử đó có thể là hai điều rất khác nhau.

Chẳng hạn, ông cho chúng ta ví dụ các chuyến đi của Trịnh Hoà (Zheng He), vị đô đốc nhà Minh thế kỉ 15 , từng chỉ huy một đội tàu khổng lồ chạy xuyên qua Đông Nam Á và tới bờ biển phía đông châu Phi. Các học giả Trung Quốc thích lưu ý rằng, không giống như người Anh hay Bồ Đào Nha, Trịnh Hoà không đi chinh phục mà chỉ tìm kiếm giao thương cùng có lợi—qua việc ngụ ý rằng việcmở rộng thương mại là tất cả những gì mà Trung Quốc từng mong muốn trong quan hệ ngoại giao. Một học giả người Trung Quốc mà ông French trích dẫn nói rằng Trịnh Hoà là một "sứ giả hòa bình", người mà theo một học giả khác, đã cho thấy rằng Trung Quốc "không tìm kiếm quyền bá chủ đối với những nước khác". Tuy nhiên, thực tế là Trịnh Hoà đã mang theo với mình một đội quân lớn và không ngần ngại gây chiến khi ông thấy việc đó làthích hợp. Cách nhìn màu hồng đó về Trịnh Hoà và mô hình mà cách nhìn đó đặt để cho việc thực thi hoà bình sức mạnh của Trung Quốc, theo lời ông Franco, là "sự tưởng tượng của Trung Quốc chứ không phải lịch sử".

Một nhà báo kì cựu, ông French có một cách tiếp cận rộng rãi cho nghiên cứu của mình trong cuốn sách này, đang xen việc tường thuật tại chỗ với toàn cảnh lịch sử, nhìn Trung Quốc phần lớn qua con mắt của những người hàng xóm của họ cả trong quá khứ lẫn hiện nay. Những câu trả lời ông tìm ra khác biệt rất lớn. Chẳng hạn,trong khi ở Nhật Bản ông thấy các chuẩn bị quân sự để bảo vệ quần đảo Senkaku, thì ở Philippines ông phỏng vấn một học giả có thắc mắc rằng liệu đất nước của ông có thể chấp nhận quan hệ triều cống mới với Trung Quốc hay không—nghĩa là đưa cho nước này chỗ đứng (place) và địa vị (status) mà TQ muốn.

Cuốn sách này là một lời nhắc nhở rằng các quan hệ quốc tế của Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh lịch sử cách đây nhiều thế kỉ nếu không nói là nhiều thiên niên kỉ và ông French là một hướng dẫn viên lôi cuốn xuyên qua lịch sử sâu xa đó. Tuy nhiên, đối với những căng thẳng hiện nay thì lịch sử gần đây nhất của thế kỉ 20 lại ảnh hưởng hơn hết thảy - đặc biệt là những vết thương chưa lành của Chiến tranh Thái Bình Dương. Trong khung cảnh chính trị Trung Quốc hiện nay, ông French viết, Nhật Bản là nước duy nhất mà các nghệ sĩ có thể được hoàn toàn tự do để tấn công và tấn công như họ muốn. Ông nói với chúng tôi, toàn bộ 70% bộ phim truyền hình Trung Quốc đều có ý đồ liên hệ đến cuộc chiến tranh với Nhật Bản, và chỉ riêng năm 2012, 700 triệu người Nhật tưởng tượng đã bị giết trong các bộ phim Trung Quốc. Các phát hiện của ông French về mặt này rất đáng ngại: Ông viết "Cho tới hiện nay Đông Á chưa bao giờ cho thấy đủ lớn để hai cường quốc lớn cùng tồn tại một cách hòa bình."

Tuy nhiên, không giống như một số công trình khác về chủ đề này,nói chung ông French dùng một giọng điệu có cân nhắcđể làm giảm bớt báo động mà người đọc có thể cảm thấy về sức mạnh đang tăng của Trung Quốc. Ông viết, lợi thế của nước này trong việc tiến lên từ thế yếu hơn về mặt quân sự sẽ sớm biến mất, để lại cho đất nước những khoản chi phí không thể kham nổi nếu muốn tiếp tục tăng cường năng lực hải quân của mình với tốc độ như những năm gần đây. Thậm chí quan trọng hơn, ông trỏ vào sự dịch chuyển khổng lồ trong cơ cấu dân số đang diễn ra ở Trung Quốc khi dân số già đi và sinh suất giảm xa dưới mức đủ thay thế. Trung Quốc đang tiến tới có hơn 329 triệu người trên 65 tuổi vào năm 2050, trong khi số người trẻ đang ở độ tuổi lao động giảm xuống. Ông French dự đoán, sự lão hóa không thể lay chuyển được của dân số sẽ hạn chế khả năng của nước này triển khai sức mạnh trong tương lai. Họ sẽ giảm một nửa số lượng người trong độ tuổi tham gia quân đội trong khi dồn gánh nặng cho người lao động và chính phủ phải chịu chi phí rất lớn trong việc chăm sóc cho người cao tuổi. Ông gợi ra rằng tốc độ không thể tin được mà Trung Quốc hiện đang cố gắng khẳng định sự kiểm soát đối với biển Đông được lôi kéo từnhận thức của Chủ tịch Tập Cận Bình rằng đất nước này có khung thời gian nhiều nhất là 20 hoặc 30 năm trước khi cơ cấu dân số bắt kịp nó và sự mở rộng như vậy trở nên không thể xảy ra.

Đây là một quyển sách rất đúng lúc mà tác giả cập nhật gần với hiện nay đến mức có thể được. Tuy nhiên, vì nó được hoàn thành trước cuộc bầu cử tổng thống vào mùa thu năm ngoái, phần lớn những gì ông mô tả như là vai trò cốt yếu và tiếp tục của Hoa Kì trong việc duy trì sự ổn định của Đông Á giờ đây đã bị rơi vào tình trạng không chắc chắn. Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương đã bị bác bỏ. Kế hoạch của chính phủ mới đối với sự can dự của Mỹ trong khu vực này không rõ ràng. Trong điều kiện hiện nay, ông French thấy rằng bàn tay tích cực của Hải quân Hoa Kì là lực cản chủ yếu nếu không nói là duy nhất đối với những tham vọng của Trung Quốc ở biển Đông. Mặc dù phân tích của ông giả định vai trò này vẫn tiếp tục , ông đã cho ta một cái nhìn thoáng qua về một tương lai có thể có với sự can dự giới hạn của Hoa Kì, chỉ ra khả năng về  một liên minh mạnh mẽ hơn đang nổi lên giữa các quốc gia ở vùng ngoại vi của Trung Quốc.

Ông French lưu ý bất chấp quy mô và sức mạnh của Trung Quốc, các nước láng giềng dễ dàng vượt trội họ cả về dân số lẫn sức mạnh quân sự; quân đội của chỉ 6 nước láng giềng hợp lại sẽ đông hơn gấp đôi quân đội Trung Quốc. Vì vậy, có rất nhiều điều có thể xảy ra phía trước, không phải mọi thứ đều tối tăm, không phải tất cả đều liên quan đến sự thống trị của Trung Quốc. Ông French viết "Một kỉ nguyên cũ đang đi qua, ngay cả khi diễn biến của những gì sắp tới đã không thực sự tự loan báo." Các từ này bây giờ vang lên thậm chí mạnh mẽ hơn lúc tác giả viết chúng ra.

Saturday, February 11, 2017

"Sờ mông Cọp":Chiến tranh Việt Nam lần ba

Chương 13
"Sờ mông Cọp":Chiến tranh Việt Nam lần ba
Chapter 13 “Touching the Tiger’s Buttocks” The Third Vietnam War


Kissinger, Henry (2011). On China. The Penguin Press. Kindle Edition.



Tháng 4 năm 1979, Thủ tướng Trung Quốc Hoa Quốc Phong tổng kết kết quả cuộc chiến tranh Việt Nam lần ba, Trung Quốc đã xâm chiếm Việt Nam và rút quân sau 6 tuần, với một chỉ trích cay độc coi thường vai trò của Liên Xô: "Họ đã không dám tỏ thái độ.  Như vậy, cuối cùng chúng ta vẫn có thể sờ mông cọp."


Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam để "dạy cho chúng một bài học" sau khi quân đội Việt Nam chiếm đóng Campuchia để đáp trả một loạt các cuộc giao tranh biên giới với Khmer Đỏ (nắm quyền ở Cam Bốt vào năm 1975), và vì Hà Nội theo đuổi ráo riết mục tiêu thành lập Liên bang Đông Dương.  Trung Quốc làm như vậy cũng nhằm thách thức hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa Hà Nội và Moscow kí kết non một tháng trước đó.  Cuộc chiến tranh này rất tốn kém đối với lực lượng vũ trang Trung Quốc - chưa hoàn toàn phục hồi sau những phá phách của cuộc Cách mạng Văn hóa.  Nhưng cuộc xâm lược đã phục vụ được mục tiêu cơ bản, khi Liên Xô không đáp ứng thì điều đó cho thấy những hạn chế về tầm với chiến lược của họ. Từ quan điểm đó, có thể xem nó như là một bước ngoặt của Chiến tranh Lạnh, mặc dù vào thời điểm đó người ta chưa hiểu đầy đủ như vậy. Chiến tranh Việt Nam lần ba cũng là điểm cao của sự hợp tác chiến lược Trung-Mĩ trong Chiến tranh Lạnh.

