Showing posts with label đổi mới. Show all posts
Showing posts with label đổi mới. Show all posts

Monday, October 31, 2016

Đảng CSVN có thể tiếp tục cải cách thị trường được không?

Việt Nam: Đảng Cộng sản có thể tiếp tục cải cách thị trường được không?

Vietnam: Can the Communist Party Keep Up With Market Reforms?

Đảng Cộng sản có sẵn sàng đối mặt với những hậu quả chính trị của việc chuyển đổi kinh tế của Việt Nam không?

Anton Tsvetov
Diplomat (28/10/2016)

(bản dịch đã đăng trên ABS ngày  01/11/2016)


Năm 1986, tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), giới chủ chốt lãnh đạo đất nước này quyết định đã đến lúc phải thay đổi. Mười năm dài trôi qua kể từ khi Đảng thống nhất đất nước dưới sự cai trị của mình. Tính chính đáng của Đảng, dựa trên chiến thắng quân sự thần tốc, đã bắt đầu hao mòn. Nền kinh tế đang đánh vật, căng thẳng do các lề thói xã hội chủ nghĩa cốt lõi không mang lại đủ sản phẩm nông nghiệp hay công nghiệp cho dân số. Cách thoát ra là cải cách thị trường, cái gọi là "Đổi Mới".

Ba mươi năm sau, Việt Nam đã chuyển đổi về mặt kinh tế và xã hội, nhưng chính trị của đất nước vẫn còn tụt lại phía sau. Đảng Cộng sản vẫn duy trì độc quyền về quyền lực, vì có vẻ như có rất ít thách thức. Điều này đã xảy ra được vì hai lí do chính. Thứ nhất, ĐCSVN đã thành công trong việc kiểm soát môi trường chính trị, ngăn không cho lực lượng chính trị nào khác thậm chí chỉ bước vào trường đấu công cộng. Thứ hai, nhưng không kém phần quan trọng, ĐCSVN đã xoay xở chuyển từ tính chính đáng do chiến thắng quân sự sang cái mà đôi khi được gọi là "tính chính đáng dựa trên thành tựu."

Nhờ những cải cách đổi mới, Việt Nam đang trở thành một cỗ máy tăng trưởng, thu hút đầu tư nước ngoài và đa dạng hóa xuất khẩu. Giá lao động thấp, lực lượng lao động được đào tạo tốt, cởi mở với nguồn vốn nước ngoài và tham gia tích cực vào các hiệp định thương mại tự do tất cả đều đã đưa các doanh nghiệp quốc tế đến Việt Nam. Đồng tiền đổ vào nước này đã được đưa vào sử dụng tốt, với mức giảm đáng kể về tỉ lệ nghèo, chất lượng cuộc sống nâng cao, và tuổi thọ tăng lên.

Đảng Cộng sản nắm quyền sở hữu toàn bộ các thành công của cải cách. Chính vào các kì Đại hội Đảng và các phiên họp toàn thể mà các quyết định quan trọng đã được đưa ra; đảng viên và các nhà lãnh đạo là những người vạch ra và thực hiện cải cách thị trường; và Đảng đã không ngần ngại quảng cáo vai trò chính của mình trong việc cải cách kinh tế. Do đó, người dân đã được đưa cho một lí do vững chắc hơn nhiều để ủng hộ những người Cộng sản hơn việc họ đánh thắng miền Nam Việt Nam, đó là một mô hình kinh tế bền vững và thành công.

Sau 30 năm và hai cuộc khủng hoảng tài chính, Việt Nam hiện nay đang trên bờ vực của một quá trình chuyển đổi khó khăn hơn nhiều. Duy trì và đẩy mạnh đà đổi mới kinh tế không còn chỉ là về việc thu hút được nhiều tiền nước ngoài vào đầu tư, tín dụng và trợ giúp phát triển. Để thoát bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam sẽ phải cơ cấu lại nền kinh tế, tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao, tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước, chỉnh đốn khu vực nhà nước cồng kềnh, kém hiệu quả, và cải thiện mạnh mẽ các tổ chức của mình.

ĐCSVN dường như nhận ra sức lao động phi thường đang có trong tay, như được thể hiện trong các văn kiện chính thức và báo cáo của Đảng, cũng như trong báo cáo Việt Nam 2035 do Ngân hàng Thế giới và Bộ thương mại và đầu tư Việt Nam hợp tác thực hiện. Tuy nhiên, có một mâu thuẫn cơ bản trong việc tái cấu trúc kinh tế tiến hành trong 30 năm qua và dường như được sắp đặt kéo dài ít nhất 30 năm nữa. Việc chuyển đổi kinh tế đã mang tới sự xuất hiện trọn vẹn các tầng lớp  xã hội mới và các nhóm lợi ích vốn có thể được tương đối khá giả lên và đang im tiếng, nhưng chắc chắn sẽ đòi quyền tham gia chính trị để đảm bảo vị thế của họ trong tương lai.

Lấy ví dụ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đã tăng lên nhanh chóng trong những thập niên vừa qua. Việc thừa nhận đầy đủ doanh nghiệp tư nhân đã mở ra khả năng chưa đánh thức của chủ nghĩa tư bản Việt Nam, với đất nước hiện nay có khoảng 500.000 doanh nghiệp, 97 % trong số đó là các SME. Hiện nay họ sử dụng một nửa lực lượng lao động của đất nước. Nhưng ĐCSVN chưa thật chắc chắn về vị trí của nhóm to lớn này, nhóm trọng yếu cho sự ổn định xã hội ở Việt Nam. Các SME và các doanh nghiệp tư nhân nói chung vẫn còn mong muốn tiếp cận tốt hơn với tín dụng, thủ tục nới lỏng, và an toàn về quyền sở hữu, và do đó sẽ tìm kiếm đại diện chính trị thích hợp.

Một nhóm khác bị ĐCSVN bỏ qua là tầng lớp trung lưu thành thị. Tầng lớp trung lưu Việt Nam đang ngày càng tăng nhanh, từ 12 triệu vào năm 2012 lên tới con số dự phóng 33 triệu vào năm 2020, và được nghĩ sẽ chiếm một nửa lượng tiêu thụ của cả nước. Nhóm này sẽ đóng một vai trò thiết yếu nếu Việt Nam xây dựng một nền kinh tế mới dựa vào các ngành công nghiệp và dịch vụ giá trị gia tăng cao và nếu nó là trở thành một "quốc gia khởi nghiệp", như tuyên bố của lãnh đạo cao nhất. Đây là một nhóm có ý thức cao về công bằng xã hội sẽ thúc đẩy các chiến dịch công cộng đột xuất thông qua truyền thông xã hội, nắm vai trò như là một bộ khuếch đại cho tất cả các loại bất bình - từ các cuộc đình công nhân tới thảm họa môi trường. Hơn nữa, chính thông qua đôi mắt của tầng lớp trung lưu đô thị - và đặc biệt là thành phần trẻ trong đó - mà thế giới sẽ nhìn thấy các sự kiện ở Việt Nam. Đó là lí do tại sao ĐCSVN nên quan tâm đến việc đưa các nguyện vọng của nhóm này vào tiến trình chính trị.

