Sunday, July 13, 2014

Trung Quốc tiết lộ video hiếm về cuộc chiến lãnh thổ ở biển Đông

Trung Quốc tiết lộ video hiếm về cuộc chiến lãnh thổ ở biển Đông

(đã đăng  ở đây anhbasam ngày 13/07/2014)
China reveals rare videos of its South China Sea territorial battle
GMA News (11/07/2014)
Michaela Del Callar

Chúng tôi ở đây! Đảo Hoàng Nham đây! Quốc kỳ trương lên rồi!” một nhà báo Trung Quốc (TQ) kêu lên sau khi đắc thắng giương lá cờ đỏ của TQ trên một hòn đá san hô nhô lên ở vùng biển khơi phía tây bắc Philippines.
Chỉ ngay ngoài khơi Malaysia, thuỷ thủ TQ thực hiện buổi chào cờ trên boong tàu để biểu thị sự kiểm soát của Bắc Kinh đối với bãi ngầm James đang có tranh chấp, cách bờ biển Malaysia khoảng 80 km. Trong một diễn biến nguy hiểm hơn, một tàu khảo sát TQ đâm vào một tàu nhỏ Việt Nam trong vùng biển tranh chấp.
Những cảnh phim hấp dẫn, bao gồm cả cảnh nhiều người chưa từng thấy, được chọn lọc từ một phim tài liệu truyền hình 8 phần mang tên “Hành trình trên biển Nam Hải” đã được đài truyền hình trung ương TQ CCTV 4 phát sóng từ ngày 24 đến 31 tháng 12 năm ngoái. Với tường thuật bằng tiếng Trung và phụ đề tiếng Anh, phim tài liệu này cũng đã được đăng tải trên trang web của CCTV để cả thế giới vào xem.
Trong một nước cộng sản Châu Á đầy bí mật, bộ phim tài liệu hơn ba giờ cung cấp một cái nhìn hiếm hoi về cách TQ hoạt động trong bóng tối để củng cố yêu sách chủ quyền ở vùng biển chiến lược, bí mật theo dõi đối thủ, và từng bước hình thành một sự hiện diện vũ trang để ngăn chặn những đối thủ nào thách thức yêu sách xa xưa và việc bành trướng hiện nay của họ.
Toàn bộ câu chuyện được thuật theo cái nhìn của các phóng viên CCTV, tháp tùng riêng biệt với các nhân viên hải giám TQ, tuần tra biển, thi hành luật pháp, ngư dân và các chuyên gia biển trong các chuyến đi xuyên vùng biển lộn xộn này.
‘Một thông báo ớn lạnh’
Carl Thayer, chuyên gia nổi tiếng về tranh chấp biển Đông, nói rằng đoạn video nhắm vào nhiều loại khán giả. Sự kiện nó bằng tiếng Trung với phụ đề tiếng Anh, cho thấy rằng đối tượng chính của nó là trong nước, nhưng cũng có nghĩa là để phục vụ như một lời cảnh báo cho các chính phủ đối địch, ông nói.
“Đoạn video là một hình thức bảo đảm rằng chính phủ TQ đang ở tuyến đầu trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của TQ ở biển Đông”, ông Thayer nói với GMA News Online.
Ông nói thêm rằng video này cũng là “một thông điệp ớn lạnh cho các nước có tranh chấp rằng TQ sẽ dùng sức mạnh ‘cơ bắp’ như đâm tàu để thực thi ‘quyền chủ quyền’.”
“Từ khi có video này, bằng chứng rộ lên về việc Cảnh sát biển TQ đã đưa chuyện đâm tàu vào tàu thành một mục trong chiến thuật của họ”, ông Thayer nói.
Đi kèm với nền nhạc êm dịu, bộ phim tài liệu dài đưa ra những hình ảnh toàn cảnh vùng nước màu ngọc lam này mà họ nói là chứa đựng nhiều tài nguyên dầu khi và sinh vật biển tươi tốt, cùng các đảo lớn nhỏ xa xôi với những bãi cát trắng xoá. Bộ phim tài liệu này rõ ràng được thiết kế để thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc trong các khán giả TQ và lôi kéo cả nướcvề tính cấp bách của việc bảo vệ lãnh thổ rộng lớn ngoài khơi bên ngoài đảo Hải Nam cực Nam của TQ.
Bô phim thấm đượm lòng yêu nước và cảm xúc.
Một lính TQ trong bộ đồng phục ngụy trang trên một rạn san hô xa nói rằng anh bảo vệ mảnh đất lãnh thổ tranh chấp nằm chỗ hư không này trong 16 năm. Nhiệm vụ lạ thường của anh sắp kết thúc, anh nói và bật khóc.
“Sau khi kết thúc nhiệm vụ, tôi có thể không có cơ hội nào khác để đến Nam Sa”, người lính tuyệt vọng nói, dùng tên tiếng Trung cho quần đảo được quốc tế biết đến với tên quần đảo Spratly (Trường Sa).
Chuỗi các đảo lớn nhỏ, rạn san hô và đảo san hô hầu hết đều cằn cỗi này đang có tranh chấp giữa TQ, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei. Các đảo/đá này được cho là giàu trữ lượng dầu khí và nằm gần các tuyến đường biển quốc tế lớn.
“Tôi làm nhiệm vụ hết mình tới giây phút cuối cùng, tôi nghĩ thế. Tôi tới đây khi 18 tuổi, tràn đầy tuổi xuân. Sau khi chúng tôi rời khỏi nơi này, chỉ có 16 năm này mới đáng nhớ”, anh nói, giải thích rằng sự hy sinh của mình là một cách biểu lộ lòng yêu nước.
“Tiền là vô dụng ở đây. Các quan hệ rất đơn giản. Động cơ đến đây cũng đơn giản. Đó chỉ là để đáp đền”.
Chủ tịch TQ Tập Cận Bình, trong một cảnh quay ngày 13 tháng 4 năm 2013, cho thấy đang chào đón một chiếc ghe chở ngư dân nhìn có vẻ mệt mỏi thuộc cộng đồng Đàm Môn ven biển Hải Nam sau một đợt đánh cá dài ngày. “Chúc mừng các bạn trở về về an toàn!” Tập Cận Bình mỉm cười nói.
“Chúc các bạn một vụ thu hoạch tốt mỗi khi đánh cá trên biển,” ông nói, và sau đó chụp chung với những ngư dân sạm nắng này một ảnh lưu niệm. Sau đó, như dự đoán, nhà lãnh đạo TQ và các ngư dân vỗ tay hoan nghênh ngay đúng cùng một lúc trước máy quay thu cảnh tượng hân quan này.
Bị Hoa Kỳ cùng các đồng minh phương Tây và châu Á chỉ trích về việc xâm lược lãnh thổ, TQ sử dụng bộ phim tài liệu để phát sóng về lập trường của họ với thế giới.
“Kể từ thời Tây Hán, về cơ bản, các khu vực biển Đông là một phần lãnh thổ của TQ”, một chuyên gia bản đồ TQ nói với CCTV.
Bản đồ xưa của TQ được chiếu lên màn hình, với người dẫn chuyện nói rằng biển Đông luôn luôn là một phần của tất cả các địa giới lãnh thổ “không có ngoại lệ”.
“Dựa trên một số lượng lớn các tài liệu lịch sử cũng như rất nhiều các nghiên cứu văn bản nghiêm túc và khắt khe, các đảo trên biển Đông thuộc về TQ. Không thể phủ nhận, đó là một sự kiện lịch sử cơ bản”, một nhà phân tích TQ nói.
Thành phố Tam Sa
Trong một nỗ lực để tuyên truyền rằng TQ đã có quyền kiểm soát chính trị và hành chính đối với các vùng lãnh thổ tranh chấp, bộ phim tài liệu này tô đậm sự xuất hiện của thành phố Tam Sa, được thành lập vào năm 2012 với cơ sở chính tại quần đảo Hoàng Sa, hay Tây Sa theo tiếng Trung. Mặc dù do TQ kiểm soát, cụm đảo lớn nhỏ và các rạn san hô đang có tranh chấp với Việt Nam và Đài Loan.
Vùng đất lớn nhất của Tây Sa, đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm), được mô tả như những mảnh bất động sản phát triển nhất tại khu vực tranh chấp này, giống như một thành phố nhỏ.
Nó có một siêu thị, một ngân hàng, một bưu điện, một cơ sở lọc muối cho nước uống, các tòa nhà thấp, và một đường chính được gọi là đường Bắc Kinh. Có điện thoại di động, kết nối Internet, truyền hình cáp với 52 kênh, và một đài phát thanh gọi là “Tiếng nói biển Nam Hải” liên tục phát đi các bản tin thời tiết cho ngư dân. Một ảnh chụp từ trên không cho thấy đường băng dài của Vĩnh Hưng.
Trên đảo Vĩnh Hưng của Tây Sa, khoảng 70 ngư dân TQ nhận được 500 nhân dân tệ trợ cấp hàng tháng.
Lực lượng Quân đội Giải phóng nhân dân được chiếu đang khua súng trường và tiến hành các cuộc tập trận chiến đấu ở Vĩnh Hưng nhưng an ninh tổng thể của khu vực tranh chấp đã được giao cho lực lượng cảnh sát được gọi là chi đội Công an biên phòng Quỳnh Hải. Chi đội Quỳnh Hải giám sát 110 “trạm dịch vụ báo động” để theo dõi và đáp ứng với các ngư dân gặp nạn bất cứ nơi nào trong khu vực.
Với sự phát triển ở Tam Sa, các chuyên gia trẻ và sinh viên vừa ra trường đang đến sống và làm việc ở thành phố dù ở xa xôi này. Khách du lịch TQ cũng đã bắt đầu đến tham quan, theo CCTV.
Cuộc chiến để kiểm soát biển Đông
Bộ phim tài liệu nhắm vào những nỗ lực của TQ để tăng cường sự nắm giữ của họ trên vùng biển rộng lớn mà họ nó nói rằng Bắc Kinh đã mất 42 đảo vào tay các nước tranh chấp khác. Một hệ thống tuần tra và giám sát đã được thành hình trên biển Đông và các căn cứ triển khai-phía trước đã được thành lập để bảo vệ chủ quyền TQ.