Việt Nam: kẻ làm rối trí các cường quốc

Trung Quốc đã tự can dự vào cuộc chiến tranh Việt Nam lần ba do những yếu tố tương tự với những gì đã lôi kéo Hoa Kì vào cuộc chiến thứ hai.  Một cái gì đó trong chủ nghĩa dân tộc Việt Nam gần như điên cuồng làm cho các xã hội khác bị mất cảm giác về tỉ lệ và hiểu lầm những động lực và khả năng của Việt Nam.  Chắc chắn đó là số phận của nước Mĩ khi dấn vào cuộc chiến tranh mà hiện nay các sử gia xem như cuộc chiến tranh Việt Nam thứ hai (cuộc chiến tranh thứ nhất là cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp của Việt Nam).  Mĩ thấy khó chấp nhận một quốc gia cỡ vừa, đang phát triển lại có thể nuôi dưỡng một quyết tâm mãnh liệt như thế chỉ vì các nguyên nhân cục bộ của mình.  Do đó, họ diễn giải những hành động của Việt Nam như là những dấu hiệu của một mưu đồ sâu sắc hơn.  Sức chiến đấu của Hà Nội được coi là một đội tiên phong của một âm mưu phối hợp Trung-Xô nhằm thống trị ít nhất là châu Á.  Và Washington cũng đã tin rằng một khi cuộc tấn công ban đầu của Hà Nội bị chặn lại thì một số thỏa hiệp ngoại giao có thể xuất hiện.
Việc đánh giá này sai trên cả hai căn cứ.  Hà Nội không phải là kẻ thừa hành cho bất kì quốc gia nào khác.  Họ chiến đấu vì độc lập của mình và tột cùng vì một Liên bang Đông Dương trong đó Hà Nội sẽ nắm lấy vai trò chi phối trong khu vực Đông Nam Á, vai trò mà Bắc Kinh đã từng giữ trong lịch sử ở Đông Á.  Đối với những kẻ có đầu óc một chiều còn sống sót sau hàng thế kỉ xung đột với Trung Quốc này, việc thỏa hiệp ý chí độc lập của họ và quan niệm về ổn định của bất kì kẻ bên ngoài nào là không thể hiểu được.  Sự chua cay của chiến tranh Việt Nam thứ hai ở Đông Dương là sự tương tác giữa lòng mong mỏi thỏa hiệp của Mĩ và sự khăng khăng về chiến thắng của Bắc Việt Nam.
Trong ý nghĩa đó, sai lầm trầm trọng của Mĩ trong chiến tranh Việt Nam không phải là câu hỏi  liệu chính phủ Mĩ đã dốc sức đúng mức cho một kết quả ngoại giao hay chưa - điều đã làm chia rẽ công chúng Mĩ.  Mà đó là việc không có khả năng đối mặt với sự kiện rằng một kết quả được gọi là ngoại giao mà các chính quyền liên tiếp của cả hai đảng chính trị ở Mĩ tìm kiếm một cách sốt sắng và thậm chí vô vọng đòi hỏi những áp lực tương đương với những gì dồn tới một sự thất bại hoàn toàn của Hà Nội − và rằng Moscow và Bắc Kinh chỉ có vai trò tạo điều kiện chứ không phải vai trò chỉ đạo.
Theo một cách hạn chế hơn, Bắc Kinh rơi vào một sự nhận thức sai song hành.  Khi Mĩ bắt đầu tăng cường ở Việt Nam, Bắc Kinh giải thích điều đó với thuật ngữ vi kì (圍 棋 wéi qí: cờ vây): ví dụ như các căn cứ của Mĩ xung quanh Trung Quốc từ Hàn Quốc đến eo biển Đài Loan và bây giờ ở Đông Dương.  Trung Quốc trợ giúp cuộc chiến tranh du kích của Bắc Việt Nam, một phần vì lí do ý thức hệ, một phần để đẩy lùi các căn cứ Mĩ càng xa biên giới Trung Quốc càng tốt.  Chu Ân Lai đã nói với Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng vào tháng Tư năm 1968 rằng Trung Quốc ủng hộ miền Bắc Việt Nam để ngăn chặn sự bao vây chiến lược đối với Trung Quốc, và Phạm Văn Đồng đã đưa ra một trả lời lập lờ -  phần lớn là do việc ngăn chặn sự bao vây Trung Quốc không phải là một mục tiêu của Việt Nam, các mục tiêu của Việt Nam là những mục tiêu dân tộc.
CHU: Trong một thời gian dài, Hoa Kì đã bao vây Trung Quốc phân nửa.  Bây giờ Liên Xô cũng bao vây Trung Quốc.  Vòng vây gần như trọn vẹn, ngoại trừ [một phần của] Việt Nam.
PHẠM: Tất cả chúng tôi đều quyết tâm hơn để đánh bại đế quốc Mĩ trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
CHU: Chính vì thế nên chúng tôi ủng hộ các đồng chí.
PHẠM: Việc chúng tôi chiến thắng sẽ có một tác động tích cực ở châu Á. Chiến thắng của chúng tôi sẽ mang tới những kết quả không lường trước được.
CHU: Đồng chí nên suy nghĩ theo cách đó.
Đối với việc theo đuổi chiến lược của Trung Quốc, Phạm Văn Đồng đã cẩn thận tự cách li mình ra khỏi việc này, Trung Quốc đã gửi hơn 100 000 nhân viên quân sự không chiến đấu để trợ giúp cơ sở hạ tầng và hậu cần cho Bắc Việt.  Hoa Kì chống Bắc Việt như là một mũi giáo của một mưu đồ Xô-Trung.  Trung Quốc trợ giúp Hà Nội để làm hỏng cuộc đột phá có ý thức nhằm việc Mĩ thống trị châu Á.  Cả hai điều này đều là sai lầm.  Hà Nội chỉ chiến đấu vì lợi ích dân tộc riêng của mình.  Một Việt Nam thống nhất do Cộng sản lãnh đạo, chiến thắng trong cuộc chiến thứ hai vào năm 1975, sẽ trở thành mối đe doạ chiến lược lớn đối với Trung Quốc nhiều hơn là đối với Hoa Kì.
Người Việt Nam nhìn người láng giềng phía bắc của họ với mối ngờ vực gần như hoang tưởng.  Trong suốt thời gian dài dưới sự thống trị của Trung Quốc, Việt Nam đã hấp thụ hệ thống chữ viết và các hình thức chính trị và văn hóa của Trung Quốc (bằng chứng ngoạn mục nhất là hoàng cung và các ngôi mộ tại cố đô Huế).  Tuy nhiên, Việt Nam đã sử dụng các định chế "Trung Quốc" này để xây dựng một nhà nước riêng biệt và củng cố nền độc lập của riêng mình.  Vị trí địa lí không cho phép Việt Nam rút lui vào cô lập như Nhật Bản đã từng làm vào những khoảng thời gian tương đương trong lịch sử của họ.  Suốt từ thế kỉ II trước Công Nguyên tới thế kỉ X, Việt Nam ít nhiều gần như đặt dưới sự cai trị trực tiếp của Trung Quốc, chỉ trở lại thành một nhà nước độc lập hoàn toàn sau khi triều đại nhà Đường sụp đổ năm 907.
Bản sắc dân tộc Việt Nam phản ánh di sản của hai sức mạnh phần nào trái ngược nhau: một là việc hấp thụ nền văn hóa Trung Quốc, hai là việc đối kháng sự thống trị chính trị và quân sự của Trung Quốc.  Đối kháng với Trung Quốc đã tạo ra một niềm tự hào to lớn về nền độc lập của người Việt Nam và một truyền thống quân sự đáng gờm.  Hấp thụ nền văn hóa Trung Quốc tạo ra cho Việt Nam một tầng lớp tinh hoa Nho giáo kiểu Trung Quốc, những người sở hữu một cái gì đó có tính phức hợp của Vương quốc Trung tâm nhưng lại mang tính địa phương của riêng họ so với các nước láng giềng.  Trong các cuộc chiến tranh Đông Dương ở thế kỉ XX, Hà Nội biểu thị cảm nhận về quyền thụ hưởng mặt chính trị và văn hóa này qua việc tự ý sử dụng lãnh thổ của Lào và Campuchia trung lập như thể là quyền đương nhiên, và sau chiến tranh, mở rộng “quan hệ đặc biệt" với các phong trào cộng sản trong mỗi quốc gia này đưa tới vị trí thống trị của Việt Nam.
Việt Nam đối đầu với Trung Quốc với một thách thức tâm lí và địa chính trị chưa từng có.  Các nhà lãnh đạo Hà Nội đã quen thuộc với binh pháp của Tôn Tử và đã sử dụng các nguyên tắc của nó tạo tác động đáng kể đối với cả Pháp lẫn Mĩ  Ngay cả trước khi kết thúc hai cuộc chiến tranh Việt Nam lâu dài, đầu tiên với người Pháp qua việc tìm cách đòi lại thuộc địa của họ sau chiến tranh thế giới thứ II, và sau đó với Hoa Kì từ 1963 đến 1975, cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội đều bắt đầu nhận ra rằng cuộc đua tranh tiếp theo cho sự thống trị ở Đông Dương và Đông Nam Á sẽ là giữa họ với nhau.
Có lẽ do sự gần gũi văn hoá nên trong chiến tranh Việt Nam không có sự phân tích chiến lược đúng mức thường có trong việc chỉ đạo các chính sách của Trung Quốc.  Trớ trêu thay, lợi ích chiến lược lâu dài của Bắc Kinh lại tương đồng với lợi ích của Washington: một kết quả theo đó bốn nước Đông Dương (Bắc và Nam Việt Nam, Campuchia, và Lào) cân bằng lẫn nhau.  Điều này có thể lí giải lí do tại sao khi phác thảo các kết quả có thể có của chiến tranh cho Edgar Snow vào năm 1965, Mao đã líệt kê việc giữ nguyên Nam Việt Nam như là một kết quả có thể có, do đó, có thể được hiểu là chấp nhận được.
Trong chuyến đi bí mật của tôi tới Bắc Kinh vào năm 1971, Chu Ân Lai giải thích mục tiêu của Trung Quốc ở Đông Dương là không có tính chiến lược cũng như không có tính ý thức hệ.  Theo Chu Ân Lai, chính sách của Trung Quốc ở Đông Dương dựa hoàn toàn vào một món nợ lịch sử phát sinh từ các triều đại xưa.  Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể đã giả định rằng nước Mĩ không thể bị đánh bại và miền bắc của một nước Việt Nam chia cắt sẽ trở nên phụ thuộc vào trợ giúp của Trung Quốc nhiều như Bắc Triều Tiên đã phụ thuộc họ sau khi kết thúc Chiến tranh Triều Tiên.
Khi chiến tranh phát triển, có một số dấu hiệu cho thấy rằng Trung Quốc đang tự chuẩn bị − dù miễn cưỡng − cho chiến thắng của Hà Nội.  Tình báo nhận thấy rằng đường xá do Trung Quốc xây dựng ở bắc Lào không dính dáng đến cuộc xung đột đang diễn ra với Hoa Kì, nhưng sẽ là hữu ích cho chiến lược sau chiến tranh để cân bằng Hà Nội hoặc thậm chí cho một cuộc xung đột có thể xảy ra ở Lào.  Năm 1973, sau Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh Việt Nam,  Chu Ân Lai và tôi có thương lượng về một sự dàn xếp sau chiến tranh đối với Campuchia dựa trên một liên minh giữa Norodom Sihanouk (cựu hoàng lưu vong của Campuchia sống tại Bắc Kinh), chính phủ Phnom Penh hiện tại, và Khmer Đỏ.  Mục đích chính của việc này là tạo ra một chướng ngại cho việc nắm lấy Đông Dương của Hà Nội.  Thực tế thỏa thuận này cuối cùng bị hủy bỏ khi Quốc hội Hoa Kì ngăn cấm bất kì vai trò quân sự nào thêm nữa có thể khiến cho vai trò của Mĩ trở nên không thích đáng.trong khu vực.