Đây chỉ là hai ví dụ về các diễn viên mới nổi lên trong khung cảnh xã hội của Việt Nam sinh ra từ cải cách kinh tế, nhưng những cơn đau tăng trưởng khác cũng có thể đòi hỏi chuyển đổi chính trị. Một nền kinh tế đang bùng nổ tạo ra tất cả những mất cân bằng điển hình của sự phát triển nhanh - tham nhũng quy mô lớn, bất bình đẳng thu nhập và chênh lệch ngày càng lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, cũng như giữa người kinh đa số và nhiều sắc dân thiểu số. Trong chính trị, người miền Bắc vẫn còn hiện diện nhiều hơn trong thành phần đảng viên và trong các cơ quan quản lí cũng như trong hội đồng quản trị các tập đoàn nhà nước.

Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn còn hết sức mong manh với suy thoái môi trường, phá rừng, nhiễm mặn, và các yếu tố con người gây ra như vấn đề ô nhiễm không khí ngày càng lớn của Hà Nội và sự cố chết cá quy mô lớn (và nhiều) năm nay. Người dân địa phương đã chứng tỏ rằng họ sẵn sàng phản kháng vì sự lành mạnh của môi trường sống, bởi vì đó không chỉ là vấn đề chất lượng cuộc sống mà còn là vấn đề xác định việc sinh tộn về kinh tế của các cộng đồng rộng lớn ven biển.

Tất cả những vấn đề này có thể biến thành một bài toán lớn đối với nhóm chủ chốt (elite) cầm quyền do cộng đồng báo chí sôi động và truyền thông xã hội tương đối cởi mở. Không giống như ở Trung Quốc, chính phủ Việt Nam không chọn cách đóng cửa Facebook và các mạng truyền thông xã hội khác để nghiêng về các cái tương đương dễ kiểm soát trong nước. Kết quả là tin tức chính trị và xã hội lên trực tuyến tức thì mà ĐCSVN khó làm được gì nhiều. Đất nước đang ngày càng trở nên minh bạch hơn, với hàng triệu khách du lịch đến viếng mỗi năm, các nhà đầu tư nước ngoài muốn sự ổn định trong nước và quản trị, và các tổ chức phi chính phủ toàn cầu và địa phương theo dõi từng bước đi của chính phủ.

Điều đó không có ý nói rằng Đảng không cảnh giác với những rủi ro mà việc đổi mới sâu xa hơn có thể mang đến cho sự tồn tại của chính mình. Hoàn toàn ngược lại, Cộng sản Việt Nam đã hết sức thích ứng trong suốt ba thập kỉ qua, qua việc uốn cong cách tiếp cận của họ đối với các vấn đề tư tưởng và chính sách. Một lí do là ĐCSVN không còn là một đảng của giai cấp công nhân và nông dân, mà đại biểu cho "toàn thể nhân dân Việt Nam", điều này có thể bao gồm việc mở rộng thành phần xã hội.

Hơn nữa, các học giả đã nhận thấy rằng "tư tưởng Hồ Chí Minh” đã giành được chỗ đứng trong nền tảng tư tưởng của ĐCSVN, đẩy chủ nghĩa Mác và Lênin chính thống xuống hàng phía sau. Điều kì lạ là không ai biết được "tư tưởng Hồ Chí Minh" chính xác là cái gì, trừ "việc ứng dụng chủ nghĩa xã hội vào các đặc thù của Việt Nam." Người ta có thể dễ dàng thấy hàng loạt các chính sách có thể được xếp dưới loại bảng hiệu này như thế nào.

Dường như chính các quan chức Việt Nam đang ngày càng quan tâm đến chính trị thực tế. Có một xu hướng dễ thấy trong các lãnh đạo chính phủ tự xác định chính mình chủ yếu là những người điều hành (executive) và các nhà kĩ trị (technocrat), chứ không chỉ đơn thuần là đại diện của Đảng trong Nhà nước. Và với sự gia tăng của truyền thông xã hội, các lãnh đạo cấp tỉnh và chính phủ đang đi theo kiểu chính trị công cộng phương Tây, công khai hoá cho giám sát và thực hiện các trò PR gây chú ý như đi tắm biển để cho thấy rằng biển an toàn dù có thảm họa môi trường gần đó.

Dĩ nhiên, vấn đề quan tâm hàng đầu đối với Đảng là độc quyền quyền lực. Khi xã hội Việt phát triển thì cơ sở xã hội và các cán bộ của chính ĐCS cũng phát triển. Trong 30 năm cải cách kinh tế sâu đậm - cần cho sự phát triển của Việt Nam - ĐCSVN thấy chính mình ở trong một đất nước hoàn toàn khác. Đảng có sẽ trở thành một lực lượng chính trị khác với sự độc quyền về quyền lực là nguyên tắc thống nhất duy nhất còn lại? Đảng sẽ thừa nhận sự cạnh tranh phe phái là giải pháp duy nhất thay cho một hệ thống đa đảng? Đảng sẽ ngăn chặn các cải cách xa hơn tại điểm mà chỉ một bước nữa sẽ xói mòn độc quyền sang điểm không thể quay lại?

Mỗi một trong những kịch bản này đều có thể xảy ra, nhưng ĐCSVN sẽ phải thay đổi cùng với nền kinh tế Việt Nam hoặc đánh mất tính thích đáng.

