Showing posts with label đảo nhân tạo. Show all posts
Showing posts with label đảo nhân tạo. Show all posts

Monday, October 3, 2016

CÁC ĐẢO NHÂN TẠO TRUNG QUỐC LỚN HƠN (VÀ LÀ VẤN ĐỀ LỚN HƠN) LÀ BẠN NGHĨ

CÁC ĐẢO NHÂN TẠO TRUNG QUỐC LỚN HƠN (VÀ LÀ VẤN ĐỀ LỚN HƠN) LÀ BẠN NGHĨ

THOMAS SHUGART
War On the Rocks (21/09/2016)


Chắc hẵn bạn đã nghe tin tức - Trung Quốc đã nạo vét các rạn san hô và tạo ra các đảo nhân tạo ở biển Đông với mục đích thực thi yêu sách đối với "chủ quyền không thể tranh cãi" theo "đường 9 vạch” của họ, và đã ngang ngược tiếp tục làm như vậy khi đối mặt với việc kết án của Tòa Trọng tài Thường trực ở The Hague. Trong khi các phản ứng của Hoa Kì và các quốc gia khác đối với chiến dịch xây dựng đảocủa Trung Quốc khá ồn ào, một số nhà phân tích và các chuyên gia của Hoa Kì phần lớn coi nhẹ hậu quả tiềm ẩn những đảo mới này lên cán cân quyền lực trong khu vực. Một nghiên cứu RAND gần đây đã nêu:

[C]ác cơ sở này có thể chứa năm, bảy tên lửa SAM và máy bay chiến đấu ... [nhưng] chúng không phải là một yếu tố quan trọng trong các hoạt động quân sự cường độ cao chống lại các lực lượng của Hoa Kì sau vài giờ đầu tiên của một cuộc xung đột.

Nhà phân tích khác đã tuyên bố rằng khả năng những căn cứ mới có thể làm thay đổi cán cân quyền lực chỉ là huyền thoại, nêu rằng, "Trong thời đại công kích chính xác, mỗi một và hầu như mọi mục tiêu cố định đều có thể bị phá hủy một cách dễ dàng." Nhưng sự kết hợp tiềm năng các năng lực chống tàu và phòng không hàng đầu của Trung Quốc - cùng với quy mô đơn thuần đến choáng của việc xây đắp đảo của Trung Quốc – đòi hỏi phải xem xét nghiêm túc tác động tiềm ẩn của các đảo giả này lên chính sách ngoại giao và kế hoạch dự phòng của Mĩ, cũng như sự cần thiết phải thực hiện tất cả các biện pháp có thể có để ngăn chặn việc quân sự hoá toàn bộ của họ.

Làm thành chuyện lớn ở quần đảo Trường Sa: các sân bay mới Trung Quốc chỉ ra quyết tâm lớn về lực lượng

Trong khi chính phủ Trung Quốc liên tục tuyên bố rằng các dự án bồi tạo đất của họ là nhằm cho các mục đích phi quân sự, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cam đoan rằng Trung Quốc không có ý định quân sự hóa chúng, hình ảnh gần đây cho thấy việc xây dựng quy mô lớn các sân bay và các cơ sở căn cứ. Việc xây dựng căn cứ đáng kể nhất tập trung vào cái mà tôi gọi là "ba lớn": Chữ Thập (Fiery Cross), Xu Bi (Subi), và Vành Khăn (Mischief). Cả ba trong số những đảo mới này sẽ có đường băng khoảng 10 000 feet, cảng nước sâu, và có đủ nhà chứa máy bay được gia cố cho 24 máy bay chiến đấu cũng như máy bay ném bom, chở dầu, và máy bay cảnh báo sớm trên không. Cũng có ý nghĩa là các cơ sở phục vụ sân bay khác mà Trung Quốc dường như đang xây dựng. Như một ví dụ, so sánh sơ qua kích thước của khu vực sân bay Chữ Thập với kích thước của một căn cứ máy bay chiến đấu Trung Quốc ở đại lục (Căn cứ không quân Toại Khê [Suixi], xem hình 1) cho thấy rằng cơ sở này có lẽ được xây dựng để phục vụ một đơn vị cỡ một trung đoàn máy bay chiến đấu Trung Quốc (chú ý, Trung Quốc đang trong quá trình chuyển đổi các đơn vị không quân của họ thành kiểu các lữ đoàn đa máy bay, nhưng phân tích về quy mô này tạm dừng ở đây). Người ta có thể nhìn thấy trên cả ba đảo lớn này sự hiện diện của các đường chạy 400 mét cùng với các sân tennis và bóng rổ, cũng như nhiều toà nhà có thể sẽ là doanh trại, trụ sở, nhà xưởng, nhà kho. Trung Quốc thậm chí còn thảo luận công khai kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân di động để cung cấp điện cho các đảo. Với hơn 24 nhà chứa máy bay được xây dựng trên mỗi căn cứ của "ba lớn", điều này sẽ cho phép toàn bộ các máy bay chiến đấu của một trung đoàn Trung Quốc điển hình được duy trì trên mỗi đảo. Những thứ này dường như không có mục đích dùng làm các sân bay nhỏ cho máy bay thỉnh thoảng đến thăm. Chúng trông giống như các căn cứ máy bay chiến đấu lớn về cấu tạo.
 scs-islands-fig-1
Hình 1: Đá Chữ Thập (trên) so với Căn cứ không quân Toại Khê (dưới) - nơi có một trung đoàn máy bay chiến đấu PLAAF Flanker. (cùng tỉ lệ).

Người ta có thể nghĩ rằng chắc chắn Trung Quốc không có kế hoạch cho máy bay đóng trên các đảo này với ý định sử dụng chúng để chống lại sự can thiệp của Hoa Kì. Xét cho cùng "một phi đội Su-27 bay khỏi ‘căn cứ’ Chữ Thập có nhiều khả năng sẽ thành sắt vụn bốc khói trong vòng vài giờ sau khi nổ ra một cuộc xung đột ở biển Đông." Nhưng nếu đó không phải là mục đích thì tại sao lại xây dựng tới ba? Ngay cả trước khi xây dựng các đảo này, Trung Quốc có thể dễ dàng áp đảo các đối thủ trong khu vực với các nhóm tàu hải quân hành động trên mặt biển, một tàu sân bay và máy bay trú đóng trên đất liền. Nếu như Trung Quốc chỉ xây một căn cứ đảo với hàng chục máy bay thì họ vẫn sẽ có được sự vượt trội còn lớn hơn so với các đối thủ địa phương. Nhưng thay vì vậy, Trung Quốc xây dựng ba đảo, mỗi đảo với các cơ sở có vẻ đủ lớn để chứa một trung đoàn máy bay chiến đấu (hoặc lữ đoàn) và máy bay yểm trợ. Đặt điều đó vào bối cảnh, ba trung đoàn không quân như vậy trên ba đảo này cộng lại sẽ tạo thành một sư đoàn máy bay chiến đấu, một đội hình bao gồm khoảng 17 000 nhân viên, một nổ lực cho thấy rằng Trung Quốc có lẽ có một kẻ thù lớn hơn trong đầu.

Che dấu: Triển khai các hệ thống A2 / AD của Trung Quốc có thể xảy ra qua đêm.

Nếu Trung Quốc xây dựng "ba lớn" để có thể ngăn chặn hoặc chống lại sự can thiệp khu vực của Mĩ thì kế hoạch của họ có thể sẽ bao gồm việc triển khai hệ thống của các hệ thống chống truy cập / từ chối khu vực (A2 / AD) "phản can thiệp" (thuật ngữ của Trung Quốc) vốn đã gây nhiều quan ngại tại Hoa Kì. Với việc triển khai gần đây các tên lửa HQ-9 mặt-đối-không (SAM, xem hình 2), tên lửa hành trình chống tàu (ASCM) YJ-62máy bay chiến đấu J-11 ở đảo Phú Lâm (tiền đồn của Trung Quốc trong quần đảo Hoàng Sa), có thể dự đoán họ cũng sẽ có những triển khai như thế ở "ba lớn", có lẽ có thêm các tên lửa đạn đạo công kích chính xác mặt-đối-mặt (SSM) và tên lửa hành trình tấn công đất (LACM) của lực lượng tên lửa của PLA (trước đây được gọi là Quân đoàn pháo binh 2). Nhìn vào các vòng cung phạm vi tác dụng tạo thành (xem hình 3) cho thấy, trong một cú đánh, Trung Quốc sẽ có một chiếc ô SAM lồng vào nhau và hỗ trợ lẫn nhau trên hầu hết quần đảo Trường Sa, cũng như phủ ASCM trên phần trung tâm của biển Đông. Ngoài ra, nơi quân đội Mĩ trước đây có thể hoạt động bên ngoài các sân bay đơn sơ miền nam Philippines nằm ngoài tầm tên lửa đạn đạo thông thường hoặc tên lửa hành trình phóng từ mặt đất, Trung Quốc bây giờ sẽ có khả năng tấn công với các tên lửa đạn đạo tấn công đất DF-21C hoặc tên lửa hành trình CJ -10, các cơ sở và các sân bay của Mĩ và đồng minh trên khắp Philippines và thậm chí đến Singapore.
 scs-islands-fig-2
Hình 2: Pháo SAM HQ-9 triển khai ở đảo Phú Lâm. Lưu ý các vùng đất và cấu trúc mới được xây dựng mở rộng ở phần đông bắc của đảo.

scs-islands-fig-3
Hình 3: Vòng cung tầm bắn miêu tả vùng bao phủ tiềm năng của tên lửa SAM HQ-9, ASCM YJ-62, và tên lửa đạn đạo DF-21 từ các căn cứ đảo lớn của Trung Quốc trên biển Đông .

Khu vực biển Sulu và Celebes vốn sẽ là nơi ẩn náu các tàu sân bay của Hoa Kì , nằm ngoài tầm của tên lửa đạn đạo (ASBM) chống tàu DF-21D, bây giờ có thể nằm trong tầm của ASBM phóng từ căn cứ đảo. Sự phát triển này sẽ tiếp tục thách thức khả năng các tàu sân bay của Hoa Kì và cánh không quân của họ hoạt động trong phạm vi tấn công không tiếp thêm nhiên liệu (khoảng 500 hải lí) với mức rủi ro vừa phải trong một chiến dịch ở quần đảo Trường Sa.