Thái độ thù địch tiềm ẩn của Hà Nội với đồng mình lúc đó của mình đã tỏ rõ trong chuyến tôi thăm Hà Nội vào tháng 2 năm 1973, dự kiến để bàn bạc việc thực hiện Hiệp định Paris kí tắt hai tuần trước đó.  Trong một chuyến viếng thăm Bảo tàng quốc gia Hà Nội, Lê Đức Thọ chủ yếu chỉ cho tôi các khu vực dành cho các cuộc đấu tranh chống lại Trung Quốc − vẫn đang là một đồng minh chính thức của Việt Nam − trong lịch sử Việt Nam.
Với sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975, sự kình địch cố hữu và lịch sử nổ ra công khai, dẫn đến sự chiến thắng của địa chính trị đối với hệ tư tưởng.  Nó đã chứng minh rằng Hoa Kì không là đơn độc trong việc đánh giá sai lầm ý nghĩa của chiến tranh Việt Nam.  Khi Hoa Kì đầu tiên can thiệp, Trung Quốc xem đó như những hơi thở thều thào cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc.  Họ đã − gần như lệ thường – chia sẻ số phận với Hà Nội.  Họ giải thích sự can thiệp của Mĩ như là một bước tiến tới bao vây Trung Quốc − y như họ đã xem sự can thiệp của Mĩ tại Hàn Quốc một thập kỉ trước đó.
Trớ trêu thay, theo quan điểm địa chính trị, lợi ích lâu dài của Bắc Kinh và Washington vốn lại phải tương đồng.  Cả hai đều cần phải chuộng hiện trạng hơn, đó là một Đông Dương chia cắt với bốn nước.  Washington chống lại sự thống trị của Hà Nội ở Đông Dương do ý tưởng Wilson về trật tự toàn cầu − quyền tự quyết của các nước đang có −và khái niệm về một âm mưu Cộng sản toàn cầu.  Bắc Kinh cũng có cùng một mục tiêu chung này, nhưng lại theo quan điểm địa chính trị, do họ muốn tránh sự xuất hiện của khối Đông Nam Á ở biên giới phía nam của mình.
Trong một khoảng thời gian, Bắc Kinh dường như tin rằng hệ tư tưởng Cộng sản sẽ thổi át lịch sử ngàn năm Việt Nam phản kháng sự ưu thế của Trung Quốc.  Hoặc giả họ đã không nghĩ rằng Hoa Kì lại có thể bị đánh bại hoàn toàn.  Sau khi Sài Gòn sụp đổ, Bắc Kinh đã bắt buộc phải đối mặt với các hệ quả của chính sách của chính mình.  Và nó ảnh hưởng ngược trở lại ngay trước mặt họ.  Kết quả này ở Đông Dương kết hợp cùng với nỗi lo sợ Trung Quốc bị bao vây thường trực.
Cơn ác mộng bị bao vây bởi một thế lực thù địch của Bắc Kinh có vẻ đã trở thành hiện thực.  Một mình Việt Nam đã là đáng gờm.  Nhưng nếu họ nhận ra mục tiêu của một Liên bang Đông Dương, Liên bang này sẽ tiến tới một khối với 100 triệu dân và sẽ nắm được vị thế đem tới áp lực đáng kể đối với Thái Lan và các quốc gia Đông Nam Á khác.  Trong bối cảnh này, sự độc lập của Campuchia như một đối trọng với Hà Nội trở thành một mục tiêu chính của Trung Quốc.  Kể từ đầu tháng 8 năm 1975, ba tháng sau khi Sài Gòn  sụp đổ -  khi nhà lãnh đạo Khmer Đỏ Khieu Samphan viếng thăm, Đặng Tiểu Bình nói: "Khi một siêu cường [Hoa Kì] bị buộc phải rút quân khỏi Đông Dương, một siêu cường khác [Liên Xô] sẽ nắm lấy cơ hội... vươn rộng các vòi bạch tuột gian ác của nó đến khu vực Đông Nam Á... trong cố gắng thực hiện  sự bành trướng ở đó."  Đặng Tiểu Bình nói rằng Cam-pu-chia và Trung Quốc " cả hai.... phải đối mặt với nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và bá quyền... Chúng ta tin chắc rằng.... hai dân tộc của chúng ta sẽ đoàn kết chặt chẽ hơn nữa và sánh bước cùng nhau hướng tới những chiến thắng mới trong cuộc đấu tranh chung này"  Trong chuyến thăm Bắc Kinh của Thủ tướng Chính phủ Lào Kaysone Phomvihane năm 1976, Hoa Quốc Phong, Thủ tướng lúc đó, cảnh báo về Liên Xô với thực tế rằng: "Đặc biệt, một siêu cường lớn tiếng kêu gọi “làm dịu” trong khi lại  vươn các móng vuốt của nó ở khắp mọi nơi, vẫn đang đẩy mạnh việc khuếch trương vũ trang và việc chuẩn bị chiến tranh và đang cố gắng lôi kéo nhiều nước vào phạm vi ảnh hưởng của mình và đóng vai chúa tể bá quyền."
Thoát khỏi sự cần thiết phải giả vờ đoàn kết cộng sản hồi còn đối mặt với các mối đe dọa của "đế quốc" Mĩ, hai đối thủ này chuyển sang thế chống đối với nhau ngay sau khi Sài Gòn sụp đổ vào tháng 4 năm 1975.  Trong vòng 6 tháng sau khi toàn Đông Dương sụp đổ, 150 ngàn bộ đội Việt Nam đã buộc phải rời khỏi Campuchia.  Một số tương đương các công dân Việt gốc Hoa cũng bị buộc phải đào thoát khỏi Việt Nam.  Vào khoảng tháng 2 năm 1976, Trung Quốc đã ngưng chương trình viện trợ cho Việt Nam, và một năm sau đó, họ cắt bỏ mọi chuyến giao hàng dựa trên các chương trình hiện có.  Cũng thời gian đó, Hà Nội chuyển hướng về phía Liên Xô.  Tại một cuộc họp của Bộ Chính trị Việt Nam trong tháng 6 năm 1978, Trung Quốc đã được nhận diện như là của "kẻ thù chính" của Việt Nam.  Cùng tháng đó Việt Nam gia nhập Comecon, khối thương mại do Liên Xô lãnh đạo.  Tháng 11 năm 1978, Liên Xô và Việt Nam kí Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, trong đó có các điều khoản về quân sự.  Tháng 12 năm 1978, quân đội Việt Nam xâm chiếm Campuchia, lật đổ chế độ Khmer Đỏ và dựng lên một chính phủ thân Việt Nam.
Hệ tư tưởng đã biến mất khỏi cuộc xung đột.  Các trung tâm quyền lực Cộng sản đang tiến hành một cuộc đua tranh cán cân quyền lực không dựa trên hệ tư tưởng mà trên lợi ích quốc gia.
Nhìn từ Bắc Kinh, một cơn ác mộng chiến lược đang phát triển dọc theo biên giới Trung Quốc.  Ở phía Bắc, sự tăng cường quân sự của Liên Xô tiếp tục không suy giảm: Moscow vẫn duy trì gần 50 đơn vị dọc theo biên giới.  Phía Tây của Trung Quốc, Afghanistan đã trải qua một cuộc đảo chính Mác xít và chịu ảnh hưởng của Liên Xô ngày càng công khai.  Bắc Kinh cũng đã nhìn thấy bàn tay của Moscow trong cuộc cách mạng Iran, lên đến đỉnh cao với chuyến bay của Shah vào ngày 16/01/1979.  Moscow tiếp tục thúc đẩy cho một hệ thống an ninh châu Á tập thể, không có mục đích nào nghe có lí hơn là kềm chế Trung Quốc.  Trong khi đó, Moscow đang đàm phán hiệp ước SALT II (Hiệp ước giói hạn vũ khí chiến lược II) với Washington.  Trong nhận thức của Bắc Kinh, một thỏa thuận như vậy có mục đích "đẩy các vùng nước bị bệnh của Liên Xô sang phía đông" hướng tới Trung Quốc.  Trung Quốc dường như ở một vị trí đặc biệt dễ bị tổn thương.  Bây giờ, Việt Nam lại đã tham gia vào phe Liên Xô.  "Những kết quả không lường trước được" mà Phạm Văn Đồng tiên đoán với Chu Ân Lai năm 1968 có vẻ bao gồm cả vòng vây của Liên Xô đối với Trung Quốc.  Một rắc rối thêm nữa là tất cả những thách thức này lại xảy ra trong thời gian Đặng Tiểu Bình vẫn còn đang củng cố vị trí của mình trong lần thứ hai nắm lại quyền lực - quá trình này chỉ hoàn tất vào năm 1980.
Một sự khác biệt chủ yếu giữa chiến lược ngoại giao Trung Quốc và phương Tây là cách phản ứng đối với tính dễ bị tấn công nhận thức được.  Các nhà ngoại giao Mĩ và phương Tây quyết định rằng họ cần phải thận trọng trong các động thái của mình để tránh khiêu khích, còn Trung Quốc có nhiều khả năng lại phản ứng bằng cách làm thật nổi sự coi thường của mình.  Từ một sự cân bằng bất lợi về lực lượng, các nhà ngoại giao phương Tây như một bắt buộc, có xu hướng thu xếp cho một giải pháp ngoại giao, họ thúc giục các sáng kiến ngoại giao để đặt phía bên kia thành phía "sai" để cô lập về mặt đạo đức nhưng loại bỏ việc sử dụng vũ lực – đây cơ bản là lời khuyên của Mĩ cho Đặng Tiểu Bình sau khi Việt Nam xâm chiếm Campuchia.  Các nhà chiến lược Trung Quốc có nhiều khả năng nâng cao lòng quyết tâm của họ để thay thế sự can đảm và áp lực tâm lí chống lại lợi thế vật chất của đối phương.  Họ tin vào khả năng ngăn chặn dưới hình thức tấn công phủ đầu trước.  Khi các nhà hoạch định Trung Quốc kết luận rằng đối thủ của họ đang giành lợi thế không thể chấp nhận được và xu thế chiến lược đang chuyển theo hướng chống lại họ, họ phản ứng bằng việc tìm cách làm suy yếu niềm tin của đối phương và cho phép Trung Quốc giành lại ưu thế về tâm lí, nếu không phải về vật chất.
Nếu phải đối mặt với một mối đe dọa trên mọi mặt trận, Đặng Tiểu Bình quyết định đi vào cuộc tấn công ngoại giao và chiến lược.  Mặc dù chưa kiểm soát hoàn toàn ở Bắc Kinh, ông đã mạnh dạn di chuyển trên nhiều cấp độ ở nước ngoài. Ông đã chuyển vị thế của Trung Quốc đối với Liên Xô từ kềm chế thành thù địch chiến lược rõ ràng, thực tế là quay ngược lại.  Trung Quốc sẽ không còn tự giới hạn vào việc báo cho Hoa Kì biết về việc kềm chế Liên Xô bằng cách nào, bây giờ họ giữ một vai trò tích cực trong việc xây dựng một líên minh chống Liên Xô và chống Việt Nam, đặc biệt là ở châu Á.  Họ bố trí mọi thứ đúng chỗ sẵn sàng cho một trận đấu có thể xảy ra với Hà Nội.