Anton Tsvetov là một chuyên gia tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược (CSR), một think tank có trụ sở tại Moscow. Ông tweets về các vấn đề Đông Nam Á và chính sách đối ngoại của Nga tại @antsvetov. Quan điểm thể hiện ở đây là của riêng của tác giả và không phản ánh quan điểm của  CSR

Wednesday, August 26, 2015

Cách mạng Tư bản Chủ nghĩa của Hà Nội

Cách mạng Tư bản Chủ nghĩa của Hà Nội

Bản dịch đã đăng trên  anhbasam ngày 25/08/2015
City Journal (Hè 2015)
Tác giả: Michael J. Totten

Hà Nội ngày nay tràn ngập các hoạt động và thương mại. Ảnh: JOHN HARPER/CORBIS
Hà Nội ngày nay tràn ngập các hoạt động và thương mại. Ảnh: JOHN HARPER/CORBIS
Thị trường tự do, doanh nghiệp tư nhân, trung tâm thương mại và tầng lớp trung lưu – không phải là những gì ông Hồ Chí Minh đã có trong đầu.
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam cộng sản giờ đây đã thống nhất, là một cảnh vật bị tàn phá bởi mưa bom. Cư dân sống dưới một triều đại bình đẳng về khủng bố. Những người theo giáo điều khắc nghiệt đang điều hành đất nước cấm công dân kết giao với người nước ngoài hoặc thậm chí nói chuyện với vài khách ngoại quốc. Mọi người xếp hàng rồng rắn tại các cửa hàng với kệ trống rỗng để đổi tem phiếu nhu yếu phẩm lấy vài nắm gạo ít ỏi. Trên đường phố thỉnh thoảng mới có xe đạp là loại xe duy nhất chạy qua.
Tuy nhiên, kể từ đó, Hà Nội đã tự thay đổi nhanh hơn hầu hết thành phố nào khác trên thế giới. Hiện nay, thành phố này là ngọn núi lửa TBCN nổ bùng, và Việt Nam đang trên con đường nhanh chóng trở thành một cường quốc kinh tế và quân sự đáng gờm. Christopher Hitchens đã từng nói, diễn giải câu của John Maynard Keynes: “Nhiều cuộc cách mạng được bắt đầu từ những người bảo thủ, bởi đây là những người đã cố làm cho hệ thống hiện có chạy đuợc và họ biết vì sao nó không chạy đuợc. Đó là một cái nhìn thấu sâu vào cốt lõi. Nó thường được biết theo cách nói của Marx như là cuộc cách mạng từ bên trên”. Đó đích xác là những gì đã xảy ra ở Việt Nam, mặc dù những người cách mạng này không phải là đảng viên đảng bảo thủ. Họ là đảng viên cộng sản.
Thế kỉ XX là thế kỉ đầy khó khăn đối với Hà Nội. Người Pháp xâm lược và biến nó thành thủ đô của Đông Dương thuộc địa Pháp vào năm 1887. Đế quốc Nhật chiếm thành phố năm 1940 và sát nhập Việt Nam vào Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á phát xít. Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam là nhà nước độc lập sau Thế chiến II, và lực lượng Việt Minh của ông kiểm soát một vài vùng lãnh thổ, nhưng người Pháp trở lại nắm quyền vào năm 1946 và ở lại cho đến khi quân đội cộng sản của HCM buộc họ ra đi vào năm 1954. Hà Nội sau đó trở thành thủ đô của nước bị đặt sai tên là [Bắc] Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiều thập kỉ trôi qua trong nghèo khổ và tàn bạo. Hệ thống kế hoạch tập trung Mác-Lênin của HCM đã tàn phá nền kinh tế cùng với cuộc chiến với Hoa Kì và chính phủ miền Nam Việt Nam đuợc Mĩ hậu thuẫn – bao gồm cả việc dội bom chính Hà Nội – tạo nên sự hủy hoại hoàn toàn. Hơn 1 triệu người Việt Nam đã chết.
Bắc Việt đã thắng cuộc nội chiến vào năm 1975 và áp đặt hệ thống kinh tế và chính trị hà khắc ở miền Bắc vào miền Nam. Sài Gòn, thủ đô cũ của miền Nam, chịu thiệt hại khi miền Bắc chiếm lấy. Lâm Tường Vi, nhớ lại những hình ảnh sống động khi phía của cô bị thua trong cuộc chiến, nói: “Tất cả các trường học đều bị đóng cửa. Cô chú tôi đang học đại học đã phải bỏ học. Họ không thể đi tới đó. Tài sản bị tịch thu và đem cho người miền Bắc. Tuyên truyền cộng sản thậm chí đưa vào sách toán của chúng tôi. Chúng tôi đã có những câu hỏi như thế này: ‘Hôm qua một bộ đội giết chết 3 người Mĩ và hôm nay anh giết thêm 5. Anh đã giết tổng cộng bao nhiêu người Mĩ?’ Sách học không còn những loại câu hỏi này nữa, nhưng chúng đã tồn tại ngót năm hay mười năm”.
Việt Nam cuối cùng đã được độc lập và thống nhất, nhưng ở trong tình trạng chẳng tốt hơn Liên Xô, Bắc Triều Tiên hay Cuba và gần như tất cả mọi người biết điều đó, kể cả nhiều lãnh đạo cộng sản. Vào giữa thập niên 1980, một cuộc đấu đá đã nổ ra giữa một bên muốn tiếp tục với hệ thống cũ và một bên đã được hưởng lợi từ những cải cách nhỏ kiểu TBCN thầm lặng thực hiện vào năm 1979 và muốn mở rộng ra thêm. Người miền Nam ồn ào đòi trở lại với hệ thống trước cộng sản mà từ kinh nghiệm cá nhân họ đã biết có hiệu quả hơn nhiều. Sự thành công về kinh tế tương đối của các nước Đông Nam Á khác, đặc biệt là Thái Lan, là hiển nhiên ngay đối với cả những người theo giáo điều.
Những người ủng hộ sự thay đổi đã thắng cuộc tranh luận, và năm 1986, chính phủ chính thức từ bỏ nền kinh tế Mác-Lênin và công bố chủ trương Đổi Mới, được định nghĩa như là cố gắng để tạo ra một “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Có lẽ, các nhà lãnh đạo đảng đặt  từ “xã hội chủ nghĩa” vào trong đó vì họ lúng túng trước những thất bại của chủ nghĩa Mác và không thể thừa nhận rằng họ đã sai lầm. Hoặc có lẽ họ sợ rằng những người ủng hộ còn sót lại bị dị ứng với từ “chủ nghĩa tư bản”. Không thành vấn đề. Việt Nam đã chính thức cho chủ nghĩa cộng sản vào sọt rác chỉ 11 năm sau khi áp đặt nó lên miền Nam Việt Nam.