Để phô diễn hỏa lực, CCTV cho thấy nhân viên hải giám TQ trên boong của một con tàu, chỉa súng về phía một mục tiêu tưởng tượng trong một cuộc diễn tập chiến đấu. Dù vậy, không có việc phô diễn lực lượng quân sự, phản ánh chiến lược lực lượng dân sư và bán quân dân sự ở tuyến trước thay vì Quân đội Giải phóng khổng lồ, để tránh cho quân đội Mỹ và lực lượng đồng minh có chỗ biện minh cho việc can thiệp quân sự trong khu vực của TQ.
Trong khi tung ra khả năng hỏa lực của mình, TQ xua tan nỗi sợ hãi, thường bị Washington lên tiếng rằng sự hiện diện ngày càng tăng của họ cuối cùng sẽ đe dọa tự do hàng hải trong khu vực. Họ nói nền kinh tế khổng lồ của mình phát triển mạnh trong những tuyến đường biển mở mà 60% hàng hóa ngoại thương và 80 % dầu nhập khẩu của họ đi ngang qua đó.
Thay vì là một mối đe dọa, TQ được tô vẽ như là “thiên thần giám hộ” của vùng biển tranh chấp, nơi mà TQ đã tổ chức nhiệm vụ cứu hộ thậm chí cho các thủy thủ nước ngoài. Theo bộ phim này từ năm 2007 đến năm 2012, tuần tra TQ đã cứu 18 000 người.
Nhưng bộ phim tài liệu gửi một thông điệp rõ ràng rằng TQ sẽ không ngần ngại hành động khi lợi ích của họ bị đe dọa.
Trong một cảnh quay về cuộc đụng độ năm 2007 tại quần đảo Hoàng Sa, một chiếc tàu thực thi luật biển của TQ đã được lệnh đâm vào một tàu nhỏ Việt Nam bị cáo buộc là cố phá hoại một cuộc khảo sát dầu của Bắc Kinh.
“Chúng tôi không khoan nhượng đối với tàu thuyền của bất kỳ bên nào tham gia vào các hành vi cố tình phá hoại. Khi nào mà chỉ huy ra lệnh, có thể là ủi, đâm hoặc đụng, chúng tôi sẽ kiên quyết thực hiện nhiệm vụ của mình”, Đại úy Yong Zhong của tàu Hải giám 84 từng tham gia vào việc đối chọi với Việt Nam nói.
Bộ phim tài liệu cũng nói tới cuộc đụng độ với Việt Nam năm 1974 làm chết 18 thủy thủ TQ.
Chỉ ngay ngoài khơi của Malaysia, thuỷ thủ TQ đã được cho thấy trong một đoạn video đang tổ chức một buổi lễ chào cờ vào ngày 23 tháng 4 năm 2013 để khẳng định tượng trưng quyền sở hữu và kiểm soát của TQ đối với bãi ngầm James. Các quan chức Malaysia đã tức giận bởi hành động của TQ và kể từ đó đã triển khai tàu hải quân để bảo vệ bãi ngầm James khỏi việc mà họ gọi là sự xâm nhập của TQ vào khu vực tranh chấp rất gần bờ biển của họ.
Ở bãi cạn Scarborough (Panatag Shoal), mà TQ gọi là đảo Hoàng Nham, đoàn của CCTV quay phim cách họ treo cờ TQ lên trên một khối san hô hồi tháng 11 năm 2012. “Chúng tôi đã có một bảng hiệu ở đây”, một nhân viên thực thi pháp luật TQ cho biết. “Philippines nhổ nó lên. Họ đặt một bảng hiệu và chúng tôi nhổ nó đi.” Một cuộc giằng co trong quá khứ ở bãi cạn nầy cũng được mô tả, cho thấy một tàu thực thi pháp luật TQ bảo vệ ngư dân TQ trước một tàu khu trục nhỏ “nước ngoài”.
TQ cũng tiết lộ một hoạt động “tối mật” mà họ tổ chức tháng 8 năm 1994 để xây dựng các công trình kiến trúc ở đá Vành Khăn (Mischief Reef). Trái ngược với sự bảo đảm của TQ vào lúc đó là họ chỉ xây dựng nơi trú ẩn cho ngư dân, TQ đã thừa nhận trong bộ phim tài liệu này rằng các công trình kiến trúc đó có ý để dùng như là một kho tiếp liệu và bây giờ là một tiền đồn quân sự được trang bị với các đĩa vệ tinh và các chức năng như một căn cứ quân sự tuyến trước của TQ trong quần đảo Trường Sa.
Ba mục tiêu
Tuần tra của TQ trong khu vực tranh chấp có ba mục tiêu: Xác lập sự hiện diện để ngăn chặn, thực hiện giám sát đối với các bên yêu sách khác, và khẳng định quyền kiểm soát lãnh thổ của TQ, theo Chen Huabei, Phó tổng giám đốc Cục quản lý hải dương quốc gia Nam Hải.
“Chỉ thông qua thực thi pháp luật làm cho thấy sự xuất hiện của mình bằng cách tuần tra trong vùng biển mà chúng tôi xác định thẩm quyền, chúng tôi mới có thể tuyên bố chủ quyền tốt nhất đối với các vùng biển này,” Chen nói.
Các tàu tuần tra của TQ được quay đang bí mật theo dõi các tiền đồn quân sự của Việt Nam và Philippines trong quần đảo Trường Sa năm ngoái.
Ngoài khơi một đảo do Việt Nam chiếm đóng ở Trường Sa, một nhân viên giám sát TQ ghi nhận những cải tiến và xây dựng mới do VN thực hiện. Họ cũng theo dõi các lính Philippines ở đảo Bình Nguyên (Flat Shoal), được Philippines gọi là Patag.
“Người này đang lấy nước,” một viên chức TQ nói, chỉ vào một lính Phi Luật Tân trên một màn hình giám sát. “Người này chỉ mới đến bằng một chiếc thuyền nhỏ,” một nhân viên thứ hai nói thêm.
“Hãy nhìn vào lá cờ. Đó là lá cờ của Philippines,” nhân viên đầu thêm vào. “Ôi một căn nhà tệ hại” bạn đồng hành của anh ta châm biếm khi nhìn vào căn lều dột nát của quân đội Philippines.
Tại bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), Philippines gọi là Ayungin TQ gọi là Re’nai (Nhân Ái), một sĩ quan TQ nhận thấy có thứ gì trông giống như một mảnh mới của bức tường ở phía hông tàu Hải quân Philippine BRP Sierra Madre mắc cạn với một ít thủy quân lục chiến Philippines đang trú đóng trên đó.
“Cái này được xây dựng sau khi con tàu bị mắc cạn,” một viên chức TQ cho biết. “Nó giống như khu nhà ở của họ”, một viên chức hải giám nói thêm.
Logic của tất cả mọi thứ: dầu, khí đốt, tài nguyên, lãnh thổ và an ninh của TQ
Bộ phim tài liệu mô tả vùng biển tranh chấp này là vùng biển lớn nhất của TQ rất quan trọng đối với an ninh và là một biên giới then chốt cho nhiên liệu và thực phẩm.
Bộ phim tiết lộ rằng TQ đã bắt tay thực hiện nhiều thăm dò dầu khí lớn nhưng không nói ở đâu. Thay vào đó, nó cho thấy hai mỏ dầu ngoài khơi đã phát triển được trang bị với thiết bị hiện đại.
TQ ước tính có khoảng 23-30 tỉ thùng dầu và khối lượng lớn khí tự nhiên nằm dưới biển Đông Hàng chục ngàn tấn kim loại quý và khoáng chất đã được phát hiện, bao gồm mangan, niken, đồng và coban. Ngoài ra, một lượng lớn thứ mà họ gọi là “băng cháy” (combustible ice) đã được tìm thấy và có thể được TQ phát triển như là một nguồn năng lượng thay thế.
Ít nhất 1 500 loài cá và sinh vật biển được tìm thấy ở vùng biển tranh chấp, bao gồm cả đuối khổng lồ, rùa khổng lồ, cá vẹt, cá bay. Vùng biển này tràn ngập khoảng 2,81 triệu tấn cá, trong đó có 500 000 tấn trong quần đảo Trường Sa.
TQ bắt đầu những nghiên cứu khoa học đầu tiên về dự trữ dầu khí tiềm năng ở quần đảo Trường Sa vào năm 1984, trên 38 rạn san hô, trong một nghiên cứu được gọi là Điều tra khoa học tích hợp Nam Sa. Theo bộ phim này, sau khi đã trở nên rõ ràng rằng các vùng nước rộng lớn này có thể chứa nhiều mỏ dầu và khí đốt khổng lồ, các nước đối thủ bắt đầu cướp lấy lãnh thổ của TQ, làm dấy lên các cuộc xung đột.
Với tất cả thứ vàng đó, TQ đã và sẽ sử dụng sức mạnh của mình để khẳng định quyền kiểm soát các khu vực tranh chấp, các nhà phân tích nói.
“Tôi nghĩ rằng hành động của TQ cho thấy rằng họ quyết tâm sử dụng các nguồn lực của biển Đông, bất chấp các tranh chấp pháp lý,” chuyên gia phân tích đóng ở Singapore Parag Khanna, giáo sư tại trường Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu) Đại học Quốc gia Singapore, nói với GMA News Online.
Sáu tháng sau khi bộ phim tài liệu của TQ công bố, phản ứng từ cộng đồng quốc tế “là một sự im lặng cùng khắp,” phản ánh sự miễn cưỡng của nhiều nước trong việc đối mặt với TQ, nhà phân tích Thayer nói. Nhưng toàn bộ khu vực, không phải chỉ có những kẻ thù về lãnh thổ hiện nay của TQ mới phải chú ý tới những lá cờ đỏ trong video này, Thayer cảnh báo.
“Về mặt tư riêng, video này phải được xem như là phiền toái không chỉ đối với nước tranh chấp chính, Việt Nam và Philippines mà còn với các nước đi biển khác ở Đông Nam Á”, ông nói.
KG/RSJ, GMA Tin tức