Chính sách đối ngoại của Đặng Tiểu Bình - Đối thoại với Mĩ và Bình thường hóa

Khi Đặng Tiểu Bình trở về sau lần bị “thanh lọc” thứ hai vào năm 1977, ông đảo ngược chính sách trong nước của Mao nhưng cơ bản vẫn để yên chính sách đối ngoại.  Điều này là do cả hai cùng chia sẻ một cảm xúc dân tộc mạnh mẽ và có cùng quan điểm về các lợi ích quốc gia.  Đó cũng còn do chính sách đối ngoại đã đặt ra những giới hạn tuyệt đối đối với các thôi thúc cách mạng của Mao nhiều hơn là chính sách trong nước.
Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng kể trong phong cách giữa óc phán xét của Mao và của Đặng Tiểu Bình.  Mao đánh dấu hỏi về các ý đồ chiến lược trong chính sách đối với Liên Xô của Mĩ.  Đặng Tiểu Bình giả định một nhận dạng về lợi ích chiến lược và tập trung vào việc đạt được một sự thực hiện song hành.  Mao coi Liên Xô như là một loại đe dọa chiến lược trừu tượng mà sự uy hiếp của nó đối với Trung Quốc không khác gì hơn so các nước còn lại của thế giới.  Đặng Tiểu Bình lại nhận thấy mối nguy hiểm đặc biệt cho Trung Quốc, đặc biệt là một mối đe dọa ngay tại biên giới phía nam của Trung Quốc gộp với một mối đe dọa tiềm ẩn ở phía bắc.  Vì thế, đối thoại khoác lên một tính cách thao tác nhiều hơn.  Mao đã hành động như một thầy giáo nãn chí, Đặng Tiểu Bình như một đối tác yêu cầu cao.
Khi đối mặt với nguy hiểm thực sự, Đặng Tiểu Bình chấm dứt sự mâu thuẫn về mối quan hệ với Mĩ vào năm cuối cùng của Mao.  Không có bất kì sự nuối tiếc nào của Trung Quốc về cơ hội làm đại diện cho cách mạng thế giới.  Trong tất cả các lần nói chuyện sau khi nắm lại quyền lực, Đặng Tiểu Bình lập luận rằng, trong việc chống lại lực đẩy của chính sách của Liên Xô đối với châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản cần phải cùng được đưa vào một thiết kế toàn cầu.
Tuy nhiên, khi các hoạt động tham vấn giữa Trung Quốc và Hoa Kì trở nên gần gủi thì việc nước Mĩ vẫn tiếp tục chính thức công nhận Đài Loan là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc và Đài Bắc là thủ đô của Trung Quốc lại trở nên bất thường.  Các kẻ thù của Trung Quốc dọc theo biên giới phía Bắc và phía Nam có thể diễn dịch sai việc không có sự công nhận này như một cơ hội cho họ.
Bình thường hóa quan hệ đã nâng thành những mục nằm trên cùng trong chương trình nghị sự Trung-Mĩ khi Jimmy Carter lên nắm quyền.  Chuyến thăm đầu tiên tới Bắc Kinh của Ngoại trưởng mới, Cyrus Vance, vào tháng 8 năm 1977 không đạt kết quả tốt.  Ông viết trong hồi kí của mình
“Tôi rời Washington, tin rằng sẽ là thiếu khôn ngoan để nhận việc giải quyết một vấn đề gây nhiều tranh cãi chính trị như việc bình thường hoá với Trung Quốc trước khi vấn đề Panama [liên quan đến việc phê chuẩn hiệp ước kênh đào Panama đưa kênh này vào hoạt động] chưa được giải quyết xong, trừ khi – và tôi không trông mong nó sẽ xảy ra − Trung Quốc chấp nhận đề xuất của chúng tôi trên bàn hội nghị.  Vì những lí do chính trị, tôi có ý định thể hiện một vị thế tối đa về vấn đề Đài Loan đối với Trung Quốc…. Theo đó, tôi đã không mong đợi Trung Quốc chấp nhận đề nghị của chúng tôi, nhưng tôi cảm thấy khôn ngoan để làm điều đó, mặc dù cuối cùng chúng ta có thể phải loại bỏ nó.”
Các đề nghị của Mĩ về Đài Loan chứa đựng một loạt các ý tưởng liên quan đến việc giữ lại một sự hiện diện giới hạn ngoại giao của Mĩ ở Đài Loan đã được đưa ra và bị bác bỏ trong thời chính quyền Ford.  Các đề nghị này bị Đặng Tiểu Bình từ chối một lần nữa, ông ta gọi đó là một bước lùi.  Một năm sau, cuộc tranh luận nội bộ của Mĩ chấm dứt khi Tổng thống Carter quyết định gán mức ưu tiên cao cho việc quan hệ với Trung Quốc.  Áp lực của Liên Xô ở châu Phi và Trung Đông đã thuyết phục Tổng thống mới chọn việc bình thường hóa nhanh chóng với Trung Quốc nhằm tìm kiếm một liên minh chiến lược trên thực tế (de facto) với Trung Quốc để đối phó với áp lực này.  Ngày 17/05/1978, Carter phái Cố vấn An ninh Quốc gia của mình, Zbigniew Brzezinski, tới Bắc Kinh với những chỉ thị như sau:
Ông nên nhấn mạnh rằng mặc dù cũng có một số khía cạnh hợp tác, tôi thấy Liên Xô giữ vai trò chủ yếu trong mối quan hệ cạnh tranh với Hoa Kì ….
Nói ngắn gọn nhất, mối quan tâm của tôi là sự kết hợp của sức mạnh quân sự ngày càng tăng và sự thiển cận về chính trị của Liên Xô, nuôi dưỡng bởi tham vọng cường quốc lớn, có thể cám dỗ Liên Xô khai thác cả các biến động địa phương (đặc biệt là trong thế giới thứ ba) lẫn hù dọa bạn bè của chúng ta để tìm kiếm lợi thế chính trị và cuối cùng là ưu thế chính trị.
Brzezinski cũng được uỷ quyền để khẳng định lại 5 nguyên tắc Nixon đề ra với Chu Ân Lai vào năm 1972.  Là một người ủng hộ mạnh mẽ việc hợp tác chiến lược với Trung Quốc từ lâu, Brzezinski thực hiện chỉ thị của Carter một cách nồng nhiệt và khéo léo.  Khi ông đến Bắc Kinh tháng 5 năm 1978 để theo đuổi các mối quan hệ bình thường hóa, Brzezinski tìm được một thính giả biết lắng nghe.  Đặng Tiểu Bình hăm hở xúc tiến việc bình thường hoá để tranh thủ Washington chắc chắn hơn vào trong một liên minh để chống lại những bước tiến của Liên Xô trong mọi ngõ ngách trên thế giới bằng những phương cách mà ông gọi là "công việc thật sự, vững chắc, sát thực tế".
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhận thức sâu sắc về những nguy hiểm chiến lược xung quanh họ, nhưng lại trình bày phân tích của họ như là một quan điểm rộng hơn về điều kiện toàn cầu thay vì một mối quan ngại quốc gia.  "Biến động dưới bầu trời", "đường chân trời", "Ba thế giới": tất cả đều biểu hiện các lí thuyết tổng quát về các quan hệ quốc tế, không phải là các nhận thức quốc gia riêng biệt.
Phân tích tình hình quốc tế của Ngoại trưởng Hoàng Hoa thể hiện một sự tự tin đáng lưu ý.  Thay vì xuất hiện như một người trình bày những điều xét cho cùng là một tình huống rất khó khăn đối với Trung Quốc, Hoàng Hoa tỏ thái độ của một ông giáo Nho học, thuyết giảng về việc làm thế nào để thực hiện một chính sách ngoại giao toàn diện.  Ông mở đầu với một đánh giá chung về các "mâu thuẫn" giữa hai siêu cường, sự vô vọng trong các cuộc đàm phán với Liên Xô, và tính không thể tránh khỏi của một cuộc chiến tranh thế giới:
“Liên Xô là nguồn chiến tranh nguy hiểm nhất.  Tổng thống của quý vị đã nói rằng Liên Xô đang đối mặt với nhiều khó khăn.  Đó là sự thật.  Phấn đấu giành quyền bá chủ thế giới là mục tiêu chiến lược không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc xã hội chủ nghĩa Xô Viết.  Mặc dù nó có thể phải chịu rất nhiều thoái trào nhưng nó sẽ không bao giờ từ bỏ tham vọng của mình.”  Hoàng Hoa đã nâng mối quan ngại lên cao làm các sinh viên về chiến lược Mĩ lo lắng − đặc biệt là những người đã cố gắng liên hệ vũ khí hạt nhân với các cách suy nghĩ về chiến lược.  Sự phụ thuộc vào vũ khí hạt nhân sẽ mở ra một khoảng cách giữa các mối đe dọa ngăn chặn và sự sẵn lòng thực hiện chúng:  "Đối với lập luận cho rằng Liên Xô không dám sử dụng vũ khí thông thường vì sợ cuộc tấn công hạt nhân từ phương Tây, điều đó chỉ là mơ tưởng.  Đặt cơ sở cho một quan điểm chiến lược dựa trên suy nghĩ đó không những nguy hiểm mà còn không đáng tin cậy."
Ở Trung Đông − "sườn của châu Âu" và "nguồn năng lượng trong một cuộc chiến tranh trong tương lai" − Hoa Kì đã thất bại trong việc kiểm soát các bước tiến của Liên Xô.  Hoa Kì đã ra một tuyên bố chung về Trung Đông với Liên Xô (mời các quốc gia khu vực đến một hội nghị để khám phá triển vọng cho một giải pháp toàn diện về Palestine), "vì vậy mở rộng cánh cửa cho Liên Xô tiếp tục xâm nhập vào Trung Đông."  Washington đã để Tổng thống Anwar Sadat của Ai Cập − mà "hành động táo bạo" của ông đã "tạo ra một tình hình bất lợi cho Liên Xô" – rơi vào một vị thế nguy hiểm và cho phép Liên Xô "nắm bắt cơ hội để làm nghiêm trọng thêm sự chia rẻ giữa các nước Ả Rập."
Hoàng Hoa tổng kết tình hình bằng cách viện dẫn một câu tục ngữ cổ của Trung Quốc: "xoa dịu" Moscow, ông nói, "giống như gắn thêm đôi cánh cho một con hổ để làm nó mạnh thêm."  Nhưng một chính sách áp lực phối hợp sẽ có ưu thế, vì Liên Xô "chỉ mạnh phía bên ngoài nhưng yếu phía bên trong.  Nó bắt nạt kẻ yếu và sợ hãi kẻ mạnh."
Tất cả điều này chỉ là để nêu ra bối cảnh cho Đông Dương.  Hoàng Hoa nêu lên vấn đề về bá quyền khu vực.  "Tất nhiên, Mĩ đã bước đi trên con đường này 10 trước đó.  Việt Nam nhắm tới mục đích thống trị Campuchia và Lào và thiết lập một Liên bang Đông Dương − Liên Xô đứng ngay phía sau điều đó."  Hà Nội đã đạt được vị trí thống trị tại Lào, đóng quân ở đó và duy trì "các cố vấn ở mỗi bộ phận và ở mọi cấp tại Lào."  Nhưng Hà Nội đã gặp phải sự chống đối ở Campuchia, họ chống lại các tham vọng của Việt Nam trong khu vực.  Sự căng thẳng Việt Nam-Campuchia biểu hiện "không chỉ đơn thuần là một số vụ đụng độ lẻ tẻ dọc theo biên giới" mà là một cuộc xung đột lớn "có thể kéo dài trong một thời gian dài."  Trừ khi Hà Nội từ bỏ mục tiêu thống trị Đông Dương "vấn đề này sẽ không thể giải quyết trong một thời gian ngắn".
Sau đó trong cùng ngày Đặng Tiểu Bình tiếp lời phê phán của Hoàng Hoa.  Nhượng bộ và thỏa thuận không bao giờ tạo ra sự kềm chế của Liên Xô, ông cảnh báo Brzezinski.  Mười lăm năm thực hiện hiệp ước kiểm soát vũ khí đã cho phép Liên Xô đạt được trình đô tương đương chiến lược với Hoa Kì.  Giao thương với Liên Xô có nghĩa là "Hoa Kì đang giúp Liên Xô vượt qua điểm yếu của nó."  Đặng Tiểu Bình đưa ra một đánh giá chế nhạo về phản ứng của Mĩ đối với chủ nghĩa phiêu lưu Xô viết ở Moscow:
Các người phát ngôn của quý vị đã liên tục biện minh và xin lỗi về những hành động của Liên Xô.  Đôi khi họ nói không có dấu hiệu để chứng minh rằng có sự can thiệp của Liên Xô và Cuba trong trường hợp của Zaire hay Angola.  Chẳng có ích lợi gì cho quý vị để nói như vậy.  Xin được thẳng thắng với quý vị, bất cứ khi nào quý vị kí kết một thỏa thuận với Liên Xô thì đó là sản phẩm của nhượng bộ về phía Mĩ để làm hài lòng phía Liên Xô.
Đó là một hành động không bình thường.  Quốc gia vốn là mục tiêu chủ yếu của Liên Xô lại đề xuất hành động chung như là một nghĩa vụ nhận thức chứ không phải như là một sự thương thảo giữa các quốc gia, càng kém hơn một yêu cầu rất nhiều.  Vào thời điểm có nguy hiểm lớn tầm vóc quốc gia – mà sự phân tích của riêng của họ cho thấy − Trung Quốc vẫn đóng vai trò là một chỉ đạo viên về chiến lược chứ không phải như là một người tiêu dùng thụ động các phương kế kê sẵn của Mĩ như các đồng minh châu Âu của Mĩ vẫn thường làm.
Các chủ đề chính của nhiều tranh luận ở Mĩ − luật quốc tế, các giải pháp đa phương, sự đồng thuận phổ biến− thường vắng mặt trong các phân tích của Trung Quốc, ngoại trừ được dùng như là các công cụ thiết thực cho một mục tiêu đã được thoả thuận.  Và mục tiêu đó, như Đặng Tiểu Bình chỉ cho Brzezinski, là "đối phó với con gấu trắng đó và chỉ có thế."
Nhưng đối với người Mĩ có một giới hạn cho cái gọi là cách tiếp cận hiện thực chủ nghĩa các giá trị cơ bản của xã hội Mĩ.  Và bọn Khmer Đỏ giết người cai quản Campuchia tiêu biểu cho cho một giới hạn như vậy.  Không có một Tổng thống Mĩ nào có thể coi Khmer Đỏ như là một viên đá (con cờ) khác trong thế cờ vây của mình.  Hành vi diệt chủng của họ − xua dân Phnom Penh vào rừng, giết người hàng loạt theo các phân loại thường dân định trước – không thể chỉ đơn giản là cứ lờ đi (mặc dù như chúng ta sẽ thấy đôi khi cũng cần phải từ bỏ nguyên tắc).
Hoa Quốc Phong,  thậm chí còn nhấn mạnh hơn trong một cuộc họp vào ngày hôm sau:
Chúng tôi cũng đã nói với rất nhiều bạn bè của chúng tôi rằng nguồn chiến tranh nguy hiểm chính là từ Liên Xô.  Thế thì chúng ta phải làm thế nào để đối phó với nó?  Điều đầu tiên là ta nên chuẩn bị…. Nếu ta đã chuẩn bị và một khi một cuộc chiến tranh xảy ra thì ta không thấy mình ở một vị thế bất lợi.  Điều thứ hai có tính bắt buộc là cố gắng để làm đảo lộn việc triển khai chiến lược xâm lược của Liên Xô.  Bởi vì để có được quyền bá chủ trên thế giới, trước hết Liên Xô phải có các căn cứ hải quân và không quân trên toàn thế giới, vì vậy họ phải thực hiện một triển khai chiến lược.  Và chúng ta phải cố gắng làm đảo lộn kế hoạch triển khai toàn cầu của họ.
Không một thành viên nào của Liên minh Đại Tây Dương đưa ra một lời kêu gọi tương đối sâu rộng về việc kết hợp hành động − chủ yếu mang tính tấn công ngăn chặn – hoặc tỏ cho thấy rằng họ đã chuẩn bị để hành động một mình theo đánh giá của riêng họ.
Về mặt thao tác các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đề xuất một loại hợp tác theo nhiều cách mật thiết và chắc chắc liều lĩnh hơn so với Liên minh Đại Tây Dương.  Họ tìm cách để thực hiện chiến lược ngăn chặn tấn công được mô tả trong các chương trước.  Nét đặc biệt của chiến lược đó là Đặng Tiểu Bình đề xuất không có cấu trúc hình thức hoặc nghĩa vụ dài hạn.  Một đánh giá chung sẽ cung cấp động lực cho hành động chung, nhưng liên minh theo thực tế không thể tồn tại nếu các đánh giá bắt đầu bất đồng – Trung Quốc nằng nì được tự chủ ngay cả khi gặp nguy hiểm cao độ.  Việc Trung Quốc quá nhấn mạnh trên hành động chung mặc dù chỉ trích gay gắt các chính sách cụ thể của Mĩ đã chứng minh rằng hợp tác với Hoa Kì vì an ninh được họ nhận thức như là điều bắt buộc.
Bình thường hoá nổi lên như là một bước đầu tiên hướng tới một chính sách toàn cầu chung.  Kể từ chuyến thăm bí mật tháng 7 năm 1971, các điều kiện của Trung Quốc cho việc bình thường hóa là rõ ràng và không thay đổi: rút tất cả các lực lượng Mĩ khỏi Đài Loan, ngưng hiệp ước phòng thủ với Đài Loan và thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc chỉ riêng với chính phủ ở Bắc Kinh.  Đó cũng đã là một phần về vị thế của Trung Quốc trong Thông cáo chung ở Thượng Hải.  Hai Tổng thống − Richard Nixon và Gerald Ford − đã đồng ý với các điều kiện này.  Nixon đã cho biết ông sẽ thực hiện chúng trong nhiệm kì thứ hai của mình.  Cả Nixon lẫn Ford đã nhấn mạnh mối quan tâm của Mĩ tới một giải pháp hòa bình cho vấn đề, bao gồm cả việc tiếp tục của một số trợ giúp an ninh cho Đài Loan.  Họ đã không thể thực hiện những lời hứa này vì ảnh hưởng của vụ Watergate.
Trong một hành động khác thường của chính sách ngoại giao phi đảng phái, Tổng thống Carter ngay đầu nhiệm kì của ông đã tái khẳng định tất cả các chủ trương liên quan đến Đài Loan mà Nixon đã nêu ra với Chu Ân Lai trong tháng 2 năm 1972.  Năm 1978, ông đưa ra một công thức cụ thể cho việc bình thường hoá cho phép cả hai bên duy trì các nguyên tắc đã được thiết lập: khẳng định lại các nguyên tắc được Nixon và Ford chấp nhận, tuyên bố của Mĩ nhấn mạnh quyết tâm của nước này đối với sự chuyển đổi hòa bình, Trung Quốc sẽ bắt buộc phải sắp xếp lại việc phát triển vũ khí hạt nhân – như thể Hoa Kì không có ảnh hưởng đến các kế hoạch hay hành động của Đài Loan.
Cuối cùng, việc bình thường hoá đến khi Carter đưa ra một thời hạn chót qua việc mời Đặng Tiểu Bình đến thăm Washington.  Đặng Tiểu Bình đã đồng ý với việc Mĩ bán các vũ khí không xác định cho Đài Loan và không phủ nhận tuyên bố của Mĩ trong đó Washington mong đợi giải pháp cuối cùng cho vấn đề Đài Loan là giải pháp hòa bình − mặc dù Trung Quốc đã lập một kỉ lục kéo dài rằng họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ chính thức tới mức hiệu lực đó.  Như Đặng Tiểu Bình có nhấn mạnh với Brzezinski rằng lập trường của Bắc Kinh vẫn là "giải phóng Đài Loan là một việc nội bộ của Trung Quốc mà không một quốc gia nước ngoài có quyền can thiệp."
Bình thường hoá có nghĩa là toà Đại sứ Mĩ sẽ chuyển từ Đài Bắc sang Bắc Kinh, một nhà ngoại giao Bắc Kinh sẽ thay thế đại diện của Đài Bắc tại Washington.  Để đáp lại Quốc hội Mĩ đã thông qua Đạo luật Quan hệ Đài Loan vào năm 1979, bày tỏ những mối quan tâm của Mĩ về tương lai như là một luật ràng buộc đối với người Mĩ.  Dĩ nhiên, luật đó không thể ràng buộc Trung Quốc.
Sự cân bằng giữa những điều có tính bắt buộc của Mĩ và Trung Quốc minh họa tại sao tính mập mờ đôi khi lại là các huyết mạch của ngoại giao. Phần lớn việc bình thường hóa đã được duy trì trong bốn mươi năm bằng một loạt các sự mập mờ.  Nhưng không thể làm như vậy vô thời hạn.  Tài khéo chính trị khôn ngoan của cả hai bên là cần thiết để đưa quá trình này  tiến lên.