Hình ảnh đó sẽ trở nên tồi tệ hơn khi Trung Quốc xây dựng và quân sự hóa một căn cứ đảo tương tự tại bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc chiếm lấy từ Philippines năm 2012 và gần đây đã chứng kiến có hoạt động gia tăng. Tầm phủ A2 / AD của Trung Quốc lúc đó sẽ bao gồm gần như toàn bộ các khu vực yêu sách thuộc đường 9 vạch.

Một lưu ý cuối cùng, vì tất cả các A2 / AD hàng đầu của Trung Quốc cơ động trên đường, một triển khai lớn của chúng gần như có thể xảy ra qua đêm - cả "ba lớn " đều có bến cảng nước sâu có vẻ có thể đáp ứng việc vận chuyển hàng có gắn bánh xe, một lần duy nhất có khả năng có thể vận chuyển các nhân viên, xe tải và phương tiện vận chuyển cần thiết.

Một mục đích điên rồ? Căn cứ không quân trênđảo trong thời đại công kích chính xác

Trung Quốc có thể nghiêm túc kì vọng các căn cứ đảo này tồn tại được lâu khi đối mặt với sự can thiệp của Hoa Kì không? Hãy xét ba điều:

1.       Trung Quốc đang thực hiện một nổ lực nghiêm túc dưới dạng "ba lớn."
2.       Trung Quốc đã liên tục theo dõi quân đội Hoa Kì trong vài thập niên qua. Quân đội và các lãnh đạo của họ quen thuộc với khả năng của Hoa Kì.
3.       Những người lãnh đạo quân đội Trung Quốc không phải là những kẻ điên. Họ sẽ có biện pháp để bảo đảm các căn cứ của họ có cơ hội sống sót đủ lâu trong chiến đấu để thành vấn đề.
Về điểm thứ nhất ở trên, phải hiểu các đảo đó lớn cỡ nào và điều đó nói gì về quyết tâm của Trung Quốc. Khi đọc về chiến dịch bồi đắp của Trung Quốc, một điệp khúc điển hình là bao nhiêu ngàn acre đã được xây dựng. Nhưng hãy xét một vài so sánh: Chữ Thập khó xem là một đường băng nhỏ nằm trên một rạn san hô. Như đã trình bày ở trên, các cơ sở của nó có kích thước gần như một căn cứ máy bay chiến đấu trên đất liền điển hình và nó có một bến cảng khá lớn. Xu Bi lại lớn hơn gần 50 % về diện tích và bao bọc một bến cảng nước sâu rộng hơn hai dặm. So sánh hình ảnh của Xu Bi với Cảng Trân Châu (Pearl Harbor) (Hình 4) cho thấy đó là một kiến trúc rất lớn mà Trung Quốc đã tạo ra từ đầu.

scs-islands-fig-4
Hình 4: Xi Bi (phía trên bên trái), phần chính của căn cứ hải quân Cảng Trân Châu (dưới bên phải, cùng tỉ lệ).

Kế đó, hãy xét Vành Khăn. So với các đảo và các dự án bồi đắp đất của các bên tranh chấp khác trong khu vực, Vành Khăn vượt trội hơn rất nhiều. Toàn bộ các cơ sở lớn nhất của các bên yêu sách khác gộp lại đặt vừa vặn vào một nửa đầm phá lớn của Vành Khăn. Như một điểm so sánh, chu vi đất của Vành Khăn gần bằng chu vi của District of Columbia (thủ đô Mĩ). Trung Quốc rõ ràng đang đặt cược rất lớn vào các căn cứ đảo mới của họ.

scs-islands-fig-5
Hình 5: Vành Khăn với các sân bay của các bên tranh chấp khác trong quần đảo Trường Sa: Thị Tứ (Philippines), Trường Sa (Việt Nam), Hoa Lau (Malaysia) và Ba Bình (Đài Loan) (phía trên bên trái), District of Columbia (phía dưới bên phải , cùng tỉ lệ).

Giả sử chúng ta coi rằng Trung Quốc đã chú ý đến khả năng công kích chính xác của Mĩ (và họ đã thế), những hành động nào Trung Quốc có thể đang hoạch định để đảm bảo tính hiệu quả của các căn cứ đảo của mình trong một cuộc xung đột cường độ cao? Trước tiên, hãy xét một lần nữa rằng tất cả các hệ thống vũ khí chống can thiệp cao cấp thảo luận ở trên là các hệ thống di động. Nếu chúng đặt trên mỏm cát nhỏ thì sự việc đó không tác dụng gì nhiều, nhưng đặt trên các đảocó kích cỡ như Xu Bi hoặc Vành Khăn thì chúng sẽ không còn là các mục tiêu cố định kiên gan nằm một chỗ chờ để bị vũ khí tấn công tiêu diệt có hệ thống. Chu vi của Vành Khăn dài hơn tám dặm. Nếu bạn lái xe quanh nó ở tốc độ trên đường cao tốc sẽ phải mất gần 10 phút. Rất nhiều công trình kiến trúc sẽ lướt ngang qua cửa sổ xe bạn trong thời gian đó, tất cả thứ đó Trung Quốc có thể sử dụng để phân tán các hệ thống di động ra tới điểm mà kẻ tấn công không thể trông mong có thể chỉ việc phủ kín đảo bằng chất nổ cao (ít nhất là loại phi hạt nhân) hòng tiêu diệt chúng. (Cũng hãy tưởng tượng sự đau đầu khi nhắm mục tiêu có sự hiện diện của một nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động có thể thêm vào hỗn hợp.) Ngay cả khi máy bay Mĩ có thể hoạt động bên trên mà không bị thiệt hại khi đối mặt với hàng chục máy bay chiến đấu Trung Quốc và tên lửa SAM cao cấp thì thành công cũng không đảm bảo: Trong kinh nghiệm trước đây của Mĩ khi săn tìm tên lửa di động gần như không bị thách thức ưu thế trên không (chiến tranh vùng Vịnh năm 1991), "trong 42 lần ... khi các máy bay tiêm kích thấy được các bệ phóng di động TEL, chỉ trong 8 trường hợp là họ có thể có được các mục tiêu đủ tốt đưa ra lệnh bắn."

Thật ra, khả năng của hệ thống A2 / AD di động hòa nhập vào một hậu cảnh phức tạp đã khiến một số nhà phân tích đánh giá rằng chúng có thể giữ thế thượng phong so với các nền tảng tấn công chính xác trong một số trường hợp:

Xe tải có thể ẩn trong rừng hoặc giữa các tòa nhà ... với số lượng lớn các cấu trúc kiểu Quonset-hut (nhà mái kim loại cong dạng nửa hình trụ), mờ đục với radar, có thể làm chỗ ẩn giấu khi cần nhưng sẽ hầu như luôn trống không và do đó không hiệu quả để tấn công. Các mồi nhử dễ tìm và rẻ tiền khác ... một công ty tư nhân của Nga đã phát triển toàn bộ mồi bơm phồng pháo tên lửa phòng không S-300 ... Cuối cùng, các mục tiêu mặt đất có giá trị cao có thể tự bảo vệ mình với hệ thống bảo vệ trạm tầm ngắn, bao gồm súng radar điều khiển.

Và rốt lại, chúng ta có thể nhìn thấy cái gì đang được xây dựng trên các đảo lớn này ngay lúc này? Chúng ta thấy "các cấu trúc lục giác chưa rõ" có khả năng có thể là các tháp để gắn súng hoặc các tên lửa tầm ngắn. Chúng đang được xây làm đẹp mỗi góc của đảo (trường bắn?). Mỗi ô lục giác gần như cùng kích thước và hình dạng của các khẩu súng phòng không đặt ở tiền đồn nhỏ hơn của Trung Quốc tại Ga Ven. Điều này có thể chỉ ra rằng mỗi góc của các đảo lớn này cuối cùng sẽ được trang bị với hệ thống phòng thủ điểm gồm nhóm năm, sáu súng hoặc dàn phóng tên lửa tầm ngắn (xem hình 6). Sử dụng tên lửa tầm ngắn chống máy bay chống tên lửa hành trình bay đến bắt chước chiến thuật phòng thủ dùng để bắn hạ các kamikazes (máy bay thần phong Nhật) bay đến trong Thế chiến II. Về bản chất, mối đe dọa có thể tương đương: máy bay nhỏ chở đầy chất nổ bay vào từ hướng biển với tốc độ cận âm với một phi công quyết tâm cao.

scs-islands-fig-6
Hình 6: Hệ thống IAds với pháo phòng không tầm ngắn lai, được phát triển bởi NORINCO, một nhà cung cấp quốc phòng của Trung Quốc.

Cũng đáng để xem xét là các căn cứ đảo của Trung Quốc đang được xây dựng từ đầu trong thời đại công kích chính xác và do đó có thể có biện pháp đối phó thích hợp được "nấu nướng" từ đầu. Như ví dụ, các khuyến nghị gần đây của các nhà phân tích thuộc Trung tâm Chiến lược và Đánh giá ngân sách trong việc giảm mức độ thương tổn của các loạt  đạn khai hoả hướng dẫn chính xác bao gồm:

1.       Hoạt động từ "cụm" căn cứ "khiến kẻ địch phải làm loãng các cuộc công kích của họ lên trên nhiều mục tiêu hơn và ... tăng khả năng phòng thủ của chúng bằng cách tận dụng hệ thống phòng không và tên lửa hỗ trợ lẫn nhau nằm trong mỗi cụm." (Xem bao phủ chồng nhau như cho thấy ở trên.)
2.       Tăng khả năng phục hồi căn cứ bằng cách phân tán các cơ sở quan trọng và gia cố các mục tiêu giá trị cao tiềm năng, buộc các đối thủ sử dụng nhiều vũ khí thâm nhập hơn. (Xem các nhà chứa máy bay được gia cố bên trên cũng như những gì có thể là nhiều acre bồn nhiên liệu ngầm trãi rộng ra như cho thấy trong hình 7.)
3.       Chuyển hướng phòng không và tên lửa tầm ngắn đến tầm trung để tăng mật độ hệ thống phòng không và tên lửa và tạo ra sự trao đổi chi phí thuận lợi hơn. (Ví dụ, đổi đạn pháo phòng không điểm lấy TLAMs và JASSMs giá triệu đô la.)

scs-islands-fig-7
Hình 7: Các bồn nhiên liệu dưới lòng đất được gia cố đang xây dựng trên Xu Bi?