Friday, July 11, 2014

Hội chứng nhớ lầm của Trung Quốc

Hội chứng nhớ lầm của Trung Quốc

Cả nước đã được dạy sai rằng người Trung Quốc đã phát hiện và đặt tên các đảo của biển Đông
China’s false memory syndrome
Bill Hayton
Prospect (10/07/2014)

(bản dịch này cũng đã đăng ở đâhttp://anhbasam.wordpress.com/2014/07/12/2750-hoi-chung-nho-lam-cua-trung-quoc/)

Biển Đông là nơi mà tham vọng của Trung Quốc (TQ), nỗi âu lo của châu Á và sức mạnh của Mĩ hội tụ nhau. Trong vùng biển của mình TQ đã từ bỏ mọi giả vờ về "trỗi dậy hòa bình" để ngã về kiểu ngoại giao pháo hạm. Tàu cảnh sát biển vũ trang TQ đã đâm vào tàu của đối thủ Việt Nam, phong tỏa các tiền đồn của Philippines, ngăn trở các tàu khảo sát dầu của Malaysia và doạ nạt các tàu Indonesia đang bảo vệ ngư trường quốc gia. Đáp lại, tất cả các nước này đang mua vũ khí nhiều hơn và cải thiện quan hệ quân sự với các chính phủ các nước khác lo lắng với sự quyết đoán ngày càng tăng của TQ – chủ yếu là Hoa Kì mà còn có Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Australia.

Cội rể của tất cả các rắc rối này là cái mà Bắc Kinh gọi là "yêu sách lịch sử không thể tranh cãi" chiếm tới đến 80 % biển Đông: chạy thẳng từ cảng Hồng Kông tới gần sát bờ biển Borneo cách xa 1500 km. Vấn đề với yêu sách này là không có bằng chứng đáng tin cậy nào làm chỗ dựa cho nó. Tuy nhiên, mẫu chuyện hư cấu lịch sử này đe dọa hòa bình và an ninh ở châu Á và cung cấp sàn diễn cho một cuộc đấu tranh giữa TQ và Mĩ với những tác động mang tính toàn cầu. Có vẻ rất khó có thể tin rằng cuộc đối đầu tiềm năng có tính huỷ diệt này lại có gốc rể là tranh chấp về những đảo rải rác gần như hoàn toàn không ở được.

Có hai nhóm "đảo" chính ở biển Đông. (Chỉ có một số rất ít là đảo thực sự, phần lớn chỉ là rạn san hô, bãi cát hoặc đá). Trong cụm phía bắc, quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp giữa TQ và Việt Nam. Ở phía nam quần đảo Trường Sa rộng hơn nhiều do TQ, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines đòi hỏi chủ quyền. Hầu hết những chỗ hoang vắng này đều có tên Anh, thường do các tàu và các nhân viên trên tàu vẽ ra bản đồ các đảo này tặng cho tên riêng. Richard Spratly là một thuyền trưởng tàu săn cá voi đã phát hiện hòn đảo có tên ông vào năm 1843, tàu HMS Iroquois cho tên của mình cho đá Iroquois (bãi Amy Douglas) trong khi làm công việc khảo sát trong thập niên 1920, và cứ thế tiếp tục...

Khi một ủy ban của chính phủ TQ lần đầu đặt tên tiếng Trung cho các đảo vào năm 1935, tất cả việc họ làm là dịch hoặc phiên âm các tên tiếng Anh đang có. Ví dụ, ở quần đảo Hoàng Sa, đá Antelope Reef (Hải Sâm) trở thành Lingyang ( : linh dương = antelope) và ở quần đảo Trường Sa, North Danger Reef (đá Bắc) trở thành Beixian (北崄: bắc hiểm [nguy hiểm phía bắc = north danger], đảo Spratly (Trường Sa đã trở thành Si-pu-la-te-li (斯普拉特利 phiên âm tên tiếng Anh)[*]. Uỷ ban TQ chỉ việc sao y các bản đồ, các sai sót và mọi thứ của Anh. Các tên này sau đó được xem xét chỉnh lại hai lần. Bãi cạn Scarborough, được đặt tên theo tên một tàu của Anh vào năm 1748, được phiên âm là Si-ka-bo-lei jiao (斯卡伯勒礁 –Tư ca bá lặc tiều) vào năm 1935, đổi tên thành Min'zhu Jiao (民主礁- Dân chủ tiều [đá Dân chủ]) của nước THDQ vào năm 1947 và sau đó được CHNDTH đặt tên ít nhạy cảm chính trị hơn là Huangyan (黄岩岛 – Hoàng Nham [đá màu vàng]) vào năm 1983.

Hiện nay, chính quyền TQ dường như hoàn toàn không biết về điều này. Việc biện hộ khuôn mẫu chính thức về chủ quyền "không thể tranh cãi" của TQ đối với biển Đông bắt đầu bằng cụm từ "người TQ là những người đầu tiên phát hiện và đặt tên cho quần đảo Nam Sa." Trên thực tế, "người TQ" chỉ sao chép các tên này từ người Anh. Ngay cả từ "Nam Sa" (có nghĩa là "cát phía Nam") cũng đã chạy vòng quanh trên bản đồ TQ. Năm 1935 tên này đã được sử dụng để mô tả các khu vực biển cạn mà được biết trong tiếng Anh với tên là "Macclesfield Bank" (lại theo tên một tàu khác của Anh). Năm 1947, tên Nam Sa đã được chuyển về phía nam trên bản đồ TQ để chỉ quần đảo Trường Sa.

Một cuộc xem xét đầy đủ mỗi biện minh mà phía TQ đưa ra sẽ tốn nhiều trang giấy nhưng đủ để nói rằng chưa hề thấy có bằng chứng khảo cổ học nào về việc có tàu TQ chạy trên biển này trước thế kỉ 10. Cho đến thời điểm đó tất cả việc giao thương và khai thác đều do các tàu thuyền Malaysia, Ấn Độ và Ả Rập thực hiện. Các tàu này có thể, vào lúc này lúc khác, có chở khách TQ. Các chuyến đi được bàn luận nhiều của các "đô đốc thái giám" TQ kể cả Zheng He (Trịnh Hoà), kéo dài tổng cộng khoảng 30 năm, cho đến thập niên 1430. Sau đó, mặc dù các thương nhân và ngư dân chạy tàu thuyền tới lui dọc biển này, nhà nước TQ không bao giờ đến các vùng biển sâu lần nào nữa cho mãi đến khi chính phủ Quốc dân đảng được Mĩ và Anh tặng cho một số tàu thuyền vào cuối chiến tranh thế giới thứ hai.


Bản tin trong báo South China Morning Post ngày 13/1/1947 cho thấy nhờ hơn 100 tàu do Mĩ tặng mà hải quân THDQ đã chiếm đóng HS, TS và Pratas sau thế chiến II (ND sưu tầm từ Văn khố quốc gia Australia - NAA)

Lần đầu tiên quan chức chính phủ TQ đặt chân lên một đảo thuộc quần đảo Trường Sa là ngày 12 tháng 12 năm 1946, vào thời điểm đó cả hai đế quốc Anh và Pháp đã đưa ra các tuyên bố chủ quyền ở biển này. Một phái đoàn TQ cấp tỉnh đã đến quần đảo Hoàng Sa một vài thập kỉ trước đó vào ngày 6 tháng 6 năm 1909, thực hiện điều có vẻ như là một cuộc thị sát trong một ngày, nhờ hai thuyền trưởng Đức mượn của hảng buôn Carlowitz dẫn đường. Nhiều đối đầu quốc tế phát xuất từ tuyên bố đơn sơ này.

Đây là toàn cảnh lịch sử hiện lên từ các nghiên độc lập tốt nhất. Nhưng khi nói điều này cho hầu như bất kì người TQ nào thì họ sẽ phản ứng với sự ngờ vực. Từ phòng học đến sảnh đường ngoại giao, một cách nhớ chính thức về chủ quyền của TQ trên biển đã trở thành một thực tế được xác lập. Làm sao mà một ý thức quốc gia về quyền được hưởng đối với biển Đông lại phát triển rất mạnh từ một nền móng lung lay như vậy?