Các chuyến đi của Đặng Tiểu Bình

Khi Đặng Tiểu Bình chuyển từ lời kêu gọi sang thực hiện, ông thấy rằng Trung Quốc không chờ đợi một cách thụ động các quyết định của Mĩ.  Bất cứ nơi nào có thể − đặc biệt là ở Đông Nam Á − ông sẽ tạo ra khuôn khổ chính trị mà ông ủng hộ.
Trong khi Mao triệu tập các nhà lãnh đạo nước ngoài đến nơi cư trú của mình như một hoàng đế, Đặng Tiểu Bình đã theo một cách tiếp cận trái ngược – đi thăm viếng khu vực Đông Nam Á, Hoa Kì, và Nhật Bản và thực hành cách thức riêng của ông về ngoại giao rất rõ ràng, thẳng thừng, và đôi khi hách dịch.  Trong các năm 1978 và 1979, Đặng Tiểu Bình đã thực hiện một loạt các chuyến đi để thay đổi hình ảnh Trung Quốc ở nước ngoài - từ một kẻ thách thức cách mạng thành một người bạn nạn nhân của các mưu đồ địa chính trị của Liên Xô và Việt Nam.  Trung Quốc đã từng ở phía bên kia trong chiến tranh Việt Nam.  Trước đó tại Thái Lan và Malaysia, Trung Quốc đã khuyến khích cách mạng trong các cộng đồng người Hoa ở nước ngoài và các sắc dân thiểu số.  Bây giờ tất cả điều này là việc phụ để đối phó với mối đe dọa trước mắt.
Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Times tháng 2 năm 1979, Đặng Tiểu Bình quảng bá ý đồ chiến lược của Trung Quốc với một công chúng lớn: "Nếu chúng ta thực sự muốn đặt dây cương lên con gấu trắng, điều duy nhất có tính hiện thực đối với chúng ta là đoàn kết.  Nếu chúng ta chỉ phụ thuộc vào sức mạnh của Mĩ, điều đó chưa đủ.  Nếu chúng ta chỉ phụ thuộc vào sức mạnh của châu Âu, điều đó cũng chưa đủ.  Chúng tôi là một nước nghèo, không đáng kể, nhưng nếu chúng ta đoàn kết tốt thì sức mạnh sẽ tăng."
Trong suốt các chuyến đi của mình, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh tình trạng lạc hậu tương đối của Trung Quốc và mong muốn của nước này được tiếp thu công nghệ và sự chuyên sâu các nước công nghiệp tiên tiến.  Tuy nhiên, ông vẫn giữ ý kiến cho rằng sự thiếu sự phát triển của Trung Quốc không làm thay đổi quyết tâm của nước này chống lại sự bành trướng của Liên Xô và Việt Nam, nếu cần thiết bằng vũ lực và đơn độc.
Các chuyến đi ra nước ngoài của Đặng Tiểu Bình – và những viện dẫn lặp đi lặp lại của ông về sự nghèo đói của Trung Quốc – là những chuyến đi nổi bật trong truyền thống quản lí nhà nước Trung Quốc.  Rất ít nhà lãnh đạo Trung Quốc đi ra nước ngoài.  (Tất nhiên, nếu theo quan niệm truyền thống họ cai trị mọi thứ dưới bầu trời (thiên hạ) thì theo lẽ đó không có "nước ngoài" để họ đi đến.)  Việc Đặng Tiểu Bình sẵn sàng công khai nhấn mạnh tình trạng lạc hậu của Trung Quốc và cần học hỏi người khác tương phản sắc nét với tính thiển cận của các hoàng đế và quan chức Trung Quốc trong việc giao dịch với người nước ngoài.  Chưa từng có một nhà cai trị nào của Trung Quốc công bố cho người nước ngoài biết nhu cầu về hàng hóa nước ngoài của Trung Quốc.  Triều đình nhà Thanh chấp nhận các đổi mới của nước ngoài với liều lượng hạn chế (ví dụ, trong thái độ chào đón các nhà thiên văn học và các nhà toán học Dòng Tên), nhưng luôn luôn nhấn mạnh rằng giao thương với nước ngoài là một biểu hiện về thiện chí của Trung Quốc chứ không phải là một điều cần thiết cho Trung Quốc.  Mao, cũng thế, đã nhấn mạnh tinh thần tự chủ dù phải trả giá bằng sự nghèo đói và sự cô lập.
Đặng Tiểu Bình mở đầu việc đi ra nước ngoài bằng chuyến đi Nhật Bản nhân dịp việc phê chuẩn hiệp ước bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Trung Quốc được đàm phán trước đó.  Ý đồ chiến lược của Đặng Tiểu Bình không chỉ đơn giản là bình thường hoá mà đòi hỏi cả sự hòa giải, do đó Nhật Bản có thể giúp họ cô lập Liên Xô và Việt Nam.
Đối với mục tiêu này, Đặng Tiểu Bình đã sẵn sàng khép lại một nửa một thế kỉ Trung Quốc chịu đau khổ do Nhật Bản gây ra.  Đặng Tiểu Bình tự xử sự một cách cởi mở qua tuyên bố "Lòng tôi tràn đầy niềm vui," và ôm ghì đồng nhiệm Nhật Bản, một cử chỉ mà phía chủ nhà chỉ gặp một vài tiền lệ trong xã hội riêng của mình, hay trong xã hội Trung Quốc.  Đặng Tiểu Bình đã không cố tìm cách che dấu tình trạng tụt hậu về kinh tế của Trung Quốc: "Nếu bạn có một khuôn mặt xấu chẳng có ích gì để vờ rằng bạn đẹp trai."  Khi được yêu cầu kí vào sổ khách viếng ông đã ghi một lời đánh giá cao chưa từng có về các thành tựu của Nhật Bản: "Chúng tôi học tập và bày tỏ sự kính phục đối với nhân dân Nhật Bản, những nguời vĩ đại, cần mẫn, dũng cảm và thông minh."
Tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm Đông Nam Á, đến Malaysia, Singapore, và Thái Lan.  Ông gán cho Việt Nam cái nhãn "Cuba của phương Đông" và nói hiệp ước Xô-Việt vừa được kí kết là một mối đe dọa cho hòa bình thế giới.
Ở Thái Lan vào ngày 8/11/1978, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh rằng "an ninh và hòa bình của châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới đang bị đe dọa bởi hiệp ước Xô-Việt:  Hiệp ước này không nhằm chống lại chỉ một mình Trung Quốc....  Nó là một âm mưu toàn cầu rất quan trọng của Liên Xô.  Các bạn có thể tin rằng ý nghĩa của hiệp ước này là để bao vây Trung Quốc.  Tôi đã nói với các nước bạn bè rằng Trung Quốc không hề sợ bị bao vây.  Nó có một ý nghĩa quan trọng nhất đối với châu Á và Thái Bình Dương.  An ninh và hòa bình của châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới đang bị đe doạ."
Trong chuyến thăm Singapore, Đặng Tiểu Bình đã được tiếp bằng tinh thần họ hàng của Thủ tướng phi thường Lí Quang Diệu và đã thoáng có một cái nhìn về một tương lai có thể có của Trung Quốc − một xã hội đa số-người Hoa thịnh vượng theo những gì mà Đặng Tiểu Bình sau này sẽ mô tả một cách khâm phục là "quản lí nghiêm ngặt" và "trật tự công cộng tốt."  Vào lúc đó, Trung Quốc vẫn còn nghèo thảm hại, và "trật tự công cộng" hầu như không còn tồn tại sau cuộc Cách mạng Văn hóa.  Lí Quang Diệu nhắc lại một trao đổi đáng ghi nhớ:
Ông ta mời tôi thăm Trung Quốc một lần nữa.  Tôi nói tôi sẽ đi khi Trung Quốc được phục hồi lại sau cuộc Cách mạng Văn hóa.  Ông nói rằng điều đó sẽ phải cần một thời gian dài.  Tôi phản đối rằng họ chẳng có vấn đề gì trong việc xúc tiến ngay và làm tốt hơn nhiều so với Singapore bởi vì chúng tôi là con cháu của những nông dân mù chữ, không có đất đai ra đi từ Phúc Kiến và Quảng Đông trong khi họ có con cháu của những học giả, quan lại và văn nhân, những người đã ở lại tại quê hương.  Ông ta im lặng.
Lí Quang Diệu khâm phục chủ nghĩa thực dụng và việc sẵn sàng để học hỏi từ kinh nghiệm của Đặng Tiểu Bình.  Ông cũng sử dụng cơ hội này để bày tỏ một số các quan ngại của các nước Đông Nam Á có thể bị lọc đi qua bộ lọc quan liêu và ngoại giao của Trung Quốc:
Trung Quốc muốn các nước Đông Nam Á đoàn kết với họ để cô lập con "gấu Nga", thực tế là các láng giềng của chúng tôi cũng muốn chúng tôi đoàn kết lại và cô lập con “rồng Trung Hoa.“  Không có “người Nga ở nước ngoài" nào ở Đông Nam Á lãnh đạo những cuộc nổi dậy cộng sản do Liên Xô ủng hộ, trong khi có nhiều "người Hoa ở nước ngoài" được Đảng Cộng sản và chính phủ Trung Quốc khuyến khích và ủng hộ, đặt ra các mối đe dọa đối với Thái Lan, Malaysia, Philippines, và ở một mức độ thấp hơn với Indonesia.  Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã công khai khẳng định mối quan hệ đặc biệt với các người Hoa ở nước ngoài do các quan hệ huyết thống, và đang kêu gọi trực tiếp đến lòng yêu nước của họ ngay trên đầu của chính phủ các nước mà họ là công dân... Tôi đã gợi ý rằng chúng tôi cần thảo luận để giải quyết vấn đề này như thế nàoy.
Về sự kiện này, Lí Quang Diệu đã tỏ ra chính xác.  Các nước Đông Nam Á, ngoại trừ Singapore, cư xử rất thận trọng trong việc đối đầu với Liên Xô hoặc Việt Nam.  Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình đã đạt được những mục tiêu cơ bản của ông: nhiều phát biểu công khai của ông ta tạo thành một cảnh báo về một nỗ lực của Trung Quốc để khắc phục tình hình.  Và Hoa Kì, nước đã là một khối xây dựng chủ chốt trong ý đồ của Đặng Tiểu Bình, buộc phải ghi nhận  những điều đó,.  Ý đồ chiến lược đó cần một mối quan hệ xác định vững chắc hơn với Mĩ.