Trợ cấp Nhà nước đã được bãi bỏ. Các doanh nghiệp tư nhân được phép hoạt động trở lại. Doanh nhân, nhà đầu tư, và các nhân viên có thể giữ lợi nhuận và tiền lương của họ. Nông dân có thể bán sản phẩm trên thị trường mở và giữ lại thu nhập của họ thay vì giao chúng cho nhà nuớc. Kết quả thật ngoạn mục. Cần một thời gian nào đó để tầng lớp trung lưu xuất hiện, từ năm 1993 đến 2004, tỉ lệ người sống trong nghèo đói giảm từ 60% xuống 20%. Trước Đổi mới, nền kinh tế chỉ huy co hẹp, và lạm phát luôn đội trần với hơn 700%; cuối cùng nó co lại còn chỉ một chữ số. Sau nhiều năm thiếu gạo kinh niên, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lớn thứ hai thế giới về gạo, sau Thái Lan. Tiến bộ vẫn không chậm lại. Năm 2013, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8,25%. Đỗ Hoàn nói đầy xúc động: “Số lượng các trung tâm thương mại, khu mua sắm, nhà hàng là tuyệt vời so với thời tôi còn là một đứa bé. Mười tám năm trước, đất nước bị hỏng toàn bộ. Chẳng có công nghệ nào, nhưng bây giờ ngay cả những người nghèo có thể đi đến quán cà phê Internet, đăng nhập vào Facebook và YouTube”.
Miền Nam đã dẫn đường. Phóng viên David Lamb viết: “Vào giữa những năm 1980 khi các lãnh đạo Cộng sản quyết định gộp Karl Marx và Adam Smith vào trong hỗn hợp kinh tế để xem cho ra điều gì. Người miền Nam, tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản trong nhiều thập kỉ, đã dễ dàng hơn những anh em phía Bắc rất nhiều trong việc thích ứng với nhu cầu của thị trường tự do”. Tuy nhiên, Hà Nội cuối cùng cũng tự do hóa, và dù còn tụt hậu sau Saigon (mà chính phủ đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1975), vẫn đạt được tiến bộ kinh tế ngoạn mục.
Nền kinh tế của Hà Nội có vẻ và cảm thấy hoàn toàn không bị kiểm soát; thành phố bùng nổ với hoạt động. Dù có các cửa hàng sang trọng, cửa hàng công nghệ bán sản phẩm của Apple, cửa hàng quần áo thời trang cao cấp và chuỗi cửa hàng thức ăn quốc tế rất dễ tìm thấy, doanh nghiệp tư nhân ở mặt tiền đường phố vẫn chiếm ưu thế. Nhà nước vẫn còn sở hữu hoặc kiểm soát một số công ti lớn, nhưng đại đa số các doanh nghiệp lại quá nhỏ để có thể quản lí tập trung. Chỉ trên một khu phố, tôi đã nhìn thấy những thứ sau đây bán hạ giá: cờ Việt Nam, áo thun  Hồ Chí Minh, nến, nhang, vải vóc, quần áo cũ của Mĩ, tiền giả để đốt cúng ông bà, đồ chơi Angry Birds, trái cây ngoại, xiên nướng thịt, iPhones, trà, đồ trang sức, giày Ý, bánh ngọt Pháp, gia vị, thảo dược, mũ bảo hiểm, đĩa CD lậu, thuốc lá lậu, BBQ Nhật, thảm, quan tài, lụa, tranh, và sách bìa mềm lậu với lời quảng cáo sai chính tả ở bìa sau.
Thành phố này vô cùng thân thiện với doanh nghiệp. Tôi hỏi một người địa phương đang làm việc cho một công ti Mĩ rằng đối với người nước ngoài sẽ gặp khó khăn mức nào để đầu tư và đi vào kinh doanh tại Hà Nội. Ông nói: “Chính phủ tạo điều kiện dễ dàng. Chỉ cần trình bày cho họ kế hoạch kinh doanh, nói với họ bạn muốn làm gì và bạn thích hợp để làm”. Đối với các doanh nghiệp nhỏ cũng thế.  Ông nói, tất cả mọi thứ bạn phải làm là “tiền thuê mặt bằng, trả thuế, và chỉ vậy”.
Mãi đến năm 1995, Hoa Kì mới bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, nên các công ti Mĩ chỉ mới vào cuộc trong thời gian gần đây, nhưng sự hiện diện của họ bây giờ là hiển hiện. Không thể không thấy các cửa hàng nhượng quyền thương mại của Starbucks, KFC, Pizza Hut và Burger King. General Motors, Dell, Visa, General Electric, và vô số công ti khác cũng đã đầu tư vào đây. Việt Nam muốn có thêm nữa và sẽ sớm có được như vậy: Washington đã sẵn sàng đi vào thực hiện hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 11 quốc gia vành đai Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. TPP sẽ loại bỏ các rào cản thương mại quan liêu lỗi thời ở cả hai phía trong khi thực thi tiêu chuẩn lao động, bảo vệ môi trường, và quyền sở hữu trí tuệ.
Việt Nam thậm chí khuếch trương các doanh nghiệp công nghệ cao mới khởi tạo của chính mình. Phạm Lê Nguyên, người sáng lập doanh nghiệp mới ươm tạo 5Desire nói: “Việc ươm mầm và tài trợ các doanh nghiệp công nghệ cao mới khởi tạo vẫn còn là mảng manh mún trong nền kinh tế của chúng tôi. Nhưng chúng tôi đang cố tinh giản quy trình và mô hình hóa nó một cách nghiêm ngặt theo cách của Silicon Valley. Chúng tôi tổ chức các sự kiện công nghệ thu hút các diễn giả đẳng cấp thế giới và các nhà đầu tư nước ngoài. Một trong những sự kiện đáng chú ý của chúng tôi là Hackathon Việt Nam 2014, ở đó chúng tôi hợp tác với Formation 8 – một xí nghiệp tư bản nổi tiếng của Silicon Valley và với Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Hơn một ngàn người tham dự, hơn 60% trong số đó là các nhà phát triển”.
Tôi đã đến 15 nước trước đây là Cộng sản, cộng với Cuba, vẫn còn là nước cộng sản. (Xem “The Last Communist,” Xuân năm 2014), Việt Nam là nước duy nhất có nghệ thuật nấu nướng tốt. Tôi không thể nhớ được đã thưởng thức một bữa ăn chất lượng duy nhất nào trong khối cộng sản cũ ở Châu Âu. Chủ nghĩa Mác đã san bằng nhà hàng cùng mọi thứ khác và các đầu bếp ở Châu Âu hậu Cộng sản đã không có nhiều thời gian để làm tinh xảo tay nghề của họ. Đa số thức ăn Cuba vẫn còn đáng sợ, dù có một số ít các nhà hàng thuộc sở hữu tư nhân và đưa ra giá chấp nhận được. Vấn đề lớn nhất ở đó là sự thiếu hụt thuờng xuyên các món có thành phần chất lượng. Tuy nhiên, Việt Nam- vẫn là Cộng sản trên danh nghĩa, theo cách nào đó lại có thức ăn ngon nổi bật ở khắp mọi nơi, ngay cả trên các đường phố. Đó phải là một sự kết hợp nào đó của các món thành phần, các đầu bếp, và chính nghệ thuật nấu nướng.