Câu chuyện có thể bắt đầu với cuộc chiến tranh nha phiến lần một vào năm 1840 và điều mà bây giờ người TQ gọi là "thế kỉ quốc sỉ (thế kỉ nhục nước)" tiếp sau đó. TQ rõ ràng gánh chịu đau thương dưới bàn tay của đế quốc phương Tây và Nhật Bản. Hàng ngàn người bị giết, nhiều thành phố đã bị thuộc địa hoá và chính phủ rơi vào vòng nợ nần các ngân hàng quốc tế.

Nhà địa lí William Callahan và những người khác đã vạch ra cách mà phe Quốc dân đảng (QDĐ) và Cộng sản, như là một phần của cuộc đấu tranh chống lại sự thống trị của nước ngoài, đã cố tình gieo trồng một ý thức về vi phạm lãnh thổ để động viên nhân dân như thế nào. Từ những năm 1900 trở đi, các nhà địa lí của TQ như Bai Meichu (Bạch Mi Sơ), một trong những người sáng lập Hội Địa lí TQ, bắt đầu vẽ các bản đồ cho công chúng TQ thấy các nước đế quốc đã xâu xé lãnh thổ TQ tới mức nào.

Những "bản đồ quốc sỉ" này cho rằng lãnh thổ hợp lẽ của TQ bao gồm tất cả các nước chư hầu trước kia đã từng triều cống hoàng đế Trung Hoa. Các bản đồ này bao gồm bán đảo Triều Tiên, nhiều vùng rộng lớn của Nga, Trung Á, Hymalaya, và nhiều khu vực của Đông Nam Á. Các đường được vẽ trên các bản đồ để đối chiếu các khu vực rộng lớn của đế quốc xưa với tình trạng teo lại của đất nước này. Tai hại là sau khi ủy ban chính thức của TQ đổi tên các đảo trong biển Đông vào năm 1935, một trong những đường này đã được vẽ ra vòng quanh biển này. Đây là cái mà bây giờ được gọi là đường "chữ U" hoặc "9 vạch" choán 80 % biển Đôngvà tất cả các đảo bên trong nó. Tai nạn bản đồ đó, dựa trên việc đọc sai lịch sử Đông Nam Á, lại là cơ sở cho yêu sách chủ quyền hiện tại của TQ.

TQ rõ ràng gánh chịu sự sỉ nhục dưới bàn tay của người nước ngoài độc đoán nhưng nhà nước hiện đại nổi lên từ đống đổ nát của nhà Thanh và các cuộc nội chiến tranh sau đó đã tìm thấy niềm an ủi trong những ghi nhớ sai lầm vốn ít liên quan đến những gì thực sự xảy ra. Như bất kì người nào đi xem triển lãm "Con đường hồi sinh" mới tại Bảo tàng Quốc gia TQ ở quảng trường Thiên An Môn sẽ thấy ra, hội chứng nhớ lầm này là một thành phần cốt lỏi trong huyền thoại làm nên tính chính đáng của Đảng Cộng sản: huyền thoại đảng cứu đất nước thoát khỏi sỉ nhục.

Các viện nghiên cứu và các ủy ban của chính phủ QDĐ trong nửa đầu thế kỉ 20 đã để lại Đảng Cộng sản một "lịch sử chính thức" sai lầm có thể chứng minh được. Chính điều này, chứ không phải là mối đe dọa của đám đông theo chủ nghĩa dân tộc trên đường phố làm cho tranh chấp Biển Đông rất khó giải quyết và nguy hiểm. Nhưng nếu thừa nhận sự sai trái của nó sẽ loại bỏ một nền tảng cốt lỏi của vị thế của Đảng trong đỉnh cao của xã hội TQ.

Rủi thay, không có cách dễ dàng nào khác cho xung đột đang tiếp diễn trong biển Đông. Không bên nào muốn kích động một cuộc xung đột hoàn toàn nhưng không ai sẵn sàng giảm bớt căng thẳng bằng cách điều chỉnh yêu sách lãnh thổ phải chăng hơn. Một số quan chức TQ trong tư riêng thừa nhận sự vô lí về pháp lí của việc duy trì yêu sách "đường chữ U" này. Nhưng cũng chinh các quan chức này lại nói rằng họ không thể chính thức điều chỉnh yêu sách này vì những lí do chính trị (sự chỉ trích trong nước sẽ là rất lớn). Thế thì làm thế nào để có thể thuyết phục dân TQ có một cái nhìn khác về lịch sử biển Đông?

Có lẽ là câu trả lời nằm ở Đài Loan. Các cơ hội cho một cuộc tranh luận tự do hơn về lịch sử TQ ở Đài Loan lớn hơn ở đại lục rất nhiều. Hiện đã có một số học giả "bất đồng chính kiến" đang xem xét lại các khía cạnh của lịch sử thế kỉ 20. Đài Loan cũng là nơi các văn thư của THDQ, chính phủ vẽ nên "đường chữ U" lần đầu, được lưu trữ. Một cuộc kiểm tra thấu đáo và mở rộng quá trình lộn xộn mà theo đó đường này được vẽ ra có thể thuyết phục những người làm ra dư luận phải xem xét lại một số những huyền thoại của QDĐ mà từ lâu họ đã tuyên bố như là chân lí trong kinh.

Có lẽ lí do mạnh nhất để bắt đầu tại Đài Loan là chính quyền Bắc Kinh sợ rằng bất kì sự nhượng bộ nào mà họ có thể đưa ra sẽ bị lớn tiếng chỉ trích tại Đài Bắc. Nếu nhà chức trách ở đó muốn xuống thang sự xung đột do việc chép sử trong biển Đông, thì sẽ dễ dàng hơn nhiều để chính quyền Bắc Kinh làm tương tự như vậy. Chìa khóa cho một tương lai hòa bình ở châu Á nằm trong việc xem xét trung thực và có tính phê phán quá khứ.

Quyển The South China Sea and the struggle for power in Asia (Biển Đông và cuộc đấu tranh giành quyền lực ở châu Á) của Bill Hayton sẽ được Đại học Yale xuất bản vào tháng 9.




[*] Lưu ý rằng đối với âm R người Hoa thường chuyển thành âm L (ví dụ: Roma --> Luó Mă [La Mã], Rousseau--> Lú Suō [Lư Thoa]... mới thấy Si-pu-la-te-li [tư phổ lạp đặc lợi - 斯普拉特利] là phiên âm của S-p-ra-t-ly, hoặc Si-ka-bo- lei (Tư ca bá lặc - 斯卡伯勒礁) là phiên âm của S-car-bo-rough hay Pai-la-su [phách lạp tô - 柏拉苏] là Pa-ra-cel... Qua đó cũng thấy khi chuyển thêm qua âm Hán Việt thì thường là cách biệt quá xa so với âm gốc như mấy ví dụ vừa nêu (ND).

Saturday, July 5, 2014

Quần đảo Hoàng Sa: Bằng chứng lịch sử phải được kiểm tra

Quần đảo Hoàng Sa: Bằng chứng lịch sử phải được kiểm tra

Bill Hayton
RSIS (03/07/2014)

Tóm tắt

Những người ủng hộ yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc đối với các đảo của biển Đông thường xuyên nêu ra những dẫn chứng lịch sử mơ hồ để hậu thuẫn cho lập luận của họ. Để được đánh giá thoả đáng, các dẫn chứng chính xác cần được đưa ra tường minh và đánh giá.trung thực.

Bình luận

Bài bình luận của giáo sư Li Dexia (Lí Đức Hà) về quần đảo Hoàng Sa là một tóm tắt hữu ích về các lập luận đưa ra để hậu thuẫn ‘yêu sách lịch sử’của Trung Quốc đối với các đảo. Tác giả bài viết này biết rõ những lập luận này; bài viết năm 2003 của cô, “The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea (Đường chấm chấm trên bản đồ biển Đông củaTrung Quốc)” là một trong những bài viết đầu tiên bằng tiếng Anhbàn luận về quan điểm của Trung Quốc.

Tuy nhiên, bài bình luận của cô trên RSIS có tựa là “Quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa): Tại sao chủ quyền của Trung Quốc là 'không thể tranh cãi'” đề ngày tháng 20 tháng 6 năm 2014 lại thiếu vắng chứng cứ có thể kiểm chứng được. Sẽ có nhiều lợi ích cho cộng đồng các nhà nghiên cứu biển Đông nếu tác giả, hoặc những người khác, có thể khắc phục tình trạng này.

Không có bằng chứng thuyết phục

Tác giả nói với chúng ta rằng "Dựa trên nhiều tài liệu lịch sử Trung Quốc, ít nhất là từ thời Bắc Tống (960-1127AD), Trung Quốc đã thực thi có hiệu quả chủ quyền và quyền tài phán trên hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa)".

Những người ủng hộ yêu sách lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông đôi khi nêu dẫn chứng từ  các tài liệu xưa có đề cập đến 'Biển' hoặc ‘các đảo'. Theo hiểu biết của tôi, không một dẫn chứng nào trong số đó có thể được nhận ra là khớp với bất kì đảo cụ thể nào. Đơn giản là không có cách nào để nói liệu các đảo được đề cập đến có thuộcvề quần đảo Hoàng Sa hoặc thuộc về quần đảo Trường Sa hay chỉ là một trong hàng trăm đảo nằm cách bờ biển TQ trong vòng một vài hải lý.