Đặng Tiểu Bình thăm Mĩ và định nghĩa mới về Liên minh

Chuyến đi thăm Hoa Kì của Đặng Tiểu Bình được công bố  là để chào mừng việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và mở đầu một chiến lược chung xây dựng trên Thông cáo chung Thượng Hải, được áp dụng chủ yếu cho Liên Xô.
Nó cũng chứng minh một kĩ năng đặc biệt của ngoại giao Trung Quốc là tạo ra ấn tượng về sự ủng hộ của các nước trên thực tế không đồng ý hoặc thậm chí không được yêu cầu giữ vai trò đó.  Kiểu cách này đã bắt đầu vào cuộc khủng hoảng trên các hòn đảo ngoài khơi hai mươi năm trước đó.  Năm 1958 Mao bắt đầu pháo kích các đảo Kim Môn và Mã Tổ ba tuần sau chuyến thăm Bắc Kinh căng thẳng của Khrushchev, tạo ấn tượng rằng Moscow đã đồng ý với hành động của Bắc Kinh trước, nhưng thật ra không phải như vậy.  Eisenhower đã đi quá xa khi buộc tội Khrushchev giúp kích động cuộc khủng hoảng này.
Theo cùng một chiến thuật, Đặng Tiểu Bình dạo đầu cuộc chiến tranh với Việt Nam bằng một chuyến thăm cấp cao sang Hoa Kì.  Trong cả hai trường hợp, Trung Quốc đều không yêu cầu sự trợ giúp cho hành động quân sự sắp xảy ra của họ.  Khrushchev dường như không được thông báo về hoạt động quân sự năm 1958 và phẫn nộ vì bị đối mặt với nguy cơ chiến tranh hạt nhân, Washington đã được báo về cuộc xâm lược năm 1979 sau khi Đặng Tiểu Bình đến Mĩ nhưng đã không đưa ra một sự ủng hộ rõ ràng nào và hạn chế vai trò của Mĩ trong việc chia sẻ thông tin tình báo và phối hợp ngoại giao.  Trong cả hai trường hợp, Bắc Kinh đã thành công trong việc tạo ra ấn tượng rằng hành động của họ được hưởng hồng ân của một siêu cường, do đó làm các siêu cường khác ngại việc can thiệp.  Trong chiến lược tinh vi và táo bạo đó, Liên Xô vào năm 1958 không đủ thực lực để ngăn chặn các cuộc tấn công của Trung Quốc trên hai đảo đó; còn đối với Việt Nam, nước này chỉ còn cách đoán mò những gì đã được đồng ý trong chuyến thăm của Đặng Tiểu Bình và có khả năng chỉ giả định điều tồi tệ nhất theo quan điểm của họ.
Trong ý nghĩa đó, việc Đặng Tiểu Bình thăm Hoa Kì là một kiểu đùa với bóng mà một trong những mục đích là để hù dọa Liên Xô.  Chuyến đi Mĩ kéo dài một tuần của Đặng Tiểu Bình một  phần là hội nghị thượng đỉnh ngoại giao, một phần là chuyến đi giao dịch, một phần là chiến dịch vận động chính trị, và một phần khác là chiến tranh tâm lí cho cuộc chiến tranh Việt Nam lần ba.  Chuyến đi bao gồm các điểm dừng ở Washington DC, Atlanta, Houston, và Seattle, và tạo ra những cảnh không thể tưởng tượng được dưới thời Mao.  Tại một bữa yến tại Nhà Trắng vào ngày 29 tháng 1, lãnh tụ của "Trung Hoa Đỏ" ăn tối với người đứng đầu của Coca-Cola, PepsiCo, và General Motors.  Tại một sự kiện gala ở Trung tâm Kennedy, Phó Thủ tướng kém tầm thước bắt tay với các thành viên cao lớn của đội bóng rổ Harlem Globetrotters.  Đặng Tiểu Bình đã biểu diễn  lái xe ngựa, đội nón cao bồi rộng vành trước đám đông tại một buổi đua bò và ăn thịt nướng ngoài trời ở Simonton, Texas.
Trong suốt chuyến thăm, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh nhu cầu của Trung Quốc được tiếp thu công nghệ nước ngoài và phát triển nền kinh tế của mình.  Thể theo yêu cầu, ông đã được đi thăm các cơ sở sản xuất và công nghệ, bao gồm một nhà máy lắp ráp của hảng Ford ở Hapeville, Georgia, Công ti Công cụ Hughes ở Houston (ở đó Đặng xem các mũi khoan sử dụng trong thăm dò dầu khí ngoài khơi); và nhà máy Boeing ở ngoại ô Seattle.  Khi đến Houston,  Đặng Tiểu Bình thố lộ mong muốn "học hỏi về kinh nghiệm tiên tiến của các bạn trong ngành công nghiệp dầu khí và các lĩnh vực khác."  Đặng Tiểu Bình đưa ra một đánh giá đầy hi vọng về quan hệ Trung-Mĩ, công bố mong muốn của ông "biết hết mọi chuyện về cuộc sống Mĩ" và "hấp thụ mọi thứ có lợi ích đối với chúng tôi."  Tại Trung tâm vũ trụ Johnson ở Houston, Đặng cố kéo dài cuộc mô phỏng chuyến bay tàu con thoi trong không gian.  Một phóng viên chợp được cảnh:
Đặng Tiểu Bình, người đã sử dụng chuyến đi Hoa Kì để kịch tính hoá lòng háo hức của Trung Quốc đối với công nghệ tiên tiến, hôm nay đã leo vào buồng lái của một chuyến bay mô phỏng ở đây để khám phá việc đáp con tàu vũ trụ mới nhất của Mĩ từ độ cao 100.000 bộ sẽ giống như điều gì.  Phó Thủ tướng Trung Quốc [Đặng Tiểu Bình] dường như bị cuốn hút bởi những kinh nghiệm mà ông đã trải qua trong một cuộc hạ cánh thứ hai và thậm chí sau đó dường như không muốn rời khỏi con tàu mô phỏng.
Điều này cách xa hàng vạn dậm với sự thờ ơ nghiên cứu thấy ở các Hoàng đế nhà Thanh đối với các quà tặng và những lời hứa giao thương của Macartney hay thái độ khăng khăng cứng nhắc của Mao về kinh tế tự cung tự cấp.  Tại cuộc họp của ông với Tổng thống Carter ngày 29 tháng 1, Đặng Tiểu Bình giải thích chính sách Bốn Hiện Đại Hóa của Trung Quốc, đã được Chu Ân Lai đưa ra trong lần xuất hiện mới nhất trước công chúng, hứa hẹn sẽ hiện đại hóa các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, khoa học và công nghệ, và quốc phòng.  Tất cả điều này tuỳ thuộc vào mục đích bao trùm của chuyến đi của Đặng Tiểu Bình: phát triển một liên minh trên thực tế giữa Hoa Kì và Trung Quốc.  Ông tổng kết: “Thưa Tổng thống, Ngài yêu cầu một bản phác thảo chiến lược của chúng tôi.  Để hiểu Bốn Hiện Đại Hóa của chúng tôi, chúng ta cần một khoảng thời gian kéo dài của một môi trường hòa bình.  Nhưng ngay cả bây giờ chúng tôi tin rằng Liên Xô sẽ phát động một cuộc chiến tranh.  Nhưng nếu chúng ta hành động khéo léo và đúng cách thì có thể sẽ trì hoãn được nó.  Trung Quốc hi vọng sẽ trì hoãn cuộc chiến tranh 22 năm.  Trên những tiền đề như vậy, chúng tôi không khuyến nghị việc thành lập một liên minh chính thức, nhưng mỗi nước chúng ta sẽ hành động trên cơ sở quan điểm chung của chúng ta và phối hợp các hoạt động của chúng ta và cùng thông qua các biện pháp cần thiết.  Mục tiêu này có thể đạt được.  Nếu những nỗ lực của chúng ta không có kết quả thì tình hình sẽ trở nên ngày càng trống rỗng hơn.  Để hành động như một đồng minh mà không hình thành một liên minh đã đẩy chủ nghĩa hiện thực đến mức cùng cực.  Nếu tất cả các nhà lãnh đạo là các nhà chiến lược có năng lực, suy nghĩ sâu sắc và có hệ thống về chiến lược thì tất cả họ đều đi đến cùng kết luận.  Các liên minh sẽ không cần thiết, logic trong phân tích của họ sẽ buộc đi tới các hướng song song.”
Nhưng sự khác biệt của lịch sử và địa lí tách rời, thậm chí các nhà lãnh đạo trong các điều kiện tương tự cũng không nhất thiết đi đến các kết luận giống y như nhau − đặc biệt khi đang bị căng thẳng.  Cách phân tích phụ thuộc vào cách giải thích, các phán đoán khác nhau như về những gì tạo nên một sự kiện, thậm chí khác nhiều hơn về ý nghĩa của sự kiện đó.  Vì thế, các nước lập nên các liên minh – công cụ chính thức để tách biệt lợi ích chung, trong chừng mức có thể, ra khỏi các trường hợp không liên quan hoặc các áp lực trong nước.  Các liên minh tạo ra một nghĩa vụ bổ sung vào các tính toán lợi ích quốc gia.  Các liên minh cũng tạo ra một nghĩa vụ pháp li để biện minh cho việc phòng thủ chung có thể được viện dẫn ra trong một cuộc khủng hoảng.  Cuối cùng, các liên minh giảm − đến mức độ mà chúng đang nghiêm túc theo đuổi − sự nguy hiểm bởi các tính toán sai lầm của kẻ thù tiềm năng và do đó đưa thêm một yếu tố về tính cân nhắc vào việc thực hiện các chính sách đối ngoại.
Đặng Tiểu Bình − và hầu hết các nhà lãnh đạo Trung Quốc − coi một liên minh chính thức là không cần thiết trong mối quan hệ Mĩ-Trung, và nói chung là dư thừa trong việc thực hiện các chính sách đối ngoại của họ.  Họ đã sẵn sàng dựa trên sự hiểu ngầm.  Nhưng cũng có một cảnh báo hàm chứa trong câu nói cuối cùng của Đặng Tiểu Bình.  Nếu không thể xác định hoặc thực hiện các lợi ích tương đồng (song song), mối quan hệ sẽ trở thành "trống rỗng," điều này muốn nói, sẽ tàn lụi, và Trung Quốc có thể sẽ quay trở lại với quan niệm Ba thế giới của Mao Trạch Đông − vẫn là chính sách-chính thức − cho phép Trung Quốc chạy qua chạy lại giữa các siêu cường.
Theo cái nhìn của Đặng Tiểu Bình, các lợi ích tương đồng sẽ tự thể hiện trong một thỏa thuận toàn cầu không chính thức để kềm chế Liên Xô ở châu Á bằng việc hợp tác chính trị / quân sự theo các mục tiêu tương tự với NATO ở châu Âu.  Nó sẽ phải ít về cấu trúc tổ chức nhưng phụ thuộc phần lớn vào mối quan hệ chính trị song phương Trung-Mĩ.  Nó cũng dựa trên một học thuyết về địa chính trị khác.  NATO tìm cách đoàn kết các đối tác của mình, trên hết là trong việc chống sự xâm lăng thực sự của Liên Xô.  NATO để lộ cho thấy nó tránh bất kì ý niệm nào về tấn công ngăn chặn trước.  Liên quan đến việc tránh đối đầu ngoại giao, học thuyết chiến lược của NATO chủ yếu là phòng thủ.
Cái mà Đặng Tiểu Bình đề xuất chủ yếu là một chính sách ngăn chận trước, nó là một khía cạnh của học thuyết ngăn chặn tấn công của Trung Quốc.  Liên Xô phải bị áp lực dọc theo toàn bộ vùng biên giới và đặc biệt là ở các vùng mà họ mở rộng sự hiện diện gần đây, đặc biệt là ở Đông Nam Á và cả ở châu Phi.  Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị để bắt đầu hành động quân sự ngăn chặn mưu đồ của Liên Xô, đặc biệt là ở Đông Nam Á.
Liên Xô sẽ không bao giờ ràng buộc với các thỏa thuận, Đặng Tiểu Bình cảnh báo, họ chỉ hiểu ngôn ngữ của lực lượng đối kháng.  Chính khách La Mã Marcus Porcius Cato nổi tiếng do đã kết thúc tất cả các bài phát biểu của mình với lời kêu gọi oang oang "Carthago delenda est" ("Bọn Carthage phải bị tiêu diệt").  Đặng Tiểu Bình cũng có lời kêu gọi mang nhãn hiệu của riêng ông: phải chống lại Liên Xô.  Ông lồng vào tất cả các bài thuyết trình của mình một số biến thể của lời khuyên này rằng bản chất không thay đổi của Moscow là để "chen vào bất cứ nơi nào có kẽ hở,” và như Đặng Tiểu Bình nói với Tổng thống Carter,"chỗ nào Liên Xô dính tay vào, chúng tôi chặt đứt chúng đi ở chỗ đó."
Phân tích tình hình chiến lược của Đặng Tiểu Bình với Nhà Trắng có kèm một thông báo rằng Trung Quốc có ý định tiến hành chiến tranh với Việt Nam bởi vì họ đã kết luận rằng Việt Nam sẽ không dừng lại ở Campuchia.  Đặng Tiểu Bình cảnh báo: "Cái gọi là Liên bang Đông Dương bao gồm hơn ba nước, Hồ Chí Minh đã ấp ủ ý tưởng này.  Ba nước chỉ là bước đầu tiên.  Sau đó, Thái Lan sẽ thêm vào."  Đặng Tiểu Bình tuyên bố Trung Quốc có nghĩa vụ phải hành động.  Không thể chờ cho nó phát triển, để cho nó xảy ra thì sẽ là quá muộn.
Đặng Tiểu Bình nói với Carter rằng ông đã xét tới "khả năng tồi tệ nhất" – sự can thiệp mạnh bạo của Liên Xô, như hiệp ước phòng thủ mới Moscow-Hà Nội dường như đòi hỏi.  Thật vậy, nhiều báo cáo đã chỉ ra rằng Bắc Kinh đã phải di tản đến 300 000 thường dân khỏi các vùng lãnh thổ biên giới phía Bắc và đặt lực lượng đóng dọc theo biên giới Trung-Xô trong tình trạng báo động tối đa.  Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình nói với Carter, Bắc Kinh đánh giá rằng một cuộc chiến tranh ngắn gọn, giới hạn sẽ không cho Moscow có thời gian để đưa ra "một phản ứng lớn" và các điều kiện mùa đông sẽ làm khó khăn cho một cuộc tấn công quy mô lớn của Liên Xô trên miền bắc Trung Quốc.  Đặng Tiểu Bình đã nói rằng Trung Quốc "không sợ" nhưng họ cần "sự ủng hộ tinh thần" của Washington mà ông có ý là sự mập mờ vừa đủ về ý đồ của Mĩ để làm cho Liên Xô tạm dừng hành động.
Một tháng sau chiến tranh, Hoa Quốc Phong giải thích cho tôi về phân tích chiến lược cẩn thận đi trước cuộc chiến đó:
Chúng tôi cũng xem xét khả năng về một phản ứng của Liên Xô.  Khả năng đầu tiên là một cuộc tấn công  lớn vào chúng tôi.  Điều này chúng tôi xem là một khả năng thấp.  Một triệu quân đang đóng dọc theo biên giới, nhưng để cho một cuộc tấn công lớn vào Trung Quốc thì chưa đủ.  Nếu họ rút thêm một số quân từ châu Âu về thì sẽ mất thời gian và họ sẽ lo lắng về châu Âu.  Họ biết một trận chiến với Trung Quốc sẽ là một vấn đề lớn và không thể kết thúc trong một thời gian ngắn.
Ý đồ táo bạo đó của Đặng Tiểu Bình đối mặt với sự dè dặt của Carter cả về nguyên tắc lẫn thái độ công chúng.  Về nguyên tắc, Carter không chấp nhận các chiến lược tấn công ngăn chận trước, đặc biệt là vì chúng dính dáng đến việc điều quân qua các biên giới có chủ quyền.  Đồng thời, ông lại nghiêm túc, kể cả khi ông đã không hoàn toàn chia sẻ, theo quan điểm của Cố vấn An ninh quốc gia Zbigniew Brzezinski về ý nghĩa chiến lược của việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia, tương đồng với quan điểm của Đặng Tiểu Bình.  Carter giải quyết tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình bằng cách viện dẫn nguyên tắc nhưng cho phép một phạm vi điều chỉnh theo hoàn cảnh.  Việc không đồng tình yếu ớt lui vào bóng tối mơ hồ, chứng thực ngầm.  Ông kêu gọi sự chú ý đến vị thế đạo đức thuận lợi mà Bắc Kinh sẽ bị mất qua việc tấn công Việt Nam.  Trung Quốc, bây giờ được coi là một đất nước hòa bình, sẽ có nguy cơ bị cáo buộc là xâm lược:
Đây là một vấn đề nghiêm trọng. Không chỉ quý vị phải đối mặt với một mối đe dọa quân sự từ phía Bắc mà còn phải đối mặt với một sự thay đổi trong thái độ của quốc tế.  Trung Quốc hiện giờ được coi như một đất nước hòa bình chống lại việc xâm lược.  Các nước ASEAN, cũng như Liên Hiệp Quốc đã lên án Liên Xô, Việt Nam và Cuba.  Tôi không cần biết hành động trừng phạt này nhắm tới điều gì, nhưng nó có thể dẫn đến sự leo thang của bạo lực và sự thay đổi trong tư thế thế giới từ chống lại Việt Nam sang ủng hộ một phần cho Việt Nam.
Chúng tôi thấy gay go khi phải khuyến khích bạo lực.  Chúng tôi có thể cung cấp cho quý vị tóm tắt tin tình báo.  Chúng tôi biết là không có một cuộc chuyển quân nào gần đây của Liên Xô về phía biên giới của quý vị.
Tôi không có câu trả lời khác cho quý vị.  Chúng tôi đã tham gia vào việc lên án Việt Nam, nhưng việc xâm lược Việt Nam sẽ là một hành động gây bất ổn nghiêm trọng.
Từ chối chấp nhận bạo lực nhưng lại cung cấp thông tin tình báo về việc chuyển quân của Liên Xô đã cho ra một kích cỡ mới cho sự mâu thuẫn.  Điều này có thể có nghĩa là Carter không chia sẻ quan điểm của Đặng Tiểu Bình về một mối đe dọa đáng lưu ý của Liên Xô.  Hoặc, việc làm giảm đi những lo ngại của Trung Quốc về một phản ứng có thể có của Liên Xô cũng có thể được hiểu như là một khích lệ cho việc xâm lược.
Ngày hôm sau, Carter và Đặng Tiểu Bình gặp gỡ riêng, và Carter đưa cho Đặng Tiểu Bình một thư tay (chưa công bố) tóm tắt vị thế Mĩ.  Theo Brzezinski: "Tổng thống tự mình soạn thảo bằng tay một bức thư cho Đặng Tiểu Bình, ôn hoà về giọng điệu và tỉnh táo về nội dung, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kềm chế và tóm tắt các hậu quả quốc tế bất lợi có thể xảy ra.  Tôi cảm thấy rằng đây là cách tiếp cận đúng, vì chúng ta không thể thông đồng chính thức với Trung Quốc trong việc đỡ đầu cho những gì đồng nghĩa với việc xâm lược quân sự công khai.”  Thông đồng không chính thức lại là một vấn đề khác.
Theo bản ghi nhớ về cuộc hội đàm riêng (trong đó chỉ có mặt một người thông dịch), Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh rằng phân tích về chiến lược lấn lướt các viện dẫn của Carter về dư luận thế giới.  Trên hết, Trung Quốc không phải bị coi là mềm dẽo: "Trung Quốc còn phải dạy cho Việt Nam một bài học.  Liên Xô có thể sử dụng Cuba, Việt Nam, và sau đó Afghanistan sẽ phát triển thành một kẻ thừa hành [của Liên Xô].  CHNDTH đang tiếp cận vấn đề này từ một vị thế của sức mạnh.  Hành động sẽ rất hạn chế.  Nếu Việt Nam nghĩ rằng CHNDTH mềm yếu thì  tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn."
Đặng Tiểu Bình rời Hoa Kì vào ngày 04/2/1979.  Khi từ Hoa Kì về, ông đã hoàn thành việc đặt con cờ vi kì cuối cùng trên bàn cờ.  Ông đã dừng chân ở Tokyo lần thứ hai sau 6 tháng, để tự mình đảm bảo sự ủng hộ của Nhật Bản cho các hành động quân sự sắp xảy ra và để cô lập Liên Xô.  Theo Thủ tướng Masayoshi Ohira, Đặng Tiểu Bình đã khẳng định lại vị thế của Trung Quốc rằng Việt Nam phải bị "trừng phạt" vì xâm lược Campuchia, và ông ta cam kết: "Để nâng cao triển vọng lâu dài của hòa bình và ổn định quốc tế...  [nhân dân Trung Quốc] chắc chắn sẽ làm tròn nghĩa vụ quốc tế của chúng tôi, và sẽ không ngần ngại chịu những hi sinh cần thiết."
Sau khi thăm Miến Điện, Nepal, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Nhật Bản hai lần, và Hoa Kì, Đặng Tiểu Bình đã hoàn thành mục tiêu của mình là kéo Trung Quốc vào thế giới và cô lập Hà Nội.  Ông không bao giờ rời Trung Quốc một lần nào nữa, trong những năm cuối cùng chấp nhận sự xa cách và bất khả tiếp cận của các nhà cai trị Trung Quốc truyền thống.