Không có Giải đáp dễ dàng

Với sức mạnh chiến đấu đủ mang ra thi thố, các căn cứ đảo mới của Trung Quốc sẽ dễ bị áp đảo. Loại vấn đề về A2 / AD này là một vấn đề đang được giải quyết thông qua những nỗ lực như khái niệm hoạt động truy cập phối hợp (JOAC), khái niệm cho Truy Cập và vận động phối hợp trong các khu biển chung toàn cầu (JAM-GC), và chiến lược bù đắp thứ ba. Câu hỏi đặt ra là đòi hỏi sẽ thêm bao nhiêu nỗ lực và rủi ro nữa một khi các đảo này đều vũ trang đầy đủ, và cần thời gian bao lâu để vô hiệu hoá chúng trong loạt khai hoả cốt yếu đầu tiên trong một cuộc xung đột cường độ cao? Không có vẻ rằng nỗ lực đó sẽ là tầm thường như nhiều người đã nghĩ.

Để đảm bảo Mĩ tiếp tục có năng lực đáp ứng đầy đủ theo các cam kết hiệp ước và duy trì các quy tắc luật biển trong biển Đông với cái giá chấp nhận được, cần có hành động. Đầu tiên, Mĩ cần phải làm rõ kì vọng của mình rằng Trung Quốc sẽ giữ lời hứa không tiến hành quân sự hoá quy mô lớn các tiền đồn ở biển Đông của họ, trong khi tiến hành tăng cường các hoạt động tự do đi lại để củng cố những tác động thực tế của phán quyết toàn diện của The Hague chống lại Trung Quốc. Có lẽ một số cuộc khảo sát độ sâu đáy bên trong đầm phá Xu Bi và Vành Khăn để xác định độ sâu sau nạo vét của họ - xét cho cùng, chúng là vùng biển quốc tế. Thứ hai, Hoa Kì phải đẩy mạnh việc thực hiện các khái niệm hoạt động và chiến lược tiếp cận thuận lợi phối hợp thảo luận ở trên cũng như phát triển các hệ thống vũ khí liên quan, và cho thấy đang làm như vậy. Cuối cùng, vì việc xây dựng "ba lớn " sắp hoàn thành, Hoa Kì cần phải quan sát cẩn thận để phát hiện bất kì dấu hiệu cho thấy một triển khai lực lượng A2 / AD lớn sắp diễn ra, và có cách phản ứng có kế hoạch vạch trước đầy đủ của toàn bộ chính phủ sẵn sàng để ngăn chặn nó. Lãnh đạo quân sự và chính trị của Hoa Kì cần xác định trong vài tháng tới chính xác họ sẵn sàng đi xa tới đâu để ngăn chặn việc vũ trang quy mô lớn các đảo. Đó sẽ chỉ là phản đối ngoại giao thôi hay Washington sẵn sàng thực hiện một cái gì đó giống như kiểu khủng hoảng tên lửa Cuba? Có khả năng có một loạt các lựa chọn trung gian mà có lẽ các nhà hoạch định chính sách chưa khám phá hết.

Một số nhà quan sát Trung Quốc nói rằng Trung Quốc chơi cờ vây (vi kì), trong khi Mĩ có xu hướng là người chơi poker – thách đối thủ mình đặt cược. Bằng nỗ lực vươn ra vị trí táo bạo mới ở biển Đông, mục tiêu của Trung Quốc có thể là tăng thêm tiền đặt cược lên tới điểm buộc Hoa Kì phải đối mặt với một lựa chọn khó khăn: đặt một đống chip trên bàn với nguy cơ tổn thất rất lớn hoặc xếp bài lại bỏ về nhà. Hoa Kì cần phải làm những gì cần làm bây giờ để đảm bảo rằng ván bài không đi tới điểm đó.



Thomas Shugart là nhà nghiên cứu quân sự cấp cao tại Trung tâm An ninh mới của Mĩ và là sĩ quan chiến tranh tàu ngầm của Hải quân Hoa Kì. Các ý kiến bày tỏ ở đây là của tác giả, không đại diện cho quan điểm chính thức của Hải quân Hoa Kì, Bộ Quốc phòng, hoặc chính phủ Hoa Kì.

Ảnh: Danny Yu, CC

Tuesday, November 3, 2015

Vì sao các hoạt động FON của Mĩ ở Biển Đông có lí?

Vì sao các hoạt động FON của Mĩ ở Biển Đông có lí?
Chương trình Tự do Hàng hải của Hải quân Mĩ là một biểu hiện quan trọng của luật pháp quốc tế.

Jonathan G. Odom
The Diplomat (31/10/2015)

(Bản dịch đã đăng trên anhbasam ngày 3/11/2015)

Chương trình Tự do Hàng hải (FON) của Mĩ gần đây đã thu hút được sự chú ý đáng kể tại Hoa Kì và cộng đồng quốc tế. Trong giai đoạn có sự chú ý tập trung này, một số nhà quan sát đã đặt câu hỏi về tính hợp pháp của các hoạt động FON (FONOP) của Mĩ. Tác giả trước đây đã vạch ra tính chính đáng và tính hợp pháp của Chương trình FON của Mĩ, gồm cả các FONOP được tiến hành như một phần của chương trình đó. Nhiều nhà quan sát khác cũng đã đặt câu hỏi về tính thích hợp và sự khôn khéo của các FONOP của Mĩ, đặc biệt là ở Biển Đông. Ví dụ điển hình là bài phê bình gần đây của tiến sĩ Sam Bateman của Australia, trong bài đó ông cáo buộc rằng các FONOP của Mĩ ở Biển Đông là "khó biện minh" (not make sense). Bài này tiếp theo sau một bài viết tương tự mà ông công bố vào tháng 6 năm 2015. Dù tiến sĩ Bateman nêu ra một số câu hỏi đúng về tình hình đang diễn ra ở Biển Đông, ông đã đưa ra nhiều giả định không chính xác đối với một số điểm về các FONOP của Mĩ và cũng phạm sai lầm đối với một số điều khác. Dưới đây là một nỗ lực chỉnh lại cho đúng những chỗ sai trái đó, dựa trên kinh nghiệm trước đây của tác giả với Chương trình FON của Mĩ ở các cấp độ hành động , vùng tác chiến, và chính sách của quân đội Mĩ.

Why US FON Operations in the South China Sea Make Sense
Tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường của Mỹ, USS Lassen, đang trên đường tới vùng biển Thái Bình Dương.
Nguồn ảnh: Hải quân Mỹ.

Đòi hỏi về minh bạch không bắt đầu với Mĩ

Trong phân tích của tiến sĩ Bateman về tình hình Biển Đông, có thể hiểu được việc ông xoáy sự chú ý vào đòi hỏi minh bạch nhưng không may ông xoáy sai hướng. Cụ thể, ông phàn nàn, "Không rõ Washington đang phản đối cái gì ở Biển Đông." Chắc chắn, sự thiếu rõ ràng là một thành phần trong vấn đề Biển Đông phức tạp này, và chúng tôi đã lập luận trước đó rằng sự minh bạch hơn có thể giúp cải thiện tình hình tổng thể ở Biển Đông. Tuy nhiên, sự cần thiết về minh bạch hơn không bắt đầu với Washington, mà với các bên có yêu sách - và đặc biệt là với Bắc Kinh.

Trung Quốc chưa bao giờ làm rõ ý nghĩa của đường chữ U. Đó là khẳng định chính thức của Hoa Kì, Singapore, Indonesia, và một số nước không yêu sách khác. Đó thậm chí còn là đánh giá của Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), chủ tịch Viện Nghiên cứu Nam Hải quốc gia Trung Quốc, ông có viết trong cuốn sách hồi năm 2013 rằng các cuộc tranh luận về đường chữ U của Trung Quốc "sẽ còn tiếp tục nếu Trung Quốc vẫn im lặng và tiếp tục mập mờ về yêu sách của mình." Mới gần đây và có lẽ quan trọng nhất, đó cũng là khẳng định của Tòa trọng tài trong vụ kiện Philippines-Trung Quốc, Toà đã nêu rằng việc "Trung Quốc không làm rõ ý nghĩa của đường chín đoạn" là một “thực tế”.

Lạ lùng là tiến sĩ Bateman lại có thể làm được một điều mà chính phủ nhiều nước, tòa án quốc tế, và các nhà quan sát lão luyện không thể làm được. Tháng 2 năm 2014, tiến sĩ Bateman chỉ trích điều trần trước Quốc hội Mĩ của Trợ lí Ngoại trưởng Daniel Russel qua việc nói rằng Russel đã cho thấy ông "thiếu kiến thức" về việc đường chữ U của Trung Quốc là gì. Cụ thể, tiến sĩ Bateman nói rằng đường chữ U là một "cách vẽ địa lí vắn tắt lỏng lẻo để nói rằng chúng tôi yêu sách chủ quyền các đảo và các thể địa lí, nó không thực sự chất vấn các nước khác vốn đã thiết lập vùng đặc quyền kinh tế bên trong đường chín vạch, hoặc thực sự có ranh giới biển với nước láng giềng." Dù điều này có thể là cái mà Tiến sĩ Bateman giả định nó muốn nói, không thấy có tuyên bố hoặc tài liệu chính thức nào do Trung Quốc đưa ra để hậu thuẫn cho giải thích của ông. Hơn nữa, thông lệ luật pháp quốc tế trong thiết lập yêu sách về lãnh thổ và biển không vận hành theo cách "vẽ địa lí vắn tắt lỏng lẻo".

Ngoài ra, Trung Quốc đã không làm rõ bản chất cụ thể của các thể địa lí mà họ yêu sách ở Biển Đông cũng như các khu vực biển mà Trung Quốc khẳng định rằng những thể địa lí đó được hưởng, có bao gồm những thể địa lí mà họ mới thực hiện việc tôn tạo [reclamation] (tức là bồi đắp mở rộng các khu đất được hình thành tự nhiên) và việc “đôn cao” [clamation] (tức là, xây dựng đảo nhân tạo trên các bãi triều thấp và các thể địa lí ngầm). Lúc này lúc khác, đại diện chính thức của Trung Quốc chỉ nói rằng Trung Quốc có "chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa [Trường Sa] và các vùng biển liền kề." Nhưng Trung Quốc chưa bao giờ nói rõ những thể địa lí nào ở Biển Đông là đảo được hưởng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), những thể địa lí nào là đá (rock) chỉ được hưởng lãnh hải, và những thể địa lí nào là đảo nhân tạo bảo đảm chỉ có tối đa một vùng an toàn 500 mét. Dù trong luật lãnh hải năm 1992, Trung Quốc tuyên bố rằng họ sẽ sử dụng đường cơ sở thẳng cho toàn bộ bờ biển và tất cả các đảo, họ chưa vẽ ra hoặc công bố đường cơ sở cho bất kì thể địa lí nào trong nhóm đảo Trường Sa như theo đòi hỏi của Điều 16 của UNCLOS. Và thậm chí sau khi Hoa Kì tiến hành cuộc FONOP tuần này, Trung Quốc vẫn mập mờ về bản chất cụ thể của các thể địa lí trong quần đảo Trường Sa và các vùng biển xung quanh những thể địa lí mà họ yêu sách.