Thịnh vượng không bao giờ bảo đảm cho môi trường đô thị mang tính thẩm mĩ, nhưng Hà Nội là khá bắt mắt. Trung tâm thành phố được chi phối bởi khu phố cổ quyến rũ nhưng hỗn loạn và khu phố Pháp trang nghiêm và có trật tự hơn, chỉ cách nhau vài phút đi bộ. Cả hai đều nằm cạnh Hồ Hoàn Kiếm, trung tâm văn hóa của thành phố. Tên của nó có nghĩa là “trả lại gươm” theo tên món vũ khí được cho là của thần tặng cho vua Lê Lợi vào thế kỉ XV mà ông sử dụng đánh đuổi quân xâm lược Trung Quốc. Hà Nội lấp lánh với nhiều hồ – chỉ Hồ Hoàn Kiếm là hồ nổi tiếng nhất – và nó được tô điểm bởi một số luợng lớn hơn các ngôi chùa cổ với các chữ Hán dọc trên các bức tường.
Các tòa nhà trang nhã nhất là của Pháp và Trung Quốc, nhưng những ngôi nhà của người Việt đơn giản hơn cũng có thể khá ấn tượng. Nhiều ngôi nhà trông như thể là sự pha trộn các kiến trúc kiểu Victoria, Pháp, đá nâu, và Thái với nhau, và sau đó nén sản phẩm cuối cùng trong một ê-tô để làm cho nó cao hơn và hẹp hơn. (Nhà cửa và các doanh nghiệp được đánh thuế dựa trên chiều rộng). Cộng sản Việt Nam sai lầm hầu hết mọi thứ, nhưng ít ra họ bỏ qua một số trong những sai lầm do các đồng chí của họ phạm phải ở những nơi khác trong cuộc chiến chống lại những cái cũ. Hà Nội may mắn không có vành đai tiểu hành tinh các kiến trúc rác ruởi kiểu Xô-viết trên các vùng ngoại ô, loại làm hỏng nhiều thành phố trước đây là cộng sản ở Châu Âu. Tôi đã thấy một vài cấu trúc làm nát lòng đổ bằng bê tông, nhưng đối với hầu hết các phần, những loại tòa nhà này không bao giờ hoàn thành, hoặc đã bị tháo dỡ, hoặc đã bị lấn áp bởi sự bùng nổ công trình xây dựng mới và tốt hơn. Hà Nội có dân số phát triển vượt bậc tính từ thời kì tồi tệ nhất, dưới 1 triệu vào năm 1979, bây giờ vượt quá 7 triệu, làm cho nó lớn hơn mọi đô thị lớn của Mĩ trừ New York – nên có lẽ những thứ xấu xí đã bị che khuất.
Bầu trời có nhiều mây vào ngày tôi đến trong mùa nóng. Thành phố có sương mù, nhưng nhiệt độ không khí xung quanh là 99 độ F (37°C), với độ ẩm 108%. Sau năm phút ở bên ngoài, tôi cảm thấy như bị dội bằng nước nóng. Tuy nhiên, dân địa phương phóng trên xe máy, nhiều người mặc áo khoác và mang găng tay, dường như không hề biết họ đang ở trong điều kiện giống như tắm hơi.
Một anh chàng Úc đi nghỉ phép mà tôi va vào, nói: “Không nằm trong những giấc mơ hoang dại nhất của tôi, làm sao tôi có thể tưởng tượng Hà Nội lại là một nhà thương điên như thế”. Tôi ít kinh ngạc hơn một chút vì đã sống ở Beirut, nhưng ông ta nói đúng. Hà Nội là một nhà thương điên, đối lập trực tiếp với các thành phố chết như Havana và Bình Nhưỡng. Thành phố này ầm ầm với tiếng chói tai không bao giờ dứt của còi xe, tiếng máy bay, tiếng kèn, tiếng la hét, tiếng đập thình thịch, và tiếng búa nện thậm chí muộn vào buổi tối.
Trên tất cả, nó ồn ào với xe máy, chạy loạn xạ qua các đường phố, rất ít để ý hoặc chẳng màn để ý các tín hiệu giao thông, giới hạn tốc độ, hoặc cư xử lịch sự trên đường. Băng qua đường ở khu phố cổ là một điều đáng sợ. Không ai dừng lại nhường cho bạn. Họ sẽ chạy vòng quanh, chắc chắn, nhưng họ sẽ không bao giờ dừng lại để cho bạn băng qua – chẳng bao giờ cả. Cách duy nhất là cứ chọn một hướng, chọn một tốc độ, và bước vào lòng đường. Hãy tin rằng họ không muốn đụng bạn cũng như bạn không muốn bị đụng. Nhưng có lẽ tốt hơn là bạn nhắm mắt lại, nín thở và băng bừa qua hơn là do dự hoặc cố né tránh họ, điều đó sẽ chỉ làm cho họ khó hình dung ra hướng đi của bạn.
Phòng cấp cứu tại các bệnh viện chắc bận rộn. Tôi nhìn thấy một thanh niên đi xe gắn máy suốt một khu phố vừa nhắn tin trên điện thoại vừa né tránh các thứ xe khác, chỉ sử dụng tầm nhìn phạm vi gần của mình. Nhiều thiếu nữ ngồi trên ‘yên sau’ với bạn trai mà không cần nắm giữ vào bất cứ thứ gì. Một cú dừng đột ngột hoặc cú rẽ, rồi họ sẽ phóng như bay với tốc độ cao nhất vào luồng giao thông. Một người phụ nữ cưỡi xe qua tôi với một con chó hơn 20 kg trên ghế ngồi phía sau, cố gắng hết sức để khỏi rơi ra khi cô chạy vòng vèo quanh phố xá. Tôi còn nhìn thấy một gia đình năm người, có cả một trẻ sơ sinh, chất đống trên một chiếc xe scooter.  Không ai đội mũ bảo hiểm hoặc các món bảo hiểm khác. Có bao nhiêu luật sẽ bị vi phạm nếu như một gia đình ở Mĩ làm điều đó?
Lối đi bộ trong khu phố cổ là các lối đi nhiều cản trở của người bán hàng rong trên đường, quầy thực phẩm, các bà bán bột chiên hay rau quả và các khách hàng ngồi xổm trên ghế nhỏ ăn tối. Đôi khi có rất nhiều xe đạp đậu ngay giữa lối đi khiến người đi bộ phải lội xuống lòng đường nguy hiểm để vòng qua chúng. Nhưng trong khu phố Pháp – mà ở một số nơi trông giống như một bản sao phục dựng không tì vết, gần như hoàn hảo của Pháp – vỉa hè rõ ràng hơn, các đường phố dễ băng qua hơn. Chúng rộng hơn, vì vậy người đi xe máy không có cách nào khác ngoài việc phải tôn trọng đèn đỏ. Ngay cả người Việt cũng khó có thể băng nhanh qua đèn tại các nút giao thông lớn mà không bị đụng.