Liệu tác giả có thể đưa ra các dẫn chứng cụ thể từ các câu chữ chính xác trong các tài liệu lịch sử hay không? Có tài liệu nào trong đó xác định quần đảo "Tây Sa" và "Nam Sa" theo tên hay không? Dựa trên nghiên cứu của riêng tôi, tôi không tin rằng có bất kì tài liệu chính thức của TQ phát hành trước năm 1909 sử dụng những từ ngữ này.

Thực tế, tôi không thấy có bằng chứng thuyết phục nào chứng minh TQ có bất kì quan tâm chính thức nào tới quần đảo Hoàng Sa trước năm 1909. Như nhà nghiên cứu Pháp Francois-Xavier Bonnet đã chứng minh, bản đồ tỉnh Quảng Đông xuất bản vào năm 1897 không vượt quá phía nam đảo Hải Nam. Tình hình này thay đổi vào năm 1909 vì chủ nghĩa dân tộc dây lên ở Trung Quốc bị kích động, đặc biệt do việc phát hiện có một doanh nhân Nhật Bản đang khai thác phân chim ở đảo Pratas - nằm giữa Hồng Kông và Đài Loan.

Giai đoạn quan trọng trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa bị bỏ qua

Sau phát hiện đó, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn tổ chức một nhóm người đi đến quần đảo Hoàng Sa.Theo chủ công ty tàu hàng trong khu vực là người Pháp tên PA Lapicque (ghi lại trong một cuốn sách xuất bản 20 năm sau), phái đoàn của quan tổng đốc được hai người Đức của xí nghiệp Carlowitz và Công ti dẫn đường.

Có vẻ là không có hoa tiêu địa phương nào làm được nhiệm vụ đó. Nhóm đã phải bỏ neo ngoài bờ biển đảo Hải Nam nằm chờ thời tiết tốt và sau đó đi đến quần đảo Hoàng Sa vào ngày 06 tháng 6 rồi trở về Quảng Châu vào ngày hôm sau. Bây giờ chuyến đi này là cơ sở cho yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Lapicque ghi nhận với sự ngờ vực là làm sao mà chuyến đi ngắn ngủi này lại sắp xếp để vẽ ra được 15 bản đồ chi tiết của quần đảo Hoàng Sa. Có vẻ có nhiều khả năng là chính quyền Quảng Đông chỉ đơn giản là sao chép các bản đồ quần đảo này của người châu Âu lúc đó và đặt tên TQ cho các thể địa lí ở đó. Dường như cái tên "Tây Sa" có nguồn gốc từ đây ra: có thể là từ dịch của tên tiếng Anh của đảo West Sand (cồn Cát Tây - tức là Tây Sa theo tiếng Trung - ND), một đảo trong quần đảo Hoàng Sa.

Tiến gần hơn đến ngày nay, Giáo sư Lí Đức Hà không chính xác khi khẳng định rằng, "Tuy nhiên, sau khi Nhật đầu hàng vào năm 1945, quần đảo này được trả lại cho Trung Quốc theo Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam". Cả hai tuyên bố này đều không có đề cập đến quần đảo Trường Sa hoặc quần đảo Hoàng Sa. Điều này là do Pháp đã vận động hành lang để cho hai quần đảo này được công nhận là lãnh thổ Pháp nên các đồng minh đã không đưa ra cam kết nào về chủ quyền tương lai của chúng.

Giáo sư Hà cũng bỏ qua một giai đoạn quan trọng trong lịch sử của quần đảo Hoàng Sa. Như chuyên gia Na Uy Stein Tonnesson, đã chứng minh một cách khẳng định, lực lượng vũ trang của cả Trung Hoa Quốc Dân Đảng lẫn của Pháp chiếm đóng các đảo khác nhau trong quần đảo Hoàng Sa sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trung Quốc đến trước, chiếm đảo Phú Lâm trong nhóm An Vĩnh (Amphitrite) vào đầu tháng 1 năm 1947. Vài tuần sau đó Pháp đến và thấy rằng đảo Phú Lâm đã bị chiếm nên đóng quân trên đảo Hoàng Sa (Pattle) trong nhóm Lưỡi Liềm (Crescent).

Để ngỏ yêu sách lịch sử mơ hồ cho kiểm tra độc lập

Lực lượng vũ trang của Pháp, và sau đó của Việt Nam,vẫn kiểm soát đảo Hoàng Sa từ thời điểm đó cho đến khi họ bị tống ra bởi cuộc xâm lược của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1974. Lực lượng Quốc Dân Đảng Trung Quốc rờ bỏ đảo Phú Lâm ngày 04 tháng 5 năm 1950 và mãi đến đến năm 1955 hoặc năm 1956 lực lượng Cộng sản Trung Quốc mới tới thế chỗ.
Có nhiều bằng chứng để chứng tỏ rằng các hoạt động của Trung Quốc nhằm chiếm lấy đảo Hoàng Sa và Nhóm Lưỡi Liềm vào năm 1974 đã được lên kế hoạch trước nhiều tháng và không phải là kết quả ngẫu nhiên của một trận chiến giữa ngư dân với nhau.

Đó là những lần căng thẳng ở biển Đông và nếu muốn vấn đề này được giải quyết, tất cả các bên phải sẵn sàng tham gia vào một cuộc thảo luận cởi mở và nghiêm ngặt. Những dẫn chứng mơ hồ từ các tài liệu lịch sử xưa là không đủ. Tất cả các bên phải làm cho bằng chứng của mình sẵn sàng cho việc kiểm tra độc lập.

Hiện giờ Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đòi quyền sở hữu nhiều nhóm đảo lớn như thể chúng là đơn vị duy nhất. Nếu mỗi bên tranh chấp có thể đưa ra bằng chứng cụ thể cho danh nghĩa/quyền sở hữu của họ đối với mỗi thể địa lí riêng lẻ - chứ không phải cho các nhóm lớn các đảo bên trong nó - thì sẽ có thể đánh giá được từng bằng chứng riêng lẻ. Từ đó, các tranh chấp có thể bắt đầu được tháo gỡ ra.

Bill Hayton là tác giả của “Biển Đông: cuộc đấu tranh giành quyền lực ở châu Á” sẽ được nhà xuất bản Đại học Yale xuất bản vào tháng 9 năm 2014.

Wednesday, July 2, 2014

DI SẢN CỦA ĐƯỜNG 9 VẠCH: QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

DI SẢN CỦA ĐƯỜNG 9 VẠCH: QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

  
Tướng (nghỉ hưu) Daniel Schaeffer

Hầu như mọi người đều tin rằng đường 9 vạch đã được vẽ ra và chính thức xác lập vào năm 1947. Điều này không hoàn toàn chính xác, như Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh đã xuất sắc chứng minh điều này vào ngày 21 tháng 11 năm 2012, nhân dịp hội thảo quốc tế lần thứ 4 do Học viện ngoại giao và hội Luật sư VN tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, dù thời điểm vẽ đó là lúc nào, thế giới cũng phải chờ cho đến tháng 5 năm 2009 khi Trung Quốc (TQ), qua một công hàm gửi cho Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc, chính thức tuyên bố yêu sách của mình trên gần như toàn bộ biển Đông theo đường 9 vạch, tức là 27 năm sau khi thông qua Công ước vịnh Montego. Điều đó có nghĩa rằng đường 9 vạch chỉ có thể lâu tới vậy, nó là bất hợp pháp theo công ước biển quốc tế, và chính sự tồn tại của nó ngăn chặn bất kì nổ lực nào tìm cách giải quyết vấn đề về các yêu sách lãnh thổ. Chỉ khi nào đường 9 vạch được bỏ đi thì các cuộc thảo luận về yêu sách lãnh thổ mới có thể bắt đầu. TQ muốn đảm bảo nền an ninh chiến lược của mình do cảm thấy phải đối mặt với mối đe dọa từ phía Mĩ là điều chúng ta có thể hiểu được. Nhưng để làm như vậy TQ phải khai thác những phương tiện và những cách khác hơn là cố biến biển Đông có tính quốc tế thành một biển của riêng TQ.