Washington đã cố rõ ràng về nhiều vấn đề liên quan đến tình hình Biển Đông, và có thể cũng rất cần rõ ràng hơn về các khía cạnh khác trong tương lai. Nhưng tiến sĩ Bateman cũng nên kêu gọi Bắc Kinh chính thức làm rõ những thứ mà họ đang yêu sách ở Biển Đông chính xác là gì và nêu rõ cơ sở của chúng theo luật pháp quốc tế cho việc đưa ra các yêu sách đó.

FONOP của Mĩ thách thức các yêu sách biển quá đáng chứ không phải các yêu sách chủ quyền mâu thuẫn nhau

Tiến sĩ Bateman cũng giả định rằng các hoạt động FON của Mĩ có thể có ý định dùng để "phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các thể địa lí có tranh chấp." Một lập luận như vậy đơn giản hoá quá mức tình hình Biển Đông vốn là một ví dụ điển hình về một vấn đề phức tạp trong quan hệ quốc tế liên quan đến các tranh chấp địa lí. Thực tế là tình hình Biển Đông bao gồm nhiều loại hình tranh chấp quốc tế: (1) các yêu sách chủ quyền lãnh thổ tranh chấp nhau, (2) các yêu sách biển chồng lấn và tranh chấp nhau, và (3) các yêu sách biển thái quá.

Điều quan trọng là phải hiểu được bản chất của những tranh chấp đó, vì các loại tranh chấp khác nhau áp dụng các bộ phận luật pháp quốc tế khác nhau. (Luật tập tục [customary law] về chủ quyền áp dụng cho loại tranh chấp thứ nhất, trong khi luật biển quốc tế áp dụng cho hai loại sau.)

Thích đáng hơn với giả định thiếu chính xác của tiến sĩ Bateman, điều quan trọng là phải hiểu được các loại tranh chấp khác nhau ở Biển Đông vì nhiều chính sách quốc gia khác nhau của Mĩ áp dụng cho tình huống phức tạp đó cùng một lúc. Đối với tranh chấp chủ quyền lãnh thổ mà Hoa Kì không phải là một bên, chính sách của Hoa Kì thường là không đứng về bên nào trong các nước yêu sách chủ quyền lãnh thổ mà kêu gọi các bên tranh chấp giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình. Đồng thời, đối với các yêu sách biển thái quá, Hoa Kì sẽ áp dụng chính sách FON đã có lâu nay.

Như một vấn đề thực hành, việc áp dụng cùng lúc nhiều chính sách của Mĩ diễn ra thế nào? Hãy xét quần đảo Hoàng Sa ở nửa phía bắc của Biển Đông như một ví dụ. Có nhiều bên yêu sách (tức là, Trung Quốc, Đài Loan, và Việt Nam) khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Đồng thời, tất cả ba bên yêu sách đều đề ra những điều hạn chế trong các vùng biển xung quanh các thể địa lí đó mà Hoa Kì đã đánh giá là không phù hợp với luật pháp quốc tế. Ví dụ, mỗi một trong ba bên yêu sách đều ban hành luật quốc gia cố tìm cách hạn chế quyền đi qua vô hại (innocent passage) của tàu chiến nước ngoài. Khi tiến hành một FONOP để thách thức những yêu sách biển thái quá đó, Hoa Kì không đứng về bên nào trong các bên yêu sách chủ quyền các thể địa lí đó, mà Hoa Kì thách thức các yêu sách biển quá đáng mà mỗi bên yêu sách đang khẳng định trong các vùng nước xung quanh những thể địa lí này. Về bản chất, một FONOP của Mĩ xuyên qua những vùng biển xung quanh những thể địa lí đó có thể tính là một "thách thức – ba" (three-fer).

Còn về tình huống khi nhiều nước ven biển yêu sách chủ quyền cùng một thể địa lí nhưng chỉ một bên trong đó có yêu sách biển quá đáng xung quanh thể địa lí đó thì sao? Một lần nữa, Hoa Kì tập trung việc thách thức vào yêu sách biển quá đáng mà không đứng về bên nào có tuyên bố chủ quyền xung khắc nhau. Trong Biển Hoa Đông lân cận, quần đảo Senkaku là một tình huống có tính chất như vậy. Trung Quốc (gọi quần đảo này là Điếu Ngư [Diaoyu]) và Nhật Bản đều tuyên bố chủ quyền đối với những thể địa lí đó. Dù Nhật Bản đã vẽ đường cơ sở thẳng dọc theo các phần của bờ biển các đảo chính của mình, một số trong đó Hoa Kì thấy là quá đáng, Nhật Bản không đưa ra yêu sách biển nào quá đáng ở vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku. Ngược lại, tháng 9 năm 2012, Trung Quốc đã vẽ một cách không phù hợp đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo này. Hoa Kì đã đưa ra một phản kháng (demarché) với Trung Quốc tháng 3 năm 2013 như là một phần của Chương trình FON Mĩ, thách thức đường cơ sở không phù hợp xung quanh quần đảo Senkaku. Phản kháng nêu, "Hoa Kì sẽ không đứng về bên nào đối với chủ quyền tối thượng của quần đảo Senkaku. Bất kể yêu sách chủ quyền thế nào, luật pháp quốc tế không cho phép vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh các thể địa lí này." Như vậy, bất kì FONOP nào của Mĩ trong vùng lân cận quần đảo Senkaku sẽ thách thức yêu sách biển quá đáng đó mà không đứng về phe nào trong vấn đề các yêu sách chủ quyền xung khắc nhau đối với chính các thể địa lí này.

Về vấn đề cụ thể của FONOP của Mĩ xung quanh các thể địa lí tôn tạo/đôn cao ở  Biển Đông, tác giả hoan nghênh nỗ lực gần đây của Shannon Tiezzi trong việc tháo gỡ vấn đề phức tạp về điều mà các FONOP cụ thể đó đang thực sự thách thức là gì.

FONOP của Hoa Kì không phân biệt đối xử

Tiến sĩ Bateman cũng giả định rằng Hoa Kì sẽ tiến hành "các hoạt động FON chỉ chống lại các yêu sách của Trung Quốc" ở Biển Đông. Nhưng giả định đó cũng không chính xác. Chương trình FON của Mĩ không phân biệt đối xử đối với các nước - nó tập trung vào những yêu sách mà mỗi nước riêng lẻ khẳng định. Chương trình này thách thức tính chất thái quá của các yêu sách biển, bất kể bản chất mối quan hệ giữa Hoa Kì với các nước ven biển có yêu sách. Trong thực tế, nếu xem lại các báo cáo hàng năm của FON sẽ thấy rằng Hoa Kì thường xuyên thách thức như nhau các yêu sách biển thái quá của đối thủ cạnh tranh, đối thủ tiềm tàng lẫn đồng minh và đối tác.

Trong nhiều thập kỉ, chính phủ Mĩ đã thách thức về mặt ngoại giao và bằng hành động các yêu sách biển quá đáng của các nước ven biển trong mọi khu vực trên thế giới. Chúng bao gồm các thách thức đối với yêu sách biển quá đáng của nhiều nước quanh Biển Đông. Trên thực tế, trước khi chương trình FON Mĩ được chính thức thành lập vào cuối những năm 1970, Hoa Kì đã phản đối ngoại giao yêu sách biển quá mức của Cộng hòa Philippines vào năm 1961. Khi xem lại các báo cáo hàng năm về Tự do Hàng hải của Bộ Quốc phòng (DoD) sẽ thấy rằng các hoạt động FON của Mĩ trong những năm gần đây đã được tiến hành một cách nhất quán không phân biệt đối xử chống lại yêu sách biển thái quá không những của Trung Quốc mà còn của Malaysia, Philippines, Đài Loan, và Việt Nam.

Với lịch sử của Chương trình FON của Mĩ như thế, sẽ hợp lí khi giả định rằng Hoa Kì sẽ tiếp tục thách thức những yêu sách quá đáng trong tương lai. Sự khác biệt duy nhất là Hoa Kì có thể sẽ thách thức ít hơn các yêu sách của một số trong các nước ven biển đó, đặc biệt là của Philippines và Việt Nam. Nhưng đó không phải là vì Hoa Kì đang đứng về phe nào hoặc phân biệt đối xử nghiêng về bên này hoặc chống lại bên khác mà bởi vì hai nước này đã ban hành luật biển quốc gia trong vài năm qua (Philippines năm 2009, Việt Nam năm 2012) vốn đã chỉnh sửa thành công một số trong các yêu sách biển thái quá có từ lâu của họ phù hợp với luật pháp quốc tế. Như vậy, việc Hoa Kì sẽ thách thức yêu sách biển trong khu vực hay không phụ thuộc nhiều hơn vào việc Trung Quốc và các bên yêu sách khác có duy trì hoặc chỉnh sửa các yêu sách biển quá đáng của mình hay không.

FONOP của Mĩ là có chủ ý về bản chất nhưng không phải là khiêu khích có chủ ý

Tiến sĩ Bateman cũng đặc tả không công bằng các FONOP của Mĩ như là "các khiêu khích có chủ ý." Ộng cáo buộc chính phủ Mĩ có ý định kích động phản ứng từ một nước ven biển. Tuy nhiên, ông không cung cấp bằng chứng hậu thuẫn cho khẳng định này. Như đã bàn trước đây, FONOP của Mĩ - cũng như các thành tố khác của Chương trình FON của Mĩ - là có chủ ý về bản chất. Đó là, chúng được hoạch định kĩ lưỡng, duyệt xét lại về mặt pháp lí, được phê duyệt đúng cách, và được thực hiện một cách chuyên nghiệp. Nhưng chúng không có ý định khiêu khích. Thay vào đó, chúng có ý định cho thấy Mĩ không ngầm chấp nhận các yêu sách biển quá đáng do các nước khác đưa ra. Chấp nhận ngầm/mặc nhận (asquiescence: im lặng/không có phản ứng được coi là chấp nhận) không phải là một khái niệm mới mà đúng hơn là một nguyên tắc đã được thiết lập vững chắc từ lâu của luật pháp quốc tế.