Tôi thuê một người đàn ông 60 tuổi hướng dẫn tôi đi dạo loanh quanh và hỏi anh ta có xe hơi không. “Tầng lớp trung lưu chưa có xe hơi đâu”, ông nói, và nói thêm thậm chí ông còn chưa biết lái xe. Ngay lúc đó, tôi cảm thấy câu hỏi là lố bịch. Dĩ nhiên ông không có xe hơi. Xe máy – xe gắn máy và xe scooter – chiếm 99% lưu lượng xe cộ ở Việt Nam. Thật kì lạ vì nhiều ngôi nhà lớn hơn nhà tôi ở Mĩ chiếm một tỉ lệ lớn không gian của thành phố. Có lẽ tầng lớp trung lưu thà tiêu tiền của mình cho nhà ở hơn là cho vận chuyển. Mặc dù gần như không theo chiều dọc, Hà Nội có một chút giống như Manhattan: Không có chỗ trên các đường phố để tất cả mọi người có một xe hơi. Họ sẽ không thể đậu, chưa nói tới việc di chuyển. Những nhà quy hoạch đô thị phải được san bằng thành phố và bắt đầu lại để thay đổi điều đó. Chính phủ biết điều đó và phạt những chủ xe tương lai với mức thuế xe gần 200 %.
Dù người Việt có trở nên giàu có đến mấy trong tương lai, họ không thể đánh bại thực tế. Họ sẽ bị dí cứng trong việc chạy xe máy loại này hay loại khác trong tương lai gần. Nhưng cách đây không lâu, hầu hết chỉ cưỡi xe đạp. Còn trước đó, họ chỉ đi bộ.
Tôi đã đến nhiều trung tâm mua sắm trên toàn thế giới. Nói chung tôi thấy chúng khử trùng và tẻ nhạt và khó mà tới đó khi tôi ở nhà. Nhưng trung tâm thương mại Thành phố Hoàng Gia (Royal City) của thành phố Hà Nội làm vỡ mọi ý tưởng mà tôi đã từng có về Việt Nam, và nó còn làm tôi kinh ngạc, thậm chí sau một tuần ở thành phố này. Kì dị làm sao lại có một chỗ như thế này trong một đất nước được điều hành bởi một chính phủ tự gọi mình là Đảng Cộng sản! Hồ Chí Minh chắc sẽ phải dội pháo vào cho nó biến đi.
Nguồn ảnh: LUONG THAI LINH/EPA/CORBIS
Một người đàn ông nhìn vào một thác nước bên trong trung tâm thương mại Royal City Hà Nội, gồm 600 cửa hàng và hơn 700 000 feet vuông. Photo credit: LUONG THAI LINH/EPA/CORBIS
Lối vào trông giống như cung điện của hoàng đế La Mã được bao quanh bởi các tòa nhà cao tầng sang trọng. Phía trong rộng lớn và ăn sâu dưới mặt đất. Bạn có thể đi bộ xung quanh nhiều dặm mà không phải dẫm lên bước đi cũ – ngang qua nhiều suối nước lấp lánh, nhà hàng và các cửa hàng địa phương cũng như chuỗi các cửa hàng quốc tế, cửa hàng ăn nhanh, sân chơi, một sân trượt băng, và một khu vực rộng lớn giống như một phiên bản hoạt hình của khu phố cổ Hà Nội nhưng không có giao thông nguy hiểm, tiếng ồn, tiếng va đập công trường xây dựng, các chướng ngại vật trên vỉa hè, và may mắn là cái nóng và độ ẩm. Nơi này cũng sang trọng như Las Vegas. Thật ra, bản sao trong nhà của khu phố cổ đúng là cái mà một ông trùm Las Vegas sẽ xây dựng nếu ông ta quyết định tạo ra một khách sạn và casino có chủ đề Việt Nam tương tự như những bản sao của Venice, New York, và Paris kiểu Disney. Tôi không thể nhịn được cười. Phiên bản Vegas của Hà Nội tồn tại… ngay tại Hà Nội.
Tôi chỉ có thể tưởng tượng một người Cuba sẽ cảm thấy ra sao nếu anh từ Havana bay lướt tới đây thấy mình với một tem phiếu trong túi và khoản lương tối đa do nhà nước áp đặt là 20 đô la một tháng trong ví. “Trung tâm thương mại” duy nhất mà tôi nhìn thấy ở Cuba là một không gian ảm đạm, nằm bên trong một hộp bê tông trông như một nhà để xe và không nhiều hàng để lựa chọn. Tôi đã từng đến trung tâm thương mại tốt hơn ở Iraq.
Thành phố Hoàng Gia chỉ là một trung tâm thương mại khổng lồ trong số rất nhiều trung tâm khác ở Hà Nội, tất cả đều được hàng ngàn người trung lưu lui tới mỗi ngày. Các trung tâm thương mại dường như cung cấp bằng chứng rằng, trên thế giới, dù có các nền văn hóa khác nhau, mọi người đều khao khát thành tư sản. Khi họ có phương tiện, họ muốn đi tới các trung tâm thương mại có nhiệt độ được kiểm soát. Họ mua sắm. Họ ăn tối. Họ xem phim trong Cinemaplex. Họ dẫn con cái theo. Họ tiếp xúc với bạn bè. Một số người có thể kết án rằng người Việt đã bị lây căn bệnh của xã hội tiêu thụ phương Tây và đang đánh mất linh hồn của nó, giống như người Mĩ. Nhưng nếu bạn muốn ngăn chặn mọi người sống theo cách này thì bạn sẽ cần phải đặt họ trong các trại tập trung.
Mặc dù mối quan hệ với Trung Quốc vô cùng tồi tệ, Hà Nội rõ ràng theo mô hình kinh tế và chính trị của Bắc Kinh. Việc đánh đổi khá đơn giản: nhà nước sẽ tạo ra tự do kinh tế miễn là công dân không đòi tự do chính trị. Perry Link, giáo sư Princeton và là chuyên gia về Trung Quốc mô tả việc mặc cả như sau, “Câm mồm lại thì tôi sẽ cho anh làm giàu”. Cho đến nay, điều này có hiệu quả ở cả hai nước. Có lẽ không chỗ nào trong điều sau là đáng ngạc nhiên. Ông Pete Peterson, cựu Đại sứ Mĩ tại Việt Nam, nói: “Việt Nam không bao giờ đến mức hoàn toàn cộng sản về ý thức hệ. Họ luôn là xã hội chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa hơn. Tôi nói với họ rằng họ nên ngưng việc tự gọi mình là Đảng Cộng sản, nhưng chẳng đi tới đâu. Ở đó mọi người trả tiền cho tất cả mọi thứ, kể cả chăm sóc sức khỏe. Chính phủ hầu như không cung cấp bất cứ thứ gì. Thụy Điển còn xã hội chủ nghĩa hơn Việt Nam nhiều”.
Tôi hỏi một người dân Hà Nội từ “cộng sản” có nghĩa là gì hiện nay tại Việt Nam. Ông nói: “Cộng sản ngày nay chỉ có nghĩa là chúng tôi đang bị một một đảng chính trị cai trị. Một số người phàn nàn về điều đó, nhưng nó không quan trọng với tôi miễn là chính phủ tạo ra môi trường làm ăn và sinh sống tốt, và họ làm được điều đó. Tôi không muốn nhiều đảng chính trị khác nhau cạnh tranh lẫn nhau và gây ra khủng hoảng như ở Thái Lan”. Ông ta có thể không quan tâm việc cai trị độc đảng, nhưng rất nhiều người Việt khác quan tâm. Chính phủ đã tạo điều kiện cho tầng lớp trung lưu nổi dậy đã nổ ra tại Đài Loan và Nam Hàn trước khi những nước này phát triển thành các nền dân chủ đa đảng.