Câu chuyện về đường 9 vạch
Nhắc lại những gì tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh đã vạch ra ngày 21 tháng 11 năm 2012, có vẻ là bản đồ đường 9 vạch đầu tiên không phải có từ năm 1947 mà từ tháng 12 năm 1914 và tác giả của bản đồ đó là Hu Jinjie (胡晋接-Hồ Tấn Tiếp), một chuyên gia về bản đồ của TQ. Nhưng nhà vẽ bản đồ này dường như đã không đưa ra bất kì tuyên bố cụ thể nào về ý nghĩa của đường 9 vạch là gì vào thời điểm đó. Và khi đường này xuất hiện lần đầu, hình như là người Pháp, vốn đảm nhiệm việc bảo hộ đế quốc An Nam, trên đất liền cũng như trên biển, do đó cả trên quần đảo Hoàng Sa, bắt đầu từ thời điểm 25/8/1883 và ngày 06/6/1888 khi kí kết Hiệp ước Huế, đã không chú ý hoặc ghi nhận về ấn phẩm này, hoặc đã không phản đối hay không đưa ra bất kì bình luận nào về nó. Chỉ những hồ sơ lưu trữ chưa tìm thấy, nếu có, mới có thể nói lên một điều gì đó về điều đó.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh nói tiếp rằng "tất cả các bản đồ của TQ công bố trong khoảng thời gian từ năm 1920 tới 1930 đều dựa trên bản đồ của Hu Jinjie" và rằng "một đường tương tự trước đó đã xuất hiện trong ấn bản tập bản đồ xây dựng TQ mới ( - Zhongguo Jianshe xin ditu - Trung Hoa kiến thiết tân địa đồ) vào giữa thập niên 1930". Tại thời điểm đó không một ấn bản nào trong số đó có bất kì tính cách chính thức thật sự nào bởi vì chúng không được kèm theo bằng bất kì tài liệu tuyên bố chủ quyền của TQ đối với khu vực bao bọc trong đường 9 vạch.
Liên quan đến quần đảo Trường Sa, cũng có vẻ rằng, khi người Pháp chính thức chiếm hữu chúng vào năm 1930, với tất cả các nghi thức có hiệu lực tại thời điểm đó, và khẳng định chủ quyền đối với quần đảo này vào năm 1933, họ đã không xét tới sự tồn tại của đường 9 vạch. Cũng có vẻ là không bất kì nước nào lên tiếng về việc xác lập chủ quyền đó, đặc biệt là TQ, cũng như Philippines vốn chịu sự cai trị của Hoa Kì. Nhiều nghiên cứu vẫn còn phải được thực hiện về điều này.
Sau đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh nói, đường 9 vạch chính thức đầu tiên đã được “Bai Meichu (白眉初- Bạch Mi Sơ), một quan chức của THDQ vẽ vào tháng 12 năm 1947”. Vào thời điểm đó Sở địa lí của Bộ Nội chính TQ công bố “ ‘bản đồ vị trí các đảo trong Nam Hải’ (南海诸岛位置图 - Nanhai zhudao weizhi tu-Nam Hải chư đảo vị trí đồ) với mục đích xác định phạm vi vùng biển thuộc TQ trong biển Đông. Trong bản đồ này, Pratas,  quần đảo Hoàng Sa, bãi Macclesfield và quần đảo Trường Sa được chỉ ra như là một phần của TQ với việc sử dụng đường 11 đoạn.”
Tới đây chúng ta phải nhấn mạnh các sự kiện sau đây:
1. Vào năm 1947, TQ vẫn do chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch thống trị ngay cả khi ngày càng mất nhiều đất trên lục địa vào tay những người cộng sản.
2. Việc Nhật Bản chiếm đóng châu Á đã kết thúc sau khi bị thua trận vào năm 1945. Và ngày 08 tháng 9 năm 1951 Nhật Bản kí hiệp ước hòa bình San Francisco với Hoa Kì và các cường quốc Đồng minh, theo Điều 23 của Hiệp ước gồm : “Úc, Canada, Tích Lan, Pháp, Indonesia, Vương quốc Hà Lan, New Zealand, Pakistan, Cộng hoà Philippines, Vương quốc Anh và Bắc Ireland”. Theo các khoản của Điều 2b của hiệp ước này, Nhật Bản phải “từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với Formosa (Đài Loan) và Bành Hồ” và theo Điều 2f “từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa”.
Ngoài ra, chúng ta cũng phải chú ý đến thực tế là:
- Hiệp ước San Francisco không lập lại [đầy đủ] các từ ngữ có trong Điều 2 của Hiệp định Shimonoseki (ngày 17 tháng 4 năm 1895), theo Hiệp định này TQ phải nhường lại "cho Nhật Bản vĩnh viễn và đầy đủ chủ quyền các vùng lãnh thổ sau đây, cùng với tất cả các pháo đài, kho vũ khí, và tài sản công cộng trên đó:
- (b) Đảo Formosa, cùng với tất cả các đảo phụ cận hay thuộcvề đảo Formosa.
- (c) Nhóm đảo Bành Hồ, nghĩa là tất cả các đảo nằmgiữa kinh tuyến thứ 119 và 120 đông và giữa vĩ tuyến thứ 23 và 24 bắc."
Hiệp ước San Francisco không nêu chính xác việc từ bỏ ‘tất cả quyền, danh nghĩa và yêu sách” đối với các đảo khác nhau được nêu ra là như thế nào, và các đảo này phải được giao lại cho ai, do đó có chứa một sự mơ hồ rất nguy hiểm cho tương lai. Nhưng vào thời điểm kí kết, kể từ năm 1949 Trung Hoa đã tách thành hai thực thể: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Vì vậy, ngay cả khi không ai trong số hai phía Trung Hoa là một bên kí kết hiệp ước bởi vì lực lượng Đồng Minh không biết phải mời Trung Hoa nào đến đàm phán và kí tên[i], hiển nhiên rằng Điều 2b đã được áp dụng cho Đài Loan, ít nhất là cho đến khi hai phía thống nhất lại, nếu xảy ra. Và liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, hiển nhiên rằng quần đảo Hoàng Sa phải trở về trong vòng tay của Pháp vốn vẫn là nước bảo hộ của An Nam từ khi có hiệp ước Huế và quần đảo Trường Sa phải được giao lại cho thuộc địa của Pháp là Nam Kì, vốn đã quản lí các quần đảo này cho đến khi Nhật Bản "đảo chánh" thực dân Pháp vào năm 1945.
3. Trong năm 1947, rồi bốn năm trước Hiệp ước San Francisco, người Pháp bận tâm với việc dánh nhau với Việt Minh hơn là chú ý nhiều đến quần đảo Hoàng Sa. Đó là lí do, như Stein Tonnesson, người đã có cơ hội để nghiên cứu các tài liệu lưu trữ của Pháp, đã chứng minh trong một bài viết mang tên “The Paracels, the ‘other’ South China Sea dispute (Quần đảo Hoàng Sa, tranh chấp biển Đông ‘khác’)”[ii], rằng Pháp đã không thực sự phản ứng khi TQ tự đóng quân trên đảo Phú Lâm vào năm 1947. Đây cũng là lí do tại sao họ dường như không có phản ứng khi cùng năm đó TQ chiếm đóng đảo Itu Aba trong quần đảo Trường Sa.
4. Vào năm 1947 chưa có lấy một hiệp ước hoặc công ước đơn lẻ nào để phân định lãnh hải của một quốc gia và của các đảo thuộc với nó. Trong giai đoạn đó, giới hạn của lãnh hải, theo thông lệ, được đặt cách bờ biển ba hải lí.
Như tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh lưu ý, một số bản đồ chính thức khác được in sau đó với đường nhiều vạch. Như bà nói: "Vào tháng 1 năm 1948, Bộ Nội chính THDQ đã chính thức công bố một bản đồ tên là Nam Hải chư đảo vị trí đồ (Bản đồ vị trí các đảo ở NamHải). Vào tháng 2 năm 1948, Sở địa lí của Bộ Nội chính công bố bản đồ các khu vực hành chính THDQ ( - Zhonghua minguo xingzheng quyu tu - Trung hoa dân quốc hành chánh khu vực đồ) do Fu Jiaojin (傅角今-Phó Giác Kim) chủ biên và được Wang Xiguang (王锡光-Vương Tích Quang) cùng những người khác biên soạn. Đây là lần đầu tiên một bản đồ đánh dấu bằng đường nhiều vạch ở biển Đông được chính thức công bố. Các bản đồ khác của TQ được công bố sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949 vẫn giữ đường 11 vạch. Hai vạch trong Vịnh Bắc Bộ sau đó đã được bỏ đi. Bản đồ xuất bản vào năm 1953 bắt đầu bao hàm đường 9 vạch ở biển Đông.”
Nhưng có điều là ngay cả khi bản đồ được in trên các ấn phẩm chính thức, chúng không có tác dụng khác hơn là các ấn phẩm thông tin vì không đi kèm với bất kì loại tài liệu chính thức tuyên bố rằng chúng biểu thị cho các vùng biển thuộc chủ quyền do TQ tuyên bố hoặc theo quyền chủ quyền do TQ tuyên bố. Thế giới đã phải chờ cho đến ngày 09 tháng 5 năm 2009 khi TQ đưa ra công hàm số CML/ 17/2009 gửi Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc tuyên bố chủ quyền đối với khu vực bao phủ bên trong đường 9 vạch. Bản đồ này mới thật là tài liệu đầu tiên chính thức thật sự nói lên yêu sách của TQ. Do đó, có vẻ hiển nhiên rằng vấn đề về các quyền mà TQ yêu sách trên biển Đông không thể phân xử cách nào khác hơn dùng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển mà TQ đã kí ngày 10 tháng 12 năm 1982 và phê duyệt ngày 07 tháng 6 năm 1996.
Ở đây chúng ta phải nhớ rằng phản ứng của TQ bắt nguồn sau khi hai sáng kiến của Malaysia và Việt Nam đưa ra nhằm lợi dụng các khả năng do việc áp dụng UNCLOS mang lại, như đã được quốc tế họp bàn.
- Sáng kiến đầu tiên là việc Malaysia và Việt Nam nộp yêu sách chung về thềm lục địa mở rộng ở phần phía Nam của biển Đông cho Liên Hợp Quốc vào ngày 06 tháng năm 2009,
- Sáng kiến thứ hai là việc Việt Nam nộp yêu sách thềm lục địa mở rộng của mình trong khu vực ngoài khơi thành phố Đà Nẵng và ở phía Nam của quần đảo Hoàng Sa trong cùng ngày.