Khi nói đến vấn đề khiêu khích, tiến sĩ Bateman một lần nữa chuyển sang một trọng tâm có ích, nhưng lại hướng sự chú ý sai chỗ. Hành động cố ý của nước nào là nguồn gốc nẩy sinh phản ứng của các nước khác? Chính cái nước ven biển đã quyết định đưa ra một yêu sách biển cố phủ nhận hoặc hạn chế quyền tự do trên biển được đảm bảo cho các nước khác. Ví dụ, Trung Quốc đã ban hành một đạo luật quốc gia hạn chế quyền đi qua vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải của mình. Tuy nhiên, Điều 24 của UNCLOS nêu rõ rằng nước ven biển không được "áp đặt các đòi hỏi đối với các tàu nước ngoài mà tác dụng thực tế là phủ nhận hoặc làm suy yếu quyền đi qua vô hại." Với quy định rõ ràng này của luật quốc tế thì các nước khác trông cậy vào cái gì? Một số nước có thể giữ im lặng vì một số lí do nào đó. Nhưng có thể dễ đoán trước được rằng các nước khác, chẳng hạn như Hoa Kì, sẽ thách thức hành động đơn phương đó của nước ven biển, bằng các phản đối ngoại giao và thực hiện việc đi qua trên thực tế. Trong ý nghĩa đó, các yêu sách biển quá đáng mới là hành động có chủ ý làm nảy sinh phản ứng từ những nước khác.

FONOP của Mĩ bảo vệ ý nghĩa về Luật quốc tế áp dụng được như mong muốn

Tiến sĩ Bateman cũng cáo buộc Hoa Kì về "việc cố quay ngược đồng hồ đối với chế độ EEZ đã được cẩn thận cân bằng" trong UNCLOS. Có lẽ, với nhận xét này ông có ý định làm một lời chỉ trích đối vối lập trường hay cách tiếp cận pháp lí của Hoa Kì. Tuy nhiên, trong tư cách một người không là luật sư hay phát biểu về các vấn đề liên quan đến luật pháp quốc tế, Tiến sĩ Bateman có thể không nhận ra rằng đó đúng là những gì một nước nên làm trong việc áp dụng luật quốc tế đúng cách: dựa vào lời văn gốc và lịch sử đàm phán của một điều ước để bảo toàn tính toàn vẹn của các quy định pháp luật phản ánh trong điều ước đó.

Luật quốc tế, như được phản ánh trong Công ước Vienna về Luật điều ước, vạch ra các cách thức đã được thiết lập cho các nước giải thích và áp dụng các điều ước quốc tế. Cụ thể, bộ phận luật [quốc tế] này hỏi các nước phải giải thích một điều ước theo "ý nghĩa thông thường" của các từ ngữ của nó, trong “ngữ cảnh của chúng," và dưới "ánh sáng của đối tượng và mục đích của điều ước." Bộ phận luật quốc tế này cũng chấp nhận, nếu một điều khoản cụ thể của một điều ước "không rõ ràng hoặc tối nghĩa" thì các nước có thể tham khảo các phương cách giải thích bổ sung, kể cả lịch sử đàm phán điều ước. Tương tự như vậy, các nước không được phép diễn giải lại các quy định của luật pháp trong điều ước trái với ý nghĩa thông thường của chúng, tách chúng ra khỏi ngữ cảnh, hoặc bỏ qua đối tượng, mục đích, và lịch sử đàm phán của điều ước.

Đối với vấn đề cụ thể về EEZ, Hoa Kì dựa trên những quy tắc diễn giải quốc tế đã được thừa nhận, chính xác là để đề cao và giữ gìn cái "chế độ đặc quyền kinh tế đã được cẩn thận cân bằng" phản ánh trong UNCLOS. Khái niệm độc đáo (sui generis) về EEZ nảy sinh do một số nước ven biển tìm cách bảo vệ các nguồn tài nguyên trong vùng biển trong vòng 200 hải lí đầu tiên dọc theo bờ biển của mình, và EEZ là một kết quả thương thảo nhằm đảm bảo các quyền lợi liên quan đến tài nguyên kinh tế cho các nước ven biển, nhưng mặt khác cũng bảo toàn các quyền tự do hiện có mà các nước khác được hưởng. Nó không tạo ra một khu vực an ninh – thật ra, các nỗ lực tìm cách chuyển đổi nó thành khu vực an ninh trong quá trình đàm phán UNCLOS đã bị cố ý bác bỏ. Ngữ cảnh của UNCLOS cũng có liên quan. Ví dụ, lời lẽ trong UNCLOS cấm các nước không được thu thập thông tin có thể "gây phương hại đến quốc phòng, an ninh của một nước ven biển," trong lãnh hải một nước ven biển, nhưng không có quy định tương đương hạn chế các hoạt động tương tự trong EEZ. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Đại sứ SingaporeTommy Koh, chủ tịch của hội nghị Liên Hiệp Quốc đàm phán và ký kết UNCLOS tuyên bố năm 1984: "Không ở chỗ nào nó nêu rõ liệu một nước thứ ba có thể hoặc không thể tiến hành các hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của một nước ven biển. Nhưng, theo cách hiểu thông thường thì lời văn mà chúng tôi đàm phán và nhất trí cho phép các hoạt động đó được tiến hành."

Trái lại, chỉ trích trước đâygần đây của tiến sĩ Bateman về FONOP của Mĩ dường như bỏ qua "đồng hồ" này (tức là lời văn và lịch sử đàm phán UNCLOS) khi nói đến quyền đi qua vô hại. Chẳng hạn, ông chất vấn liệu quyền đi qua vô hại có đảm bảo cho các tàu chiến hay không. Nhưng quyền đi qua vô hại được đặt ra trong một tiểu mục của UNCLOS có tên, "Những quy định áp dụng cho tất cả tàu thuyền." (Nhấn mạnh thêm vào.) Và, do đó, không có gì ngạc nhiên khi cũng chính Đại sứ Koh phát biểu: "Tôi nghĩ rằng Công ước khá rõ ràng về điểm này. Tàu chiến, giống như các tàu khác, có quyền đi qua vô hại trong lãnh hải, và không có đòi hỏi nào buộc tàu chiến phải có được sự chấp thuận trước hoặc thậm chí thông báo của nước ven biển."

Biết rằng quyền đi qua vô hại là một quyền mà tất cả các tàu, kể cả tàu chiến, đều được hưởng, vấn đề là: các thông số quy phạm pháp luật về quyền đó là gì? Lời văn của UNCLOS đòi hỏi việc đi qua vô hại của một con tàu phải "liên tục và nhanh chóng" (Điều. 18). Đối với đòi hỏi mà hơn 100 nước trên thế giới đã đàm phán và ký kết trong suốt hơn mười năm đàm phán, tiến sĩ Bateman đã thêm vào một cách khó giải thích một đòi hỏi bổ sung rằng việc đi qua [vô hại] của tàu chiến cũng phải "thẳng tắp" (direct) - mà không giải thích nguồn gốc cho đòi hỏi bổ sung đó. Nhưng, như Pete Pedrozo, một trong những đồng nghiệp của tôi đã viết tinh gọn đáp trả chỉ trích trước đó của tiến sĩ Bateman, "Chẳng có điều nào trong UNCLOS gợi ý rằng một con tàu thực hiện việc đi qua vô hại phải chạy theo một đường thẳng từ điểm A tới điểm B."

Ngoài ra, lời văn trong UNCLOS đòi hỏi việc đi qua "vô hại" phải ngưng không được thực hiện một danh sách 12 hoạt động cụ thể có thể làm "phương hại đến an ninh của các nước ven biển" (Điều. 19). Trong số các hoạt động bị cấm là con tàu can dự vào bất kì việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thu thập thông tin chống lại nước ven biển, hoặc can thiệp vào hệ thống thông tin liên lạc của nước ven biển. Mặc dù danh sách cụ thể của hoạt động bị cấm này có tính chất gói trọn mọi thứ (exhaustive), tiến sĩ Bateman cho rằng chỉ việc "phái" tàu chiến nước ngoài đi qua lãnh hải của nước khác "có thể là một hành vi vi phạm quyền đi qua vô hại." Lí thuyết mà ông cho là đúng là cách mạng trong bản chất và sẽ làm mất hiệu lực trên thực tế danh sách nêu ở Điều 19 của Công ước. Tuy nhiên, một lần nữa, ông không giải thích ý thích cá nhân của ông được chuyển hóa thành luật quốc tế ở chỗ nào. Như chuyện đương nhiên, ông cũng không cung cấp bằng chứng nào cho thấy rằng quân đội Mĩ đã can dự vào bất kì hành động nào trong số 12 hoạt động bị cấm trong khi tiến hành FONOP để bảo toàn quyền đi qua vô hại. Tóm lại, lời lẽ xa gần đó là không có căn cứ về pháp lí và thựctế.

FONOP của Mĩ kì vọng các nước khác tuân theo Luật Quốc tế một cách nhất quán

Một trong những khẳng định vô lí nhất của tiến sĩ Bateman là nỗ lực phân biệt vụ tàu Trung Quốc mới đây chạy ngang qua lãnh hải của Mĩ quanh quần đảo Aleutian gần Alaska với vụ Mĩ tiến hành FONOP gần các thể địa lí tôn tạo/đôn cao ở Biển Đông. Cụ thể, ông lập luận, "Trong khi điều tàu tuần tra vào lãnh hải của nước khác đặc biệt là để chứng tỏ quyền được đi ngang qua có thể là một hành vi vi phạm quyền đi qua vô hại, các tàu Trung Quốc đã thực hiện việc đi qua thẳng tắp." Như chuyện hiển nhiên, lời giải thích của tiến sĩ Bateman phớt lờ thực tế rằng hải quân Trung Quốc mới kết thúc việc tập trân với hải quân Nga mấy ngày trước chuyến đi qua vô hại, và tàu chiến của Trung Quốc đã phải đi chệch đáng kể ra khỏi lộ trình của họ sau đó để tiến hành cái mà Tiến sĩ Bateman đặc tả như việc "đi qua thẳng tắp". Quan trọng hơn, nó bỏ qua thực tế chính trị rằng quan điểm của Trung Quốc về luật pháp quốc tế có thể đang trong quá trình phát triển, ít nhất là khi liên quan đến các đại dương ngoài Đông Á.