Việt Nam đang tận hưởng một đợt nghỉ lễ trong lịch sử, đang tắm mình trong giai đoạn thịnh vượng và tương đối “tự do” hậu toàn trị trong bước đường tiến triển của mình. Giữa tất cả những động lực kinh tế và văn hóa, nhà nước là một thứ lỗi thời xa xăm lạ thường, bảng biển và khẩu hiệu của họ trông trái khoáy giống như bây giờ lại treo áp phích Thế chiến II ở Mĩ. Trên hệ thống truyền thanh ở mọi nơi, đảng vẫn tuôn ầm ĩ “tin tức” vào các đường phố và vào nhà của mọi người dân mỗi buổi sáng và buổi tối, nhưng những người Việt mà tôi trò chuyện lại bác bỏ xem nó như “chỉ là chuyện tuyên truyền”. Không chỉ ý thức hệ mà bản thân nhà nước cảm thấy hầu như không liên quan đến bất cứ ai nếu họ không phải là bất đồng chính kiến ​​thẳng thắn. Việc kiểm soát người dân Việt Nam và áp đặt trật tự trên sự hỗn loạn phóng túng là việc làm vô vọng. Dấu hiệu không được nhấn còi xe và các quy định giao thông thường xuyên bị coi thường, những hạn chế đậu xe cũng thế. Từ khách sạn đang ở, tôi nhìn thấy hai nhân viên cảnh sát dừng xe lại trên đường phố và dùng loa tay hét lên yêu cầu mọi người dời xe máy của họ ra khỏi vỉa hè. Họ tuân thủ, nhưng ít hơn năm phút sau khi cảnh sát lái xe đi, chỗ đó lại đầy ắp một lần nữa.
Ví dụ nổi bật nhất mà tôi gặp phải về khoảng cách xa xôi của nhà nước so với thực tế nằm bên trong một cửa hàng điện tử, ở đó có thể có rất nhiều các thứ công nghệ tiên tiến để lựa chọn so với các cửa hàng tốt nhất ở Silicon Valley. Cửa hàng cho phép nhiều lựa chọn thông thường về điện thoại thông minh và máy tính bảng, tất nhiên, mà còn có các nồi nấu cơm “thông minh” với nhiều tính năng mà người Mĩ chưa bao giờ nghe nói đến. Tôi thấy một TV 82-inch Ultra HD với độ rõ sắc nét đên nỗi đã làm tôi dừng lại bất ngờ. Nó có giá $ 15.000.
Chỉ bước tới một chút cùng lối, một TV nhỏ được chỉnh vào kênh “tin tức” chính thức của chính phủ. Nó cho thấy những cụ già trong bộ quân phục đang giảng giải trong một phòng đầy các bà tuổi đủ lớn để nhớ tới chiến tranh và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa vĩ đại, đang ngồi trong các ghế kim loại với tay xếp vào lòng lắng nghe giống như đám học trò ngoan. Giá trị sản xuất của chương trình không tốt hơn các bộ phim gia đình được quay trên một máy quay phim vào năm 1986, làm cho chính chiếc TV dường như lỗi thời vài thập kỉ, mặc dù nó vừa mới xuất khỏi dây chuyền lắp ráp tại Nhật. Tôi nhìn chằm chằm vào nó, cuốn hút bởi cảm giác ảm đạm thời thập niên 1970 của nó trong một gian phòng đầy các kĩ thuật gây kinh ngạc. Không ai trong số những người Việt đi mua sắm có chút chú ý tới nó. Họ dường như nhận ra, giống như tôi, rằng chế độ là một di tích chưa chết thuộc thời đại khác, bị làm lỗi thời bởi sự thịnh vượng ngày càng gia tăng của đất nước.
Người Việt chống Mĩ hầu như không tồn tại. Cái mà chúng ta gọi là Chiến tranh Việt Nam, và cái mà họ gọi là cuộc chiến chống Mĩ, không có chút bóng dáng nào – đặc biệt không có miền Nam, vốn từng cùng phía với Mĩ trong cuộc chiến, nhưng thậm chí cũng  không có ở Hà Nội, một thành phố bị Mĩ dội bom nặng nề. Tôi không thấy bằng chứng nào rằng Mĩ (hoặc nước nào khác) đã từng ném bom Hà Nội. Tất cả các thiệt hại có vẻ đã được sửa chữa, và hầu hết người Việt ở độ tuổi dưới 30, còn quá trẻ để nhớ được điều đó.
Cuộc chiến tranh đó chỉ là một cuộc chiến trong lịch sử lâu dài của nhiều cuộc xung đột và thậm chí nó không phải là cuộc chiến gần nhất. Sau khi Mĩ rút quân, người Việt vẫn tiếp tục đánh nhau. Trịnh Công Sơn viết “Hãy mở mắt ra lật xác quân thù. Mặt người Việt Nam trên đó”. Việt Nam xâm lược Campuchia vào năm 1978 và đã đánh bại chế độ quá hạn của Pol Pot và bè đảng diệt chủng của ông ta. Trung Quốc xâm lược Việt Nam vào năm 1979. Trước các cuộc xung đột trong thế kỉ hai mươi, Việt Nam lúc này lúc khác đã từng đánh nhau với Trung Quốc hơn 1000 năm. Cuộc chiến mà người Mĩ chúng ta biết rất rõ và phiền muộn chỉ là một tiếng nổ lách tách trong lịch sử Việt Nam, một cuộc chiến mà ở cả hai nước mọi người đều biết sẽ không lặp lại.
Có lẽ không quá đáng chú ý là người Việt Nam đã nhìn tới. Hầu hết người Mĩ cũng không giữ hận thù lâu, sau khi cơn nóng giận của chiến tranh đã giảm bớt. Hầu như không ai trong chúng ta ghét người Nhật, người Đức, hay người Việt. Chúng ta đúng là khinh bọn Taliban và ISIS, nhưng không khinh người vô tội Afghanistan hay Iraq. Vì vậy, người Việt Nam không phải độc nhất với việc trưởng thành về mặt cảm xúc lịch sử, nhưng họ trái ngược với một số người, đặc biệt là ở Trung Đông, những kẻ không thể vượt qua ngay cả những bất bình xa xưa nhất. George Santayana có phát biểu nổi tiếng rằng những ai không thể nhớ quá khứ bị lên án, sẽ lặp lại nó, mà đối với điều đó P.J.  O’Rourke thêm vào, qua xung đột Ả Rập-Israel trong đầu, rằng “điều đó tăng gấp đôi đối với những ai không thể nhớ bất cứ điều gì khác”.
Hiện nay, cả người dân Việt Nam lẫn chính phủ, ở miền Bắc cũng như miền Nam, đều xem Mĩ là đồng minh. Các lãnh đạo là những người cộng sản tự nguyện dấn thân vào một cuộc hành trình năng động kinh tế và tình hữu nghị với Hoa Kì, trước từ bỏ và sau đó đảo ngược tất cả mọi thứ mà họ đã từng chiến đấu và chết cho. Kết quả lả họ đang khởi sắc. Mong rằng điều như vậy sẽ xảy ra ở Havana và Bình Nhưỡng một ngày nào đó.
Michael J. Totten là biên tập viên của City Journal và là tác giả của sáu cuốn sách, gồm Tower of the Sun và Where the West Ends.