Việc củng cố yêu sách của TQ theo đường 9 vạch
Nhưng trước khi gửi công hàm đến Liên Hiệp Quốc, TQ đã tiến hành các hoạt động mạnh mẽ gây sức ép khắp cả biển Đông để đường 9 vạch được thừa nhận là đường phân định chính thức cho các quyền của TQ trong khu vực. Và Bắc Kinh tiếp tục sau đó. Chúng tôi có thể liệt kê tất cả những hành động này như sau, biết rằng danh sách này không đi vào xem xét tất cả các hành vi khác đã được TQ thực hiện để cố gắng chứng minh chủ quyền trên khắp cả khu vực như là các vụ xung đột với Philippines đối với bãi Scarborough (Hoàng Nham), và ở quần đảo Trường Sa đối với rạn san hô Iroquois (bãi Amy Douglas), rạn san hô Boxall và gần đây hơn là bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal) cũng như ý định mới đây của TQ xây đảo nhân tạo trên đá Gạc Ma (Johnson South Reef) ở quần đảo này:
- Chống lại các quyền của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của mình (EEZ):
  • Từ năm 2006 đến năm 2007, TQ quấy rối 14 công ti nước ngoài của Anh, Mĩ, Nga, Na Uy, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia cố buộc họ phải bỏ liên doanh đã hợp đồng với PetroVietnam. Trong một số trường hợp chiến thuật này đã có hiệu quả như là trường hợp BP và ConocoPhilips vào mùa xuân năm 2007.
  • Năm 2006 và 2011 công ti Ấn Độ ONGC bị quấy rối tương tự.
  • Ngày 26 tháng 5 năm 2011, ngày 9 tháng 6 năm 2011, ngày 30 tháng 11 năm 2012, tàu tuần tra trên biển của TQ đã thực hiện thủ đoạn nguy hiểm đối với tàu nghiên cứu địa chấn Việt Nam cố tình cắt cáp thăm dò địa chấn của họ.
  • Ngày 23 tháng 6 năm 2012, Công ti Quốc gia dầu ngoài khơi TQ (CNOOC) đã tiến hành việc gọi đấu thầu quốc tế hoạt động trên 9 lô ngoài khơi bờ biển Việt Nam, chỉ ngay trên cạnh phía Đông của vạch đường 9 vạch nhưng ngay trong EEZ của Việt Nam.
  • Đầu tháng 5 năm 2014, CNOOC đã đặt siêu giàn khoan dầu HD-981 (Hải Dương Thạch du 981) trong EEZ của Việt Nam, trên lô 143, viện cớ rằng vị trí đó nằm trong vùng tiếp giáp lãnh hải của quần đảo Hoàng Sa.
- Chống lại các quyền của Philippines trong EEZ của họ: từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012, TQ không thường xuyên nhưng trong một số dịp đã thực thi việc gây sức ép đối với Công ti Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC) để công ti này từ bỏ liên doanh đã hợp đồng với các công ti nước ngoài trong việc khám phá trữ lượng hydrocarbon trong EEZ của Philippines, đặc biệt là trong khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank ) thuộc thềm lục địa Philippines và không thuộc quần đảo Trường Sa.
- Chống lại các quyền của Malaysia trong EEZ của họ:
  • Ngày 20 tháng 4 năm 2010 TQ đã đặt, ở độ sâu hai mươi hai mét, một dấu mốc chủ quyền trên bãi James vốn là bãi ngầm không phải là một thể địa lí mới nổi, vì vậy bãi này nằm trong thềm lục địa của Malaysia.
  • Ngày 19 tháng 8 năm 2012, tàu tuần tra TQ quấy rối một tàu khảo sát địa chấn của Shell Sarawak ở lô SR 318, trong khu vực bãi Luconia, ngoài khơi bờ biển bang Sarawak của Malaysia; bãi Luconia là một bãi ngầm và do đó là một phần của thềm lục địa của Malaysia, như bãi ngầm James.
  • Tháng 3 năm 2013 và tháng 1 năm 2014, Hải quân của Quân đội Giải phóng Nhân dân tiến hành tập trận hải quân trong khu vực bãi ngầm James.
-          Chống lại các quyền của tất cả các nước Đông Nam Á tiếp giáp với Biển Đông:
  • Tính đến 1 tháng 1 năm 2014, TQ đã thực hiện các biện pháp mới để kiểm tra các hoạt động đánh bắt cá không phải của người Hoa trong một đa giác gần trùng khớp với yêu sách theo đường 9 đoạn. Điều này thay thế lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương có hiệu lực ở phía Bắc vĩ tuyến thứ 12.
  • Ngày 19 tháng 11 năm 2007, thành lập huyện Tam Sa trong đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa (Xisha Qundao), quần đảo Trường Sa (Nansha qundao) và quần đảo Trung Sa (một quần đảo tưởng tượng bao gồm bãi ngầm Macclesfield, bãi ngầm Truro và rạn san hô Scarborough), và các khu vực biển mà các quần đảo này giả định có thể tạo ra xung quanh. Tiếp theo một biểu thị như vậy, TQ thoải mái chứng minh rằng đường 9 đoạn là đường phân cách một cách công bằng lãnh thổ biển của TQ với các vùng lãnh thổ biển của các quốc gia ven biển khác, như Xu Sen'an, một nhà nghiên cứu cấp cao Cục quản lí Hải dương Nhà nước TQ, giải thích vào năm 2000. Khi đó ông chỉ ra rằng trên bản đồ đầu tiên do Sở Địa lí Bộ nội chính TQ vẽ vào năm 1947 (?), “đường biên giới quốc gia chấm chấm đã được vẽ như là đường trung tuyến giữa TQ và các nước lân cận”[iii]. Sau đó, ngày 21tháng 6 năm 2012, huyện này đã được nâng cấp lên thành phố cũng với tên là Tam Sa đóng trên đảo Woody, đảo chính của quần đảo Hoàng Sa. Cần phải nhấn mạnh ở đây một điểm có tầm quan trọng cao nhất: Tam Sa là một phân khu của tỉnh Hải Nam.
- Chống lại các quyền của tất cả người sử dụng biển Đông bên ngoài:
  • Ngày 29 Tháng 11 năm 2012, TQ tuyên bố rằng, kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2013, các cuộc tuần tra biển của họ có trách nhiệm kiểm tra bất kì tàu nước ngoài đi vào lãnh hải của tỉnh Hải Nam bất hợp pháp. Vì Tam Sa là một phân khu của tỉnh Hải Nam, việc kiểm tra có thể xảy ra không chỉ xung quanh đảo Hải Nam, mà còn trong toàn bộ khu vực bao phủ bên trong đường 9 đoạn
  • Đó là những gì các tàu cảnh sát biển TQ đã bắt đầu "thực hiện tất cả suốt năm 2012, thậm chí nếu điều này đã được thực hiện ranh mảnh bằng cách hỏi nhẹ nhàng chỉ huy các tàu mà họ xáp tới gần một số câu hỏi ôn hòa. Loại hình hoạt động này đã được tạm dừng vào năm 2013 nhưng kể từ đó TQ có sự hiện diện hải quân rất mạnh mẽ khắp cả "lưỡi bò".
  • Ngày 11 tháng 1 năm 2013, hảng in Sinomap xuất bản một bản đồ mới của biển Đông, trên đó các đường 9 vạch cũ được vẽ với một vạch thứ mười. Đường mới này được cho biết là biểu thị cho "biên giới quốc gia" của TQ, đó là điều được xác nhận trong công hàm mật mà Philippines chuyển tiếp đến đại sứ TQ ở Manila vào ngày 7 tháng 6 cùng năm, để phản đối leo thang mới này trong tuyên bố của Bắc Kinh.
  • Vì TQ không thừa nhận quyền qua lại vô hại trừ khi được cho phép băng qua lãnh hải của họ theo yêu cầu trước đó, tự do hàng hải ở biển Đông có khả năng bị đe dọa vì tất cả những đạo luật TQ vừa nêu ở trên.
  • Cho thời điểm này là, TQ vẫn chưa tạo ra khu vực nhận dạng phòng không (ADIZ) như đã làm trên biển Hoa Đông nhưng các nước láng giềng và Hoa Kì nghi ngờ Bắc Kinh đang cố để làm như vậy vào một thời điểm mà không ai nghi ngờ họ sẽ làm điều đó. Trong những điều kiện này thì chính sự tự do đi lại trên vùng trời quốc tế sẽ bị đe dọa.