Cuộc chiến tranh Việt Nam lần ba

Ngày 17 tháng 2, từ các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam ở miền nam Trung Quốc Trung Quốc tiến hành cuộc xâm lược đa chiều ở miền Bắc Việt Nam.  Quy mô lực lượng Trung Quốc phản ánh tầm quan trọng mà Trung Quốc gắn với hoạt động này, ước tính hơn 200 ngàn và có lẽ nhiều nhất là 400 ngàn quân Giải Phóng Nhân Dân  (PLA).  Một sử gia đã kết luận rằng lực lượng xâm lược, bao gồm “lực lượng bộ binh thường trực, lực lượng dân quân, và các đơn vị lực lượng hải quân và không quân…  tương tự như quy mô cuộc tấn công mà Trung Quốc đã tạo nên tác động để dấn vào cuộc chiến tranh Triều Tiên tháng 11/1950."  Các nguồn báo chí chính thức của Trung Quốc gọi đó là "Cuộc Phản công Tự vệ chống lại Việt Nam" hoặc "Cuộc Phản công Tự vệ trên biên giới Trung-Việt."  Cuộc chiến này tiêu biểu cho phiên bản Trung Quốc về sự răn đe, một cuộc xâm lược quảng bá trước để ngăn chặn động thái kế tiếp của Việt Nam.
Mục tiêu của quân đội Trung Quốc là một nước Cộng sản bạn bè, mới đây vẫn là đồng minh, và một nước nhận sự ủng hộ kinh tế và quân sự lâu năm của Trung Quốc.  Mục đích cuộc chiến là để bảo vệ sự cân bằng chiến lược ở châu Á, theo cách nhìn củaTrung Quốc.  Hơn nữa, Trung Quốc đã tiến hành chiến dịch này với sự ủng hộ về đạo đức, trợ lực về ngoại giao, và hợp tác tình báo của Mĩ –- cũng chính cái "thế lực đế quốc" mà Bắc Kinh đã tiếp tay đẩy ra khỏi Đông Dương 5 năm trước đó.
Theo Trung Quốc tuyên bố, mục đích của cuộc chiến là để "giới hạn những tham vọng ngông cuồng của Việt Nam và dạy cho họ một bài học thích hợp hạn chế."  "Thích hợp" có nghĩa là gây thiệt hại tới mức đủ để ảnh hưởng đến các lựa chọn và tính toán của Việt Nam cho tương lai, "hạn chế" ngụ ý rằng nó sẽ được kết thúc trước khi có sự can thiệp bên ngoài hoặc các yếu tố khác kéo nó ra khỏi tầm kiểm soát.  Cuộc chiến này cũng là một thách thức trực tiếp với Liên Xô.
Dự đoán của Đặng Tiểu Bình rằng Liên Xô sẽ không tấn công Trung Quốc đã được xác nhận..  Một ngày sau khi Trung Quốc phát động cuộc xâm lược, chính phủ Liên Xô đã đưa ra một tuyên bố lừng khừng, trong khi lên án cuộc tấn công "tội ác" của Trung Quốc lại nhấn mạnh rằng " lần này nhân dân Việt Nam anh hùng… có khả năng tự đứng lên một lần nữa."  Phản ứng quân sự của Liên Xô chỉ giới hạn ở việc phái một lực lượng đặc nhiệm hải quân đến biển Đông, việc thực hiện một chuyến không vận vũ khí giới hạn tới Hà Nội, và việc đẩy mạnh tuần tra trên không dọc theo biên giới Trung-Xô.  Việc không vận bị hạn chế không những bởi điều kiện địa lí mà còn bởi các do dự nội bộ.  Cuối cùng,  Liên Xô cũng đã trợ giúp nhiều cho đồng minh mới Việt Nam của mình trong năm 1979 như nó đã từng mở rộng với đồng minh lúc trước, Trung Quốc, hai mươi năm trước đó trong cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan.  Trong cả hai trường hợp Liên Xô đều không dám liều lĩnh làm cuộc chiến rộng lớn hơn.
Một thời gian ngắn sau chiến tranh, Hoa Quốc Phong tổng kết kết quả bằng một cụm từ ngắn gọn khinh bỉ đối với các nhà lãnh đạo Liên Xô: "Về việc đe dọa chúng ta, họ làm điều đó bằng cuộc tập trận gần biên giới, phái tàu chiến tới biển Hoa Nam (biển Đông).  Nhưng họ không dám hành động.  Như vậy, rốt cuộc chúng ta vẫn có thể sờ mông cọp."
Đặng Tiểu Bình đã bác bỏ một cách châm biếm lời khuyên phải cẩn thận của Mĩ.  Trong chuyến thăm Bắc Kinh của Bộ trưởng Tài chính Michael Blumenthal cuối năm 1979, Blumenthal kêu gọi quân đội Trung Quốc rút khỏi Việt Nam "càng nhanh càng tốt" bởi vì Bắc Kinh "liều lĩnh không có cơ sở."  Đặng Tiểu Bình ậm ờ.  Phát biểu với các phóng viên Mĩ ngay trước cuộc họp của ông với Blumenthal, Đặng Tiểu Bình đã thể hiện thái độ khinh thị của mình về thái độ lập lờ bằng việc chế nhạo "một số người" họ “sợ không dám động" đến "Cuba của phương Đông."
Giống như trong cuộc chiến tranh Trung-Ấn, Trung Quốc thực hiện một cuộc tấn công "trừng phạt" hạn chế rồi lập tức rút lui.  Cuộc chiến kết thúc sau 29 ngày.  Ngay sau khi quân PLA Trung Quốc chiếm được (và tàn phá - theo như tường thuật) các thủ phủ của ba tỉnh Việt Nam dọc theo biên giới, Bắc Kinh tuyên bố rằng các lực lượng Trung Quốc sẽ rút khỏi Việt Nam, giữ lại nhiều mãnh lãnh thổ đang có tranh chấp.  Bắc Kinh không tiến hành nỗ lực nào để lật đổ chính quyền Hà Nội hoặc vào Campuchia với bất kì khả năng công khai nào.
Một tháng sau khi quân đội Trung Quốc rút lui, Đặng Tiểu Bình giải thích chiến lược của Trung Quốc với tôi trong một chuyến viếng thăm Bắc Kinh:
Đặng Tiểu Bình: Sau khi tôi [từ Hoa Kì] trở về, chúng tôi lập tức đánh ngay.  Nhưng chúng tôi đã hỏi ý kiến của quý vị trước.  Tôi đã nói chuyện đó với Tổng thống Carter và sau đó ông trả lời một cách rất chính thức và long trọng.  Ông đã đọc cho tôi nghe một văn bản.  Tôi nói với ông: Trung Quốc sẽ xử lí vấn đề này một cách độc lập và nếu có bất kì rủi ro nào, Trung Quốc sẽ nhận lấy rủi ro đó một mình.  Nhìn trở lại, chúng tôi nghĩ rằng nếu trong hành động trừng phạt chúng tôi lấn sâu hơn vào Việt Nam thì sẽ tốt hơn.
Kissinger: Có thể như vậy.
Đặng Tiểu Bình: Bởi vì lực lượng của chúng tôi đủ sức để kéo thẳng tới Hà Nội.  Nhưng có lẽ không nên đi quá xa như thế.
Kissinger: Không nên, nó có thể đã vượt quá các giới hạn của tính toán.
Đặng Tiểu Bình: Vâng, Ông nói đúng. Nhưng chúng tôi đã có thể thọc sâu vào Việt Nam hơn 30 km.  Chúng tôi đã chiếm đóng tất cả các vị trí phòng thủ xung yếu.  Không còn một tuyến phòng thủ nào thẳng tới Hà Nội.
Trí tuệ thông thường trong các nhà sử học cho rằng cuộc chiến này là một thất bại đắt giá của Trung Quốc.  Các tác động của việc chính trị hoá quân đội Trung Quốc trong cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc trở nên rõ ràng trong chiến dịch này: thiết bị lạc hậu, hậu cần có vấn đề, thiếu hụt nhân sự, và linh hoạt chiến thuật, lực lượng của Trung Quốc tiến chậm và phải trả giá cao.  Theo các ước tính của một số nhà phân tích, PLA đã phải gánh chịu số người thiệt mạng khi đánh nhau trong một tháng của cuộc chiến tranh Việt Nam lần ba nhiều bằng con số tổn thất mà Hoa Kì phải gánh chịu trong những năm trả giá đắt nhất của cuộc chiến thứ hai.
Tuy nhiên, sự khôn ngoan thông thường dựa trên một sự ngộ nhận về chiến lược của Trung Quốc.  Dù những thiếu sót trong thực hiện của nó là gì, chiến dịch của Trung Quốc phản ánh một phân tích chiến lược dài hạn nghiêm túc.  Theo các giải thích của các lãnh đạo Trung Quốc cho các đồng nhiệm Mĩ, họ mô tả việc củng cố sức mạnh của Việt Nam do Liên Xô trợ lực ở Đông Dương như là một bước chủ yếu trong “việc triển khai chiến lược” toàn cầu của Liên Xô.  Liên Xô đã tập trung quân đội ở Đông Âu và dọc theo biên giới phía bắc của Trung Quốc.  Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảnh báo rằng bây giờ Moscow đang “bắt đầu có được cơ sở" ở Đông Dương, Châu Phi, và Trung Đông.  Nếu họ củng cố được vị trí của mình trong các khu vực này, họ sẽ kiểm soát các nguồn năng lượng quan trọng và có thể ngăn chặn các tuyến đường biển chủ chốt – nhất là eo biển Malacca nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.  Điều này sẽ cho Moscow thế chủ động chiến lược trong bất kì cuộc xung đột nào trong tương lai.  Theo một ý nghĩa rộng hơn, cuộc chiến này là kết quả của sự phân tích của Bắc Kinh về khái niệm thế (勢 shì) của Tôn Tử - xu thế và "thế năng" (năng lượng tiềm ẩn) của toàn cảnh chiến lược.  Đặng Tiểu Bình nhằm tới việc kéo dừng và, nếu có thể, xoay ngược lại những gì ông ta thấy như một động lực không thể chấp nhận được trong chiến lược của Liên Xô.
Trung Quốc đã đạt được mục tiêu này một phần do sự táo bạo về quân sự của họ, một phần qua việc lôi kéo Hoa Kì vào một sự hợp tác chặt chẽ chưa từng có trước đây. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã lèo lái cuộc chiến tranh Việt Nam lần ba qua việc phân tích tỉ mỉ các lựa chọn chiến lược, thực hiện táo bạo, và ngoại giao khéo léo.  Với tất cả những phẩm chất này, họ vẫn chưa thể "sờ mông cọp" nếu không có sự hợp tác của Hoa Kì.


Chiến tranh Việt Nam lần ba mở ra sự hợp tác chặt chẽ nhất giữa Trung Quốc và Hoa Kì trong giai đoạn của Chiến tranh Lạnh.  Hai chuyến đi Trung Quốc của các sứ giả Mĩ đã lập được hành động phối hợp ở một mức độ tuyệt vời.  Phó Tổng thống Walter "Fritz" Mondale  thăm Trung Quốc trong tháng 8 năm 1979 để hoạch định một đường hướng ngoại giao tiếp sau chuyến thăm của Đặng Tiểu Bình, đặc biệt là đối với Đông Dương.  Đó là một vấn đề phức tạp, trong đó các cân nhắc về chiến lược và đạo đức xung đột nghiêm trọng.  Hoa Kì và Trung Quốc đồng ý rằng ngăn chặn sự xuất hiện của một Liên bang Đông Dương dưới sự kiểm soát của Hà Nội là lợi ích quốc gia của mỗi nước.  Tuy nhiên, phần duy nhất của Đông Dương vẫn còn tranh cãi là Campuchia, đang dưới sự cai trị của bọn Pol Pot bỉ ổi, bọn đã sát hại hàng triệu đồng bào của mình.  Khmer Đỏ la thành tố có tổ chức tốt nhất trong cuộc kháng chiến chống Việt Nam của Campuchia.


Carter và Mondale đã lập kỉ lục dài và tận tuỵ về sự hết lòng đối với vấn đề nhân quyền trong chính phủ, thực ra trong chiến dịch tranh cử tổng thống của mình, họ đã tấn công Ford trên cơ sở chú ý chưa đủ về vấn đề nhân quyền.