Mười năm trước đây,cũng chính tiến sĩ Bateman dự đoán như sau: "Đã có những kì vọng rằng Trung Quốc, khi phát triển về tầm vóc như một cường quốc biển, có thể chuyển đổi từ địa vị của một nước ven biển sang địa vị của một cường quốc biển tìm cách mở rộng tối đa các quyền tự do theo luật biển. Tuy nhiên, theo cách nhìn của tôi, điều này ít có khả năng xảy ra. Vị thế của Trung Quốc về các vấn đề này của luật biển là bám rể quá chặt. Thay vì chuyển đổi vị thế của mình, có nhiều khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục với các chính sách hiện có của họ, hoặc thậm chí tăng cường chúng hơn nữa."

Tuy nhiên, trong thập kỉ qua một Trung Quốc đang trỗi dậy với các lợi ích tăng thêm trên toàn thế giới đã và đang dần tiến gần tới một nan đề trên biển: Trung Quốc sẽ tiếp tục coi chính mình thuần là một nước ven biển dễ bị xâm hại đối với các mối đe dọa bên ngoài? Hoặc Trung Quốc sẽ nắm lấy tầm quan trọng của việc gìn giữ quyền tự do trên biển nhằm bảo vệ tốt hơn lợi ích mở rộng của mình?

Bất chấp dự báo của tiến sĩ Bateman mười năm trước, các hành động gần đây của Trung Quốc trên biển gợi ra rằng họ đã chọn tự do hàng hải "tối đa", ít nhất là khi họ muốn nói tới tự do cho các đại dương nằm trong khu vực biển của các nước khác. Một thực tế khó chối cãi là hải quân Trung Quốc, trong vài năm qua, đã nhiều lần tiến hành các hoạt động quân sự trong EEZ của Mĩ (quanh Guam và Hawaii), Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Indonesia và Ấn Độ. Đồng thời, các tàu chiến của Trung Quốc cũng đã thực hiện quyền đi qua vô hại trong lãnh hải của một số nước, trong đó có Hoa Kì. Khi bị chất vấn về những hoạt động và việc đi qua đó của Hải quân Trung Quốc, các quan chức Trung Quốc đã không phủ nhận các sự việc đó.

Tất nhiên, mọi nước phải áp dụng luật quốc tế, bao gồm cả luật biển, một cách nhất quán - dù hành động trong các khu vực biển của mình hoặc trong các khu vực biển của các nước khác. Phản ứng của Mĩ đối với việc Trung Quốc đi ngang qua biển gần đây và các hoạt động của họ trong các vùng biển của nhiều nước khác, trong đó có cả những hoạt động tiến hành bên trong các khu vực biển của Mĩ, đã được tôn trọng vì nó phù hợp với luật pháp quốc tế. Với việc đi qua đó cũng như các hoạt động đã thực hiện của quân đội Trung Quốc, cuộc tranh luận pháp lí về các hoạt động quân sự của Mĩ trong EEZ của Trung Quốc và việc tàu chiến Mĩ tiến hành quyền đi qua vô hại trong lãnh hải của Trung Quốc đã kết thúc. Bất Kì nỗ lực nào tìm cách giải thích khác đi chỉ đơn thuần sẽ là một nỗ lực xảo ngôn pháp lí. (cụm từ ‘xảo ngôn pháp lí’ [legal rhetoric], theo tác giả có nghĩa là sử dụng các điều khoản của điều ước ngoài ngữ cảnh thích hợp để gán ép các lập luận chính trị hoặc đưa ra các lập luận mâu thuẫn với hành động của mình.)

FONOP của Mĩ thách thức các điều hạn chế đơn phương hơn là chấp nhận xảo ngôn mê hoặc

Nói về điều này, tiến sĩ Bateman dường như đã chấp nhận một số các xảo ngôn pháp lí của Trung Quốc dựa trên vẻ bề ngoài. Một ví dụ về một xảo ngôn như vậy là khi tiến sĩ Bateman nói rằng "Trung Quốc đã nhiều lần chối bỏ rằng họ tạo ra một mối đe dọa [đối với Tự do hàng hải]." Tuy nhiên, ta nên thận trọng trong việc chấp nhận sự phủ nhận bằng lời như vậy, và thay vì vậy nên xem xét cả lời nói lẫn hành động của Trung Quốc trong tư cách một nước ven biển.

Trong hai thập kỉ qua, Trung Quốc đã ban hành một trong các chế độ pháp lí toàn diện nhất về các yêu sách biển quá đáng so với bất kì nước ven biển nào trên thế giới. Trung Quốc đã vẽ không đúng cách đường cơ sở thẳng dọc theo toàn bộ bờ biển lục địa của mình, dù UNCLOS chỉ cho phép sử dụng các đường cơ sở như vậy trong những tình huống đặc biệt. Trung Quốc đã vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Senkaku, dù UNCLOS chỉ chấp nhận quyền đó cho nước quần đảo mà thôi. Trung Quốc hạn chế quyền đi qua vô hại của tàu chiến nước ngoài trong lãnh hải của mình, dù UNCLOS đảm bảo quyền đó cho tất cả các tàu thuyền. Trung Quốc đã áp đặt hạn chế an ninh trong vùng tiếp giáp lãnh hải của họ, dù UNCLOS chỉ cho phép thực thi bốn dạng hạn chế theo luật pháp quốc gia mà thôi (đó là, tài chính, di trú, vệ sinh môi trường, và hải quan). Và Trung Quốc hạn chế các hoạt động nước ngoài trong EEZ của họ, dù UNCLOS thiết lập EEZ để bảo vệ "quyền chủ quyền" liên quan đến tài nguyên. Dù một số nước ven biển trên thế giới đã đưa ra các yêu sách biển quá đáng thuộc một hoặc hai trong số bốn dạng này, Trung Quốc là một trong bảy nước ven biển trên toàn thế giới có một "bộ đầy đủ” (full-house) các yêu sách biển quá đáng ảnh hưởng đến tự do trên biển được bảo đảm cho các nước khác ở mỗi khu vực biển của mình.

Tệ hơn nữa, chế độ pháp lí của Trung Quốc cho các yêu sách biển quá đáng là một chế độ đang có khuynh hướng đi sai hướng. Một số nước ven biển có thể đưa ra lập luận rằng các yêu sách biển quá đáng của họ chỉ đơn giản là các luật lệ kế thừa, có trước ngày phê chuẩn UNCLOS và không còn hiệu lực. Nhưng Trung Quốc đã tiếp tục tạo ra các yêu sách biển quá đáng mới trong những năm gần đây, chẳng hạn như đường cơ sở thẳng không đúng cách quanh quần đảo Senkaku vào năm 2012 và vùng nhận dạng phòng không rộng quá mức ở Biển Hoa Đông vào năm 2013.

Như vậy, bất chấp có sự đảm bảo bằng lời của Trung Quốc, các văn bản luật pháp và các hoạt động khác của họ không làm Hoa Kì và các nước khác yên tâm rằng Trung Quốc không tạo ra một mối đe dọa cho sự tự do trên biển trong vùng biển và vùng trời Đông Á, kể cả những vùng biển và vùng trời ở Biển Đông.

Lời kết

Điểm gây rối rắm nhất do tiến sĩ Bateman tạo ra là cách ông cố tối thiểu hoá những gì đang bị đe dọa khi nói đến yêu sách biển quá đáng của Trung Quốc. Cụ thể, ông nói, "Đó gần như là một chuyện vặt mà một sự cố nguy hiểm giữa quân đôi Trung Quốc và Mĩ có nguy cơ nảy ra từ đó." Đây không phải là chuyện vặt mà là chuyện lớn.

Các nước trên thế giới, kể cả Hoa Kì và Trung Quốc, dành hơn một thập kỉ để đàm phán UNCLOS. Hoa Kì không phải là một thành viên của Công ước (nhưng thừa nhận sẽ là); tuy nhiên, Hoa Kì từ lâu đã xem các quy tắc trong Công ước như phản ánh luật tập tục có tính ràng buộc. Hơn nữa, quân đội Hoa Kì và Trung Quốc đều rõ ràng công nhận UNCLOS như là bộ quy tắc cần áp dụng, với Hoa Kì công nhận rằng Trung Quốc là một thành viên [UNCLOS] và Trung Quốc thừa nhận rằng Hoa Kì "hậu thuẫn và tuân thủ pháp luật tập quán quốc tế như được phản ánh" trong UNCLOS. (Việc chỉ ra rằng Hoa Kì không phải là một bên tham gia UNCLOS chỉ đơn thuần là một cách để ghi điểm tu từ -. nhưng điều đó không làm cho những nỗ lực của Trung Quốc trong việc hạn chế quyền tự do hàng hải đảm bảo cho tất cả các nước, trong đó có Hoa Kì, giảm đi tính đúng đắn)

Bộ phận luật [quốc tế] phản ánh trong UNCLOS là một sự cân bằng chủ ý các lợi ích giữa nước ven biển và các nước sử dụng biển. Nó phải được tôn trọng trên toàn cầu. Nó phải được tuân theo một cách nhất quán. Trong bối cảnh này, việc ngầm chấp nhận cho hành động của bất kì nước ven biển nào có ý định làm suy giảm sự tự do của các vùng biển được luật hóa trong UNCLOS không phải là một lựa chọn chấp nhận được. Việc không chấp nhận ngầm là các nguyên lí cơ bản của Chương trình FONcủa Mĩ, bao gồm cả FONOP được tiến hành theo chương trình đó. Chế độ luật quốc tế cơ bản và phổ quát này sẽ được phép tháo dỡ cho phù hợp với mong muốn của một nước? Nếu chế độ luật quốc tế này được phép làm cho méo mó bởi những ham muốn đơn phương của một nước nào đó thì chế độ luật quốc tế nào sẽ có nguy cơ kế đó? Đây không phải là "chuyện vặt", tiến sĩ Bateman ạ. Rất nhiều thứ đang bị đe doạ.