Ảo tưởng về hiệu quả của một Bộ Quy tắc ứng xử tương lai
Như là kết quả của tất cả điều trên, có vẻ rõ ràng rằng gần như mọi vấn đề đến từ thực tế là khắp cả biển Đông đường 9 vạch chồng lấn hoàn toàn hoặc một phần lên EEZ của các quốc gia ven biển Đông Nam Á. Đó là lí do tại sao những nỗ lực do các nước ASEAN cố để đạt được một thỏa thuận với TQ trong việc xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông để thay thế Tuyên bố ứng xử không hiệu quả (DOC) kí ngày 04 tháng 11 năm 2002 là vô ích, ảo tưởng. Tự nó, DOC cần phải đủ để làm cho tất cả mọi người hành động lặng lẽ ở Biển Đông, tất cả mọi người cần phải thực sự tôn trọng các nguyên tắc trong văn bản.
  • Nhưng cơ sở của vấn đề là khi Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam hoạt động trong EEZ của mình thì họ cũng đang hành động trong những khu vực nằm trong đường 9 vạch. Do đó, ngay cả khi họ đang hoạt động theo quyền lợi chính đáng của mình, các quốc gia này trong điều kiện đó vẫn bị TQ coi là vi phạm quyền của TQ, do đó tạo ra căng thẳng ở biển Đông và làm trầm trọng thêm tình hình ở đó. Do đó, trong con mắt của TQ, họ là những nước vi phạm các nguyên tắc ghi trong DOC, chứ không phải TQ. Điều đó có nghĩa là ngay cả khi các bên thành công trong việc đạt được một COC thì vẫn sẽ không có gì thay đổi chừng nào mà đường 9 vạch vẫn còn tồn tại. Ngược lại, nó sẽ mở ra cho TQ nhiều khả năng để gây sức ép lên các quốc gia khác, để khẳng định quyền bất hợp pháp mạnh mẽ hơn nữa trên khu vực và để tiến hành các hoạt động cảnh sát biển quyết đoán hơn ở đó.
  • Dễ nhận thấy rằng TQ dường như miễn cưỡng đi đến một COC với các nước ASEAN. Một số nhà nghiên cứu nói rằng TQ không thực sự muốn COC ra đời[iv] vì họ tạo ấn tượng đang kéo lê việc thảo luận về một COC tương lai. Điều đó không đúng sự thật. TQ chỉ giả vờ không muốn. Đây chỉ là một tư thế chiến thuật, nghi binh, bởi vì TQ thực sự biết rõ các lợi thế họ có thể rút ra từ COC chống lại các nước khác là gì, chừng nào mà đường 9 đoạn còn tồn tại và được TQ diễn giải theo điều kiện hiện nay. Một COC sẽ cung cấp cho TQ thêm sức mạnh để áp đặt sự thống trị của mình lên tất cả những người sử dụng biển Đông khác.
  • Do đó, một COC thực sự áp dụng được một cách bình đẳng cho tất cả các bên chỉ khi nào đường 9 vạch biến mất, bị xóa, loại bỏ. Tất nhiên, điều đó sẽ khó có thể đạt được. Bởi vì TQ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ nó bởi vì, trái với những gì cả thế giới tin rằng, "lí do sâu xa nhất của sự bướng bỉnh đó của TQ là để biến gần như toàn bộ biển Đông thành một tài sản của TQ không dựa trên lợi ích kinh tế nhưng trên lợi ích chiến lược, như tôi đã chứng minh điều đó nhiều lần.
Đường 9 vạch như một sự đảm bảo cho các lợi ích chiến lược của TQ
Thật ra, do biển Đông là một biển nửa kín, khi TQ muốn tàu của mình vượt sang Thái Bình Dương thì chúng bắt buộc phải vượt qua eo biển Bashi, do đó nằm dưới sự kiểm soát của Đài Loan và Philippines, và do đó nằm dưới sự kiểm soát gián tiếp của Hoa Kì. Vấn đề còn co ép hơn nhiều đối với TQ là tàu ngầm chiến lược của họ, SSBN, của lớp Jin (Tấn) cho thời điểm này, có trụ sở tại vịnh Yalong (Á Long), ở phía Đông Nam đảo Hải Nam, muốn an toàn đi tới cho các khu vực tuần tra, hoặc ở những vùng nước sâu của biển Đông, hoặc ở những vùng nước sâu của Thái Bình Dương. Thật ra, do tàu ngầm lớp Jin vẫn còn hơi ồn ào nên khá dễ dàng bị phát hiện và theo dõi. Chính vì điểm yếu này mà TQ mơ biển Đông sạch bóng dáng bất kì sự hiện diện nào của hải quân nước ngoài, đặc biệt là của Mĩ. Chính vì điểm yếu này mà TQ muốn biến biển Đông thành một biển cấm, hoặc một "pháo đài" như Liên Xô đã từng làm điều đó trong vùng biển Barents và Okhotsk thời gian chiến tranh lạnh lần một, hoặc áp dụng chủ thuyết Monroe vào khu vực này như một số nhà nghiên cứu Anglo-saxon đã chứng minh điều đó.
Đây là lí do chính vì sao TQ lại rất cứng rắn trong việc duy trì cái gọi là quyền lợi của mình theo đường 9 đoạn. Nếu như chúng ta có thể hiểu được việc TQ có thể lo lắng trước mối đe doạ giả định từ phía Mĩ, đặc biệt là qua việc họ có khả năng áp dụng khái niệm không-hải chiến, tuy nhiên TQ không có quyền cố quốc hữu hóa một biển quốc tế vì lợi ích chiến lược của mình. TQ phải tìm các cách và phương tiện khác để tổ chức phòng thủ mà không tướt đi quyền khai thác EEZ hợp pháp của những người sử dụng khác, cũng như không đe dọa ngăn cấm những người sử dụng quốc tế khác đi lại tự do trên biển đó. Những người sử dụng quốc tế này hiện nay không thể thỏa mãn với một số lời hứa hẹn đẹp đẽ theo đó TQ sẽ không bao giờ đụng tới sự tự do đi lại của các tàu thuyền thương mại qua biển này. Các người đi biển quốc tế phải được hưởng sự bảo đảm không thể tranh cãi rằng quyền tự do đi lại sẽ không bao giờ bị đặt thành vấn đề, hạn chế, cản trở. Nguy cơ sẽ trở thành thực tế hơn nếu như một ngày nào đó TQ cuối cùng đã thành công trong việc thiết lập sự thống trị đầy đủ của mình trong khu vực. Và chúng ta không quá cách xa thời điểm đó vì TQ đã bắt đầu tuần tra khắp cả “lưỡi bò"với các phương tiện cảnh sát biển của họ.
Thật ra, bởi vì nếu khi nào biển Đông chắc chắn trở thành một lãnh hải của TQ, như đường 10 vạch được Sinomap xuất bản vào ngày 11 tháng 1 năm 2013 có xu hướng chuẩn bị thế giới về việc đó, bởi vì TQ công nhận quyền đi qua không gây hại chỉ sau khi bất kì tàu thuyền nào muốn đi qua vùng lãnh hải của TQ phải được phép của TQ trước mới được đi qua, trong những điều kiện này nguy cơ thực sự là TQ có thể thực hiện quyền kiểm soát hoàn toàn tùy ý đối với việc đi lại quốc tế trên biển này. Cộng đồng quốc tế không thể chấp nhận một viễn cảnh như vậy. Cộng đồng quốc tế phải nhắc nhở TQ rằng biển Đông là một biển quốc tế và rằng TQ phải tuân thủ Điều 89 của UNCLOS, theo đó “Không một quốc gia nào có thể có cơ sở tự ý đưa bất kì phần nào của các vùng biển quốc tế vào chủ quyền của mình.”

Kết luận
Do đó, không phải chỉ một mình Philippines có trách nhiệm đặt câu hỏi về sự tồn tại của đường 9 vạch như họ đã bắt đầu làm điều đó từ ngày 26 tháng 1 năm 2013 qua việc can đảm đưa vụ này ra quốc tế Tòa án Luật Biển (ITLOS), không phải ASEAN như một toàn thể và đơn độc có trách nhiệm chính thức đặt câu hỏi về sự tồn tại của đường 9 vạch, đòi xóa bỏ nó, mà đó là trách nhiệm của cả cộng đồng quốc tế. Vấn đề hiện nay là làm sao để kết hợp nhau một loại đồng thuận ở cấp quốc tế nhắm tới việc tổ chức một đòi hỏi mạnh mẽ để TQ dứt khoát từ bỏ đường 9 vạch hay để thuyết phục TQ tự làm điều đó thông qua việc lựa chọn trong số các giải pháp khác nhau có trong tay mình mà không sợ bị mất mặt. Quả thực có một số khả năng. /.



[i] Lưu ý rằng vào năm 1952, dưới sức ép của Hoa Kì, Đài Loan đã kí với Nhật một Hiệp ước Hoà bình riêng, Hiệp ước Đài Bắc (the Treaty of Taipei).
[ii] Asian Perspective, Vol.6, N°4, 2002, pp. 145-169
[iii] Xu Sen'an, "Nanhai duanku guojiexian de neihan" [ý nghĩa của đường 9-đoạn trên bản đồ biển Đông của Trung Quốc], trong "21 Shiji de Nam Hải: wenti yu qianzhan" yantaohui lunwen xuan [Chọn lọc bài viết của Hội thảo "Biển Đông trong thế kỷ 21:. vấn đề và triển vọng "], ed trung tâm nghiên cứu Biển Đông Zhong Tianxiang O-Iainan, 2000), 80 trích lời Li Jinmin, Li Dexia, op. cit. Được tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh trích dẫn ngày 21 tháng 11 năm 2012.
[iv] Shannon Tiezzi, "Why China Isn’t Interested in a South China Sea of Conduct (Tại sao Trung Quốc không quan tâm đến một Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông)", The Diplomat, February 26,2014.

=============================================
Bài viết về ĐLB 2 năm trước: http://songphan.blogspot.com.au/2012/07/uong-luoi-bo-la-co-so-cho-yeu-sach-chu.html (đăng trước bài của TS Nguyễn Thị Lan Anh mấy tháng)