Đặng Tiểu Bình đã nêu lên đầu tiên vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến du kích của Campuchia chống lại những kẻ xâm lược Việt Nam trong cuộc trò chuyện riêng với Carter về cuộc xâm lược của Việt Nam.  Theo báo cáo chính thức: "Tổng thống hỏi liệu người Thái có thể nhận và chuyển tiếp đến người Campuchia hay không.  Đặng Tiểu Bình trả lời có và nói rằng ông nghĩ tới các vũ khí nhẹ.  Hiện giờ người Thái đang phái một sĩ quan cao cấp tới biên giới Thái Lan-Campuchia để giữ thông tin liên lạc an toàn hơn."  Hợp tác trên thực tế giữa Washington và Bắc Kinh trong việc viện trợ cho Campuchia qua ngã Thái Lan đã có tác dụng thực tế là gián tiếp trợ giúp tàn dư của bọn Khmer Đỏ.  Các quan chức Mĩ đã cẩn thận nhấn mạnh với Bắc Kinh rằng Hoa Kì "không thể ủng hộ Pol Pot" và hoan nghênh sự đảm bảo của Trung Quốc rằng Pol Pot không còn thực hành việc toàn quyền kiểm soát đối với Khmer Đỏ.  Việc xoa dịu lương tâm này không làm thay đổi thực tế rằng Washington đã dành sự trợ giúp vật chất và ngoại giao cho "kháng chiến Campuchia" theo một cách mà chính quyền phải biết là sẽ làm lợi cho bọn Khmer Đỏ.  Những người kế nhiệm Carter trong chính quyền Ronald Reagan theo cùng một chiến lược.  Các nhà lãnh đạo Mĩ trông đợi một cách không nghi ngờ rằng nếu cuộc kháng chiến Campuchia thắng thế, chính họ hoặc những người kế nhiệm họ sẽ phản đối thành viên Khmer Đỏ ngay sau đó – đó là điều đã xảy ra trên thực tế khi Việt Nam rút quân hơn một thập kỉ sau này.


Lý tưởng của Mĩ đã gặp phải những đòi hỏi của thực tế địa chính trị.  Không phải sự hoài nghi, thậm chí ít đạo đức giả, đã đúc nên thái độ này:  Chính quyền Carter đã phải lựa chọn giữa sự cần thiết về chiến lược và niềm tin đạo đức.  Họ quyết định rằng để cho những xác tín đạo đức của họ được thực hiện thì một cách tối hậu trước hết họ cần thắng thế trong cuộc đấu tranh địa chính trị.  Các nhà lãnh đạo Mĩ phải đối mặt với nan đề trong nghệ thuật quản lí nhà nước.  Các nhà lãnh đạo không thể chọn những phương án mà lịch sử đưa ra cho họ ngay cả khi chúng khá rõ ràng.


Chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Harold Brown đã đánh dấu một bước xa hơn đối với hợp tác Trung-Mĩ, một điều không thể tưởng tượng được chỉ một vài năm trước đó.  Đặng Tiểu Bình hoan nghênh ông: “Việc ông đến đây tự nó có một ý nghĩa to lớn”, ông lưu ý Brown, “bởi vì ông là Bộ trưởng Quốc phòng."  Một vài cựu nhân viên trong chính quyền Ford hiểu hàm ý này của Trung Quốc trong lời mời Bộ trưởng Schlesinger, lời mời này bị hủy khi Ford giải nhiệm ông ta.


Chương trình nghị sự chính là để xác định mối quan hệ quân sự của Hoa Kì với Trung Quốc.  Chính quyền Carter đã đi đến kết luận rằng sự gia tăng về năng lực công nghệ và quân sự của Trung Quốc là quan trọng đối với cân bằng toàn cầu và an ninh quốc gia Mĩ. Bộ trưởng Brown giải thích rằng Washington đã "rút ra một sự phân biệt giữa Liên Xô và Trung Quốc", và sẵn sàng chuyển giao một công nghệ quân sự nào đó cho Trung Quốc mà họ sẽ không làm lộ cho Liên Xô.  Hơn nữa, Hoa Kì cũng sẵn sàng bán "thiết bị quân sự" cho Trung Quốc (như các công cụ giám sát và các loại xe), tuy nhiên không phải là "vũ khí."  Hơn nữa, Hoa Kì sẽ không can thiệp vào quyết định của các đồng minh NATO trong việc bán vũ khí cho Trung Quốc.  Như Tổng thống Carter đã giải thích trong chỉ thị của ông cho Brzezinski:


Hoa Kì không phản đối thái độ sắp tới mà các đồng minh của chúng tôi đang thông qua trong việc giao thương với Trung Quốc trong các lĩnh vực công nghệ nhạy cảm.  Chúng tôi quan tâm đến một Trung Quốc hùng mạnh và an toàn − và chúng tôi thừa nhận và tôn trọng mối quan tâm này.


Cuối cùng, Trung Quốc đã không thể cứu vớt Khmer Đỏ hoặc buộc Hà Nội rút quân khỏi Campuchia trong một thập kỉ, có lẽ nhận ra điều này nên Bắc Kinh đã đóng khung các mục tiêu của cuộc chiến tranh của mình theo những điều kiện hạn chế nhiều hơn nữa.  Tuy nhiên, Bắc Kinh đã áp đặt cái giá phải trả nặng nề cho Việt Nam.  Ngoại giao Trung Quốc ở Đông Nam Á trước, trong và sau cuộc chiến đã thực hiện với quyết tâm và kĩ năng lớn lao để cô lập Hà Nội.  Trung Quốc duy trì một sự hiện diện quân sự to lớn dọc theo biên giới, giữ lại nhiều phần lãnh thổ đang có tranh chấp, và tiếp tục đưa ra đe dọa về một "bài học thứ hai" cho Hà Nội.  Trong nhiều năm sau đó, Việt Nam đã buộc phải giữ một lực lượng đáng kể trên biên giới phía Bắc để phòng chống lại một cuộc tấn công có thể xảy ra khác của Trung Quốc.  Như Đặng Tiểu Bình đã nói với Mondale vào tháng 8 năm 1979:


Đối với một đất nước lớn ngần ấy mà phải giữ một lực lượng thường trực với hơn một triệu quân, Ông sẽ tìm ở đâu cho ra đủ lực lượng lao động?  Một lực lượng thường trực với hơn một triệu quân cần rất nhiều cung ứng về hậu cần.  Bây giờ họ phụ thuộc vào Liên Xô.  Một số ước tính nói rằng họ đang nhận của Liên Xô 2 triệu USD mỗi ngày, một số ước tính khác nói 2 ½ triệu… điều này sẽ làm tăng các khó khăn, và gánh nặng này trên vai Liên Xô sẽ ngày càng nặng hơn.  Mọi thứ sẽ trở nên khó khăn hơn.  Tới lúc Việt Nam sẽ nhận ra rằng không phải mọi yêu cầu của họ với Liên Xô đều có thể được đáp ứng.  Với những điều kiện đó có thể là một tình hình mới sẽ xuất hiện.


Tình hình đó đã xuất hiện trên thực tế, xảy ra hơn một thập kỉ sau đó khi Liên Xô sụp đổ và sự trợ giúp tài chính của Liên Xô cũng đổ theo đem đến sự cắt giảm trong việc triển khai của Việt Nam ở Campuchia.  Cuối cùng trong một khoảng thời gian khó khăn hơn cho các xã hội dân chủ chống đỡ, Trung Quốc đã đạt được một phần đáng kể các mục tiêu chiến lược của mình ở Đông Nam Á.  Đặng Tiểu Bình đã giành lấy được chỗ thao diễn đủ đáp ứng mục tiêu ngăn trở sự thống trị của Liên Xô ở khu vực Đông Nam Á và eo biển Malacca.


Chính quyền Carter thực hiện một hành động đi dây qua việc duy trì một lựa chọn đối với Liên Xô thông qua các cuộc đàm phán về hạn chế vũ khí chiến lược trong khi lại đặt cơ sở cho chính sách châu Á của mình trên việc thừa nhận rằng Moscow vẫn là kẻ thù chiến lược chủ yếu.


Kẻ thua tột cùng trong cuộc xung đột này là Liên Xô mà những tham vọng toàn cầu của họ đã gây ra báo động trên toàn thế giới.  Một đồng minh của Liên Xô đã bị tấn công bởi đối thủ to giọng nhất và thể hiện quan điểm chiến lược rõ ràng nhất với Liên Xô, đối thủ này công khai kích động cho một liên minh ngăn chặn chống lại Moscow – tất cả những điều này chỉ trong vòng một tháng sau việc kí kết liên minh Xô-Việt.  Nhìn trở lại, sự thụ động tương đối của Moscow trong chiến tranh Việt Nam lần ba có thể được xem như là triệu chứng đầu tiên của sự đi xuống của Liên Xô.  Người ta tự hỏi liệu quyết định của Liên Xô can thiệp vào Afghanistan một năm sau đó có phải phần nào là do bị thúc dục bởi một cố gắng để bù đắp cho sự bất lực của họ trong việc trợ giúp Việt Nam chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc hay không.  Trong cả hai trường hợp, tính toán sai lầm của Liên Xô trong cả hai tình huống là không nhận ra mức độ tương quan lực lượng toàn cầu đã dịch chuyển về phía chống lại họ.  Do đó, chiến tranh Việt Nam lần ba có thể được kể như là một ví dụ khác, trong đó các chính khách Trung Quốc đã thành công trong việc đạt được các mục tiêu chiến lược dài hạn, tổng thể lớn nhưng không đạt được một lợi ích nào cho cơ sở quân sự so với lợi ích của các kẻ thù của họ.  Mặc dù việc hà hơi tiếp sức cho tàn dư của bọn Khmer Đỏ khó có thể được kể như là một chiến thắng đạo đức nhưng Trung Quốc đã đạt được các mục đích địa chính trị của họ lớn hơn so với Liên Xô và Việt Nam – cả hai đều có quân đội được huấn luyện và được trang bị tốt hơn Trung Quốc.


Tính trầm tĩnh khi đối mặt với các lực lượng vật chất ưu thế hơn đã ăn sâu trong tư duy chiến lược Trung Quốc – như hiển hiện từ các điều tương đồng với quyết định của Trung Quốc can thiệp vào cuộc chiến tranh Triều Tiên.  Cả hai quyết định của Trung Quốc đều trực tiếp chống lại điều mà Bắc Kinh nhận thức như là một mối nguy hiểm đang tập trung – một sự củng cố cơ sở của một thế lực thù địch tại nhiều điểm dọc theo biên giới Trung Quốc.  Trong cả hai trường hợp, Bắc Kinh tin rằng nếu thế lực thù địch được để cho hoàn thành ý đồ của nó, Trung Quốc sẽ bị bao vây và do đó vẫn nằm trong tình trạng thường xuyên dễ bị tổn thương.  Kẻ thù sẽ được ở một vị thế để phát động một cuộc chiến tranh vào một thời điểm tự chọn, và hiểu biết về lợi thế này sẽ cho phép nó hành động "không chút lưỡng lự", như Hoa Quốc Phong đã nói với Tổng thống Carter khi họ gặp nhau ở Tokyo.  Vì vậy, một vấn đề có vẻ là khu vực – trong trường hợp đầu tiên Mĩ đẩy lui Bắc Triều Tiên, trong trường hợp thứ hai Việt Nam chiếm đóng Campuchia – được coi là "tiêu điểm của các cuộc đấu tranh trên thế giới" (như Chu Ân Lai mô tả Hàn Quốc).


Cả hai cuộc can thiệp đặt Trung Quốc vào vị thế chống lại thế lực mạnh hơn đe dọa nhận thức an toàn của họ; tuy nhiên mỗi cuộc can thiệp đã thực hiện trên địa hình và tại một thời điểm theo lựa chọn của Bắc Kinh.  Như Phó Thủ tướng Cảnh Biểu (Geng Biao) nói với Brzezinsk sau đó: "Sự trợ giúp của Liên Xô cho Việt Nam là một thành phần trong chiến lược toàn cầu của họ.  Họ không những điều khiển ở Thái Lan mà còn ở Malaysia, Singapore, Indonesia, và eo biển Malacca.  Nếu họ thành công thì đó sẽ là một đòn chí tử đối với ASEAN và cũng sẽ ngăn chận các tuyến giao thông của Nhật Bản và Hoa Kì.  Chúng tôi quyết làm một cái gì đó về điều này.  Chúng tôi có thể chưa đủ khả năng để đối phó với Liên Xô, nhưng chúng tôi thừa khả năng để đối phó với Việt Nam."


Hai cuộc can thiệp đó không phải là những công việc tao nhã: Trung Quốc đã tung quân vào các trận chiến vô cùng tốn kém và gánh chịu thương vong với một số lượng khó thể chấp nhận được đối với thế giới phương Tây.  Trong Chiến tranh Trung-Việt, quân đội Trung Quốc dường như đã theo đuổi nhiệm vụ của mình với nhiều thiếu sót, làm tăng đáng kể mức đô thiệt hại của Trung Quốc.  Tuy nhiên, cả hai cuộc can thiệp đã đạt được các mục tiêu chiến lược đáng chú ý.  Tại hai thời điểm then chốt trong cuộc Chiến tranh Lạnh, Bắc Kinh đã áp dụng thành công học thuyết tấn công chặn trước.  Tại Việt Nam, Trung Quốc đã thành công trong việc phơi bày các giới hạn trong cam kết phòng thủ của Liên Xô với Hà Nội, và quan trọng hơn, là các giới hạn của tầm với chiến lược tổng thể của nước này.  Trung Quốc đã sẵn sàng chấp nhận nguy cơ chiến tranh với Liên Xô để chứng minh rằng họ không muốn bị đe dọa bởi sự có mặt của Liên Xô ở mạn sườn phía nam của mình.


Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã tổng hợp lại kết quả cuối cùng của cuộc chiến tranh: "báo chí phương Tây đã viết hành động trừng phạt Trung Quốc như một thất bại.  Tôi tin rằng nó đã làm thay đổi lịch sử khu vực Đông Á."

______________________________
Bài liên quan: TQ lập kế hoạch và chuẩn bị đánh VN năm 1979 như thế nào?