Commander Jonathan G. Odom là một luật sư của Hải quân Mĩ. Hiện nay, ông là Giáo sư Luật tại College of Security Studies thuộc the Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies tại Honolulu, Hawaii, ở đó ông dạy luật quốc tế, luật an ninh quốc gia, chính sách đại dương, và an ninh biển. Từ năm 2012 đến tháng 8 năm 2015, ông giữ chức vụ Cố vấn chính sách đại dương trong Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng. Từ năm 2008 đến 2012, ông giữ chức  phó cố vấn pháp lí cho Chỉ huy trưởng bộ  chỉ huy Thái Bình Dương. Ngoài ra, cần lưu ý, trong chuyến đi đầu tiên của ông trong Hải quân mười tám năm trước đây, ông triển khai đến biển và cung cấp tư vấn về luật quốc tế khi con tàu mà ông phục vụ tiến hành ba FONOP ở Biển Đông. Đây là quan điểm riêng của ông và không nhất thiết phản ánh vị thế của Bộ Quốc phòng Mĩ hoặc bất Kì thành phần nào của Bộ

Thursday, October 22, 2015

Bắc Kinh vươn tới vị thế trên tay về quân sự ở Châu Á

Bắc Kinh vươn tới vị thế trên tay về quân sự ở Châu Á
(Beijing Reaches for Military Upper Hand in Asia)

Khoảng cách nhanh chóng thu hẹp lại làm tăng thêm rủi ro cho Mĩ trong việc chống lại Trung Quốc

ANDREW BROWNE
WSJ (20/10/2015)

At a military parade Sept. 3 to commemorate the end of World War II, China displayed for the first time the DF-21D antiship ballistic missile, designed specifically to target approaching U.S. aircraft carriers.
 Tại cuộc diễu binh ngày 3 tháng 9 để kỉ niệm kết thúc Thế chiến II, Trung Quốc lần đầu phô ra  tên lửa đạn đạo chống tàu DF-21D, được thiết kế đặc biệt có mục tiêu nhắm vào các tàu sân bay Mĩ. Ảnh: EUROPEAN PRESSPHOTO AGENCY


ĐÀI BẮC- Năm 1996, khi Trung Quốc cố dọa cử tri Đài Loan với việc bắn tên lửa gần đảo này, Tổng thống Mĩ Bill Clinton đã nhanh chóng điều hai nhóm tác chiến tàu sân bay tới. Thông điệp thẳng tuột của ông cho Bắc Kinh: hãy xéo đi.

Mĩ lúc đó đang có sức mạnh ở tột đỉnh, còn Trung Quốc hầu như không có khả năng tự vệ trên biển và trên không, do đó, Lầu Năm Góc có thể có thừa sức để hành động nghênh ngang. Một cuộc xung đột, nếu Trung Quốc đần độn tới mức kích động lên, có thể phô lộ sự lạc hậu về  quân sự kinh niên của họ. Nếu đối đầu, Bắc Kinh buộc phải chịu thua.

Hiện nay, một cuộc khủng hoảng đang tích tụ ở Biển Đông đối với công việc xây đắp đảo đồ sộ của Trung Quốc làm nổi rõ sự thay đổi một cách đầy kịch tính cán cân quân sự ở Đông Á, không chỉ đối với Đài Loan mà ở mọi chỗ nằm trong tầm tên lửa, máy bay chiến đấu và tàu ngầm của Trung Quốc. Mĩ không lẫn tránh; họ hiện đang trù tính một cuộc thách thức hải quân ngày nào đó quanh quần đảo Trường Sa, nơi Trung Quốc đã trang bị một đường băng đủ dài để máy bay quân sự đáp xuống trên một trong những mặt bằng do nạo vét. Nhưng Nhà Trắng đang rối bù về những rủi ro trong nhiều tháng nay.

Đừng trông mong các tàu sân bay. Chúng hiện là mục tiêu của tên lửa đạn đạo chống tàu hoạt động đầu tiên của thế giới. Bên cạnh đó, khống chế nhanh không phải là một phần của bất kì kế hoạch trò chơi hợp lí nào chống lại Trung Quốc ngày nay, kể từ năm 1996 chi tiêu quân sự của họ tăng lên trung bình hàng năm là 11%, thu hẹp khoảng cách quân sự với Mĩ nhanh hơn so với hầu như bất cứ ai có thể nghĩ tới.

Thay vào đó, Lầu Năm Góc thấy mình trong tình thế lưỡng nan: làm sao triển khai tối thiểu sức mạnh hải quân trong khi vẫn truyền tải được tín hiệu răn đe tới Bắc Kinh. Một lựa chọn là phái các tàu chiến ven biển tối tân nhưng vũ trang tương đối nhẹ đang đóng ở Singapore.

Mặc dù quần đảo Trường Sa không chút gì hơn một nhóm các rạn đá, đảo san hô và bãi cát ở rải rác, chúng đã trở thành những biểu tượng cụ thể trong một cuộc đấu tranh địa chính trị lớn hơn nhiều. Độ tin cậy về an ninh mà Mĩ bảo đảm cho các đồng minh châu Á đang bị đe doạ.

Tuy nhiên, bất cứ hành động nào mà Lầu Năm Góc quyết định làm sẽ chiếu sáng các lựa chọn quân sự đang thu hẹp của Washington  - và khả năng của Trung Quốc trong việc định hình các hành động của Mĩ. Theo một nghiên cứu gần đây của Rand Corp, trong vòng 5 đến 15 năm tới "Châu Á sẽ chứng kiến biên giới thống trị của Mĩ lùi ra xa dần."

Thật vậy, khi các nhà chiến lược quân sự Mĩ trù tính việc thực hành "Tự do hàng hải" bằng cách phái tàu chạy vào trong vòng 12 hải lí của các đảo do Trung Quốc tự tạo, điều trên hết trong suy nghĩ của họ là làm thế nào để tránh sa vào một cuộc xung đột. Đó không phải là vì Hoa Kỳ có bất kì nguy cơ bị thua nào - trong hầu hết các tình huống không dùng vũ khí hạt nhân, quân đội Mĩ vẫn vượt xa quân đội Trung Quốc - mà vì cái giá huỷ hoại có thể xảy ra.

Một cuộc xung đột với Trung Quốc sẽ không giống như bất kì cuộc xung đột nào mà Mĩ từng phải đối mặt kể từ Thế chiến II. Kể từ đó, Mĩ cũng chưa từng phải đối mặt với một kẻ thù có khả năng đe dọa các tàu sân bay và tàu ngầm của họ - biểu tượng kép về sức mạnh và uy tín của Mĩ.

Và Mĩ chưa từng đánh nhau với một kẻ thù có khả năng chiến tranh mạng - hay có vũ khí hạt nhân.



Hơn nữa, mặc dù Mĩ vẫn dẫn đầu một quân đội kinh khiếp trên tổng thể, Trung Quốc lại nắm giữ con chủ bài: địa lí. Sự gần gủi với các điểm nóng của Đông Nam Á, bao gồm cả Đài Loan và quần đảo Trường Sa, bù trừ phần lớn các lợi thế công nghệ của Mĩ. Bắc Kinh không phải tìm cách sánh với Mĩ từng loại vũ khí một để đảo ngược tình thế đối với Washington và bắt đầu chế ngự sân sau của mình.

Chắc chắn là quân đội của Trung Quốc chưa từng được thử thách từ sau cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam vào năm 1979, và trong nhiều lĩnh vực trọng yếu Mĩ vẫn còn đi trước nhiều thập kỉ . Ví dụ, Trung Quốc chỉ có 10 máy bay bồn dùng để tiếp nhiên liệu cho máy bay phản lực; Mĩ có 475.

Nhưng thời điểm đảo ngược cán cân đang đến gần hơn. Nghiên cứu của Rand cho biết một cuộc xung đột ở Đài Loan vốn chỉ cách bờ biển Trung Quốc 100 dặm, nhưng cách lục địa Hoa Kỳ hàng ngàn dặm, sẽ là một "biến động ngắn, gay gắt và có lẽ dữ dội với những thiệt hại nghiêm trọng cho cả hai bên."

Theo Bộ Quốc phòng Mĩ, Trung Quốc hiện có ít nhất 1 200 tên lửa đạn đạo tầm ngắn thuộc loại đã rót vào vùng biển xung quanh Đài Loan hồi năm 1996 lúc đảo này đang chuẩn bị bỏ phiếu bầu cử tổng thống dân chủ đầu tiên.

Sau đó, Bắc Kinh cũng hi vọng làm cử tri sợ hãi để bác bỏ ứng cử viên Quốc Dân Đảng đang cầm quyền, Lee Teng-hui (Lí Đăng Huy), người mà họ sợ sẽ dẫn Đài Loan theo con đường tìm kiếm độc lập. Kế hoạch này bị phản tác dụng: Lí Đăng Huy giành được đa số phiếu bầu.

Tháng 1 tới, Đài Loan đi vào bầu cử lần nữa, và một lần nữa Trung Quốc đang lo ngại về ứng cử viên đang dẫn trước Tsai Ing-wen (Thái Anh Văn), đảng của bà công khai gắn kết với những người ủng hộ độc lập, mặc dù chính bà đã nói rõ bà ủng hộ nguyên trạng.

Trung Quốc cho đến nay đã tạm ngưng chiến thuật bắt nạt đối với Đài Loan, mặc dù họ đang gia tăng các cảnh báo về hành động của hải quân Mĩ ở Trường Sa; một bài bình luận của Tân Hoa Xã cho biết Trung Quốc sẽ phản ứng "một cách thích hợp và dứt khoát." Một cuộc đấu tranh giành quyền làm chủ ở Đông Á đang diễn ra, và các xu thế quân sự đều theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

Tuesday, October 20, 2015

Đối đầu Mĩ – Trung lờ mờ hiện ra trong vùng biển rắc rối ở Biển Đông

Đối đầu Mĩ – Trung lờ mờ hiện ra trong vùng biển rắc rối ở Biển Đông

(Bản dịch đã đăng trên adminbasam on 18/10/2015)
US-China confrontation looms in troubled waters of South China Sea

SMH (17-10-2015)
Nick O’Malley, Phóng viên Mĩ của Fairfax Media


Tàu chiến Mĩ dự kiến sẽ thách thức chủ quyền mà Trung Quốc tuyên bố trong việc thực hành quyền tự do đi lại.
H1Bộ trưởng Quốc phòng Maurice Payne, Bộ trưởng Ngoại giao Úc Julie Bishop và Ngoại trưởng Mĩ John Kerry tại một cuộc họp báo ở hội đàm quốc phòng Mỹ-Úc. Ảnh: AP
Nếu bạn định thiết kế một khu vực biển có đặc điểm sẽ gây ra tranh chấp giữa các nước, bạn không thể nào làm tốt hơn việc hình thành Biển Đông.
Như Robert Kaplan, một cựu thành viên trong Ban Chính sách Quốc phòng của Lầu Năm Góc, viết trong cuốn sách của mình: Vạc dầu Châu Á, Biển Đông và sự chấm dứt của khu vực Thái Bình Dương ổn định (Asia’s Cauldron, The South China Sea and the End of a Stable Pacific), [Biển Đông là nơi có] chủ quyền tranh chấp giữa Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan và Việt Nam, hơn một nửa trọng tải giao thương thế giới tới lui qua đoạn yết hầu hàng hải này giữa Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
“Cái gọi là thực hành quyền tự do đi lại có thể chứng kiến các tàu hải quân Mĩ và Trung Quốc hoạt động cách nhau trong vòng 1000 mét ở vùng biển Trung Quốc tuyên bố chủ quyền”.
Nằm bên dưới vùng biển đó là khoảng 900 ngàn tỉ feet khối khí đốt tự nhiên và 130 tỉ thùng dầu.
H1Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, phải, và Tổng thống Mĩ Barack Obama trên bãi cỏ phía Nam Nhà Trắng ở Washington. Ảnh: Bloomberg
Yêu sách Trung Quốc đối với những mảng rộng lớn của Biển Đông đã mở rộng cùng nhịp với sự nâng lên về kinh tế và quân sự của họ.

Năm 2010 Trung Quốc cho Mĩ biết rằng họ coi khu vực này là ‘lợi ích cốt lõi’ và năm sau đó tờ Hoàn Cầu, phụ bản báo Nhân Dân của Đảng Cộng sản, đã viết một xã luận, cảnh báo các nước khác đừng coi cách tiếp cận hòa bình của Trung Quốc đối với các tranh chấp trong khu vực là chuyện đương nhiên.
“Nếu những nước này không chịu thay đổi cách cư xử với Trung Quốc, họ cần chuẩn bị nghe tiếng đại bác gầm. Chúng ta cần sẵn sàng cho điều đó, vì đó có thể là cách duy nhất để các tranh chấp ngoài biển được giải quyết”.
Đúng lúc Trung Quốc quyết tâm khẳng định quyền lực chiến lược mới của họ ở đây, Mĩ cũng quyết không cho phép họ tạo ra những chuẩn mực quốc tế mới ở Biển Đông.
Nếu như có chiến tranh giữa Trung Quốc và Mĩ, đây chính là chỗ mà mọi người lo ngại nó có thể bắt đầu, đây chính là chỗ mà các nhà quan sát kì vọng Mĩ sẽ kiểm nghiệm quyết tâm của Trung Quốc trong những ngày tới.
Mấy tuần qua, có nhiều tường thuật từ các nguồn hải quân cấp cao của Mĩ – có nêu tên và không nêu tên – rằng Hải quân Mĩ đang có kế hoạch thực hiện điều mà họ gọi là thực hành quyền tự do đi lại qua các vùng biển mà Mĩ tin rằng Trung Quốc đang đòi chủ quyền phi pháp.
Hôm Thứ Năm, Phó Đô đốc Peter Daly, từng chỉ huy nhóm tác chiến tàu sân bay trong chiến tranh Iraq trước khi nghỉ hưu, nói với Fairfax Media rằng tất cả các dấu hiệu và chuyện trò ngoại giao mà ông chứng kiến, gơi ra rằng, một cuộc thực hành như vậy sẽ được tiến hành trong vài ngày tới.
Cái gọi là thực hành quyền tự do đi lại có thể chứng kiến các tàu hải quân Mĩ và Trung Quốc hoạt động cách nhau trong vòng 1000 mét ở vùng biển Trung Quốc đòi chủ quyền.
Để hiểu được tầm quan trọng của hoạt động này, cần phải hiểu yêu sách của Trung Quốc. Trung Quốc cho rằng họ sở hữu một chuỗi các đảo nhỏ và các rạn đá trải rộng trên 2000 km biển. Phần lớn của yêu sách này bị nhiều nước láng giềng tranh chấp mà hầu hết trong số họ được Mĩ ủng hộ về quân sự, ngoại giao.
Một số thể địa lí này đang trong tình trạng có các yêu sách đối kháng của các quốc gia khác.


<i></i>
Đối mặt với sự phản đối quốc tế và để củng cố yêu sách của mình, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng các đảo nhân tạo trên các rạn đá trong khu vực này, và khu vực 12 hải lí xung quanh khu đất được bồi tạo, coi như là lãnh hải độc quyền.
Hồi tháng 9, Mĩ tiết lộ rằng không những việc bồi tạo đang tăng tốc mà các cơ sở cảng và đường băng cũng đang được xây dựng trên nhiều đảo.
Mỹ và nhiều nước khác đã bác bỏ yêu sách của Trung Quốc, lưu ý rằng Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc không kéo dài phạm vi áp dụng ra cho đất bồi tạo.
“Không thể chế tạo chủ quyền”, Daly nói.
Hơn nữa, Mĩ cho biết, đáng lẽ Trung Quốc không được hoạt động trên đảo tranh chấp trước khi các tranh chấp giải quyết xong.
Và như vậy chúng ta đi đến một cuộc giằng co. Để khẳng định điều mà họ xem là luật pháp quốc tế rõ ràng, Mĩ dường như đang lên kế hoạch cho một đội tàu chạy băng qua khu vực 12 hải lý, xung quanh một hoặc nhiều hơn trong số các đảo bồi tạo hoặc có tranh chấp này.
Chính Daly đã từng tiến hành cách thực hành tương tự nhiều lần, nói rằng ông không biết Hải quân Mĩ đang có kế hoạch sử dụng loại tàu nào, mặc dù trong quá khứ thường triển khai từ một đến ba tàu khu trục.
Daly nói, dự kiến Trung Quốc có thể dùng các tàu chiến của họ bám sát theo đội tàu Mĩ.
Daly tin rằng việc thực hành này mà ông mô tả như lệ thường, sẽ được hoàn thành mà không có xung đột, và phản ứng của Trung Quốc đối với việc này sẽ là phản ứng ngoại giao.
Mỹ nhấn mạnh không theo đứng về phe nào trong các tranh chấp chủ quyền trong khu vực, họ chỉ đơn giản muốn nhấn mạnh tới việc khẳng định quyền tự do đi lại.
“Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cho tàu và máy bay di chuyển và hoạt động ở bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép”, Tổng thống Barack Obama phát biểu trong một cuộc họp báo chung với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Washington hồi tháng trước. Các quan chức Mỹ và các nhà ngoại giao cấp cao đã sử dụng những lời lẽ giống như vậy nhiều lần kể từ đó.
Úc cũng đã nhắc lại lập trường đó.
Dù vậy Trung Quốc vẫn không cho thấy dấu hiệu xuống nước. Quả vậy Bill Bishop, tác giả của Sinocism China Newsletter, nói trong buổi phỏng vấn do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế – một nhóm chuyên gia tư vấn hàng đầu của Mĩ – công bố, rằng với kiểu cách tuyên truyền của họ thì các nhà lãnh đạo Trung Quốc không có chỗ để thụt lùi – hiện nay người dân Trung Quốc coi Biển Đông như là một bộ phận của Trung Quốc.
Bishop nói với CSIS rằng thậm chí việc bồi tạo đất của Trung Quốc có thể sẽ tăng thêm trong những tháng tới vì Bắc Kinh tin rằng chính quyền sắp tới của Mỹ do Hillary Clinton hay do một nhân vật Cộng hòa đứng đầu vào năm 2017 có thể sẽ quyết đoán hơn.
Trong chuyến thăm Washington, DC, của Tập Cận Bình hồi tháng trước, vỡ diễn ngoại giao hoành tráng đó phần lớn đi theo kịch bản, ngoại trừ một lời bình luận của Tập Cận Bình trong buổi họp báo ở Nhà Trắng.
Obama đã khẳng định lại ý định của Mỹ về việc đi lại trên biển và trên không, ở bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép.
Tập Cận Bình đã đưa ra một lời đáp trả mà các nhà quan sát ở thủ đô Mĩ vẫn còn đang tranh luận, nói rằng Trung Quốc không có ý định quân sự hoá các đảo đang bàn. Theo một nhà quan sát ở Washington, quan chức Trung Quốc tại sự kiện này có vẻ bị sốc trước lời đáp trả này, và các nhà bình luận không thống nhất về ý nghĩa của nó.
Có thể đó là chính sách đã thay đổi? Có thể đó là một sự nhầm lẫn?
Như Bonnie Glaser, cố vấn cao cấp châu Á, kiêm giám đốc Dự án Sức mạnh Trung Quốc tại CSIS, gợi ý rằng, đó có thể vì Trung Quốc không xem việc tạo ra các cảng và sân bay, thậm chí radar, hoặc thiết bị định vị là quân sự hoá chăng?
Dù theo cách nào, các quan chức Mỹ đã nhìn thấy một lổ hổng trong cách phát ngôn này và họ đang luồng qua đó, tìm mọi cơ hội để dựng nó như vị thế mới của Trung Quốc.
Úc có vẻ đang hát cùng một bài hát.
Trong họp báo chung ở cuộc đàm phán quốc phòng Mĩ – Úc hàng năm ở Boston tuần này, Bộ trưởng Ngoại giao Julie Bishop nhận xét, “Chúng tôi lưu ý và chúng tôi thật sự hoan nghênh phát biểu của Chủ tịch Tập Cận Bình khi ông ở đây tại Hoa Kỳ, tại Washington, rằng Chính phủ Trung Quốc không có ý định quân sự hoá quần đảo Trường Sa. Và chúng tôi hoan nghênh tuyên bố đó và chúng tôi chắc chắn muốn Trung Quốc phải giữ lời”.
Nếu và khi các tàu chiến Mĩ thật sự lách vào vùng biển tranh chấp ở Biển Đông dưới mắt của các lực lượng đối nghịch nhau trong những ngày tới, Daly tưởng tượng thái độ trên tàu sẽ tập trung, lặng im và trầm tĩnh.
Về các hoạt động nhự thế này, ông nói “Nó không hoàn toàn giống như bất kì ngày nào khác”, dù đó là một phần của các hoạt động bình thường. Ông nói tiếp, nhưng khi hai lực lượng đến gần với nhau tới mức như vậy thì những rủi ro về một sự cố không lường trước nào đó sẽ tăng lên.