Wednesday, May 13, 2015

'Đại hội 2016 sẽ là thời điểm thay đổi trong chính trường Việt Nam?'

'Đại hội 2016 sẽ là thời điểm thay đổi trong chính trường Việt Nam?'


'Will the 2016 congress be the moment of change in Vietnamese politics?'

East Asia Forum (13/5/2015)
Alexander L. Vuving, APCSS
(Bản dịch đã đăng trên Anhbasam 14/5/2015)



Năm 2016, Đảng Cộng sản cầm quyền của Việt Nam (ĐCSVN) sẽ tổ chức Đại hội lần thứ 12 để chọn lãnh đạo mới cho Đảng và đất nước mà họ cai trị. Với các nhà lãnh đạo mới, các chính sách mới sẽ đến, nhưng những người hy vọng cho việc xuất hiện đổi mới lần hai có nhiều khả năng sẽ bị thất vọng. Mọi thay đổi, nếu có, sẽ chưa đủ để biến Việt Nam thành một con hổ mới ở Châu Á.


Nghịch lý là cái thường được gọi là thời kỳ đổi mới ở Việt Nam không phải là khoảng thời gian mà cải cách chiếm ưu thế. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Đông Âu vào cuối thập niên 1980 là một kinh nghiệm đau thương xác định tầm nhìn chiến lược của giai cấp thống trị Việt Nam trong những thập niên sau. Kết quả là, những nét chủ đạo của đổi mới không phải là cải cách nhưng ổn định là trên hết mọi thứ.


Khi đối mặt với sự lựa chọn giữa kế tục và thay đổi, tầng lớp thống trị bên trên của Việt Nam đã lựa chọn ‘kế tục cộng‘, trong đó 'cộng' thường đuợc giữ ở mức tối thiểu. Mặc dù quyết tâm cải cách đều được nhắc đi nhắc lại mỗi khi Đảng Cộng sản tiến hành Đại hội toàn quốc, mỗi lần họ đều chọn một người bảo thủ làm Tổng Bí Thư và làm lãnh đạo tối cao của đất nước.


Chế độ đã theo đuổi một cách hệ thống các biện pháp nhằm duy trì việc nắm giữ quyền lực. Các biện pháp đó bao gồm việc ban phát đặc quyền tài chính và hoạt động cho các quân đội, an ninh và cảnh sát. Các TBT  Đảng Cộng sản liên tiếp cũng đều tìm kiếm liên minh chiến lược với Trung Quốcđể có được sự ủng hộ nước ngoài cho chế độ.


Biên pháp khác là cất nhắc các ‘thái tử đỏ’ vào các vị trí lãnh đạo. Hai trường hợp dễ thấy là con trai của cựu TBT Đảng Nông Đức Mạnh và Thủ tướng hiện nay, ông Nguyễn Tấn Dũng (hiện là hai thành viên trẻ bất thường của BCH Trung ương Đảng) chỉ là những chỉ dấu của một hiện tượng chung hơn ở tất cả các cấp.


Trong khi các biện pháp này tạo ra phản kháng cơ cấu chống lại thay đổi thi ba thập niên đổi mới cũng đã tạo ra một môi trường đòi hỏi sự thay đổi. Tâm lý trong nước rõ ràng là nghiêng về hệ thống thị trường tự do và liên minh an ninh với phương Tây. Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu Pew tiến hành vào năm 2014 cho thấy 95 % người Việt ủng hộ thị trường tự do. Khi được hỏi trong một cuộc khảo sát của Pew năm 2014, nuớc nào Việt Nam có thể dựa vào như là một đồng minh đáng tin cậy trong tương lai nhất, 30 % số người được hỏi nghĩ rằng Hoa Kỳ, 25 % tin rằng Nga sẽ là một đồng minh đáng tin cậy và 15 % cho là Nhật Bản.


Thập niên vừa qua cũng thấy xã hội dân sự đang tăng lên dù thực tế rằng Luật Hội, một quy định chung dùng để điều chỉnh các nhóm xã hội dân sự, vẫn đang đình hoãn sau 23 năm soạn thảo. Nhờ phương tiện truyền thông xã hội, mọi người có thể xây dựng mạng lưới, chia sẻ ý tưởng, làm cho tiếng nói của mình đuợc nghe thấy và phối hợp hành động ngoài những gì mà chính phủ có thể dễ dàng kiểm soát. Chỉ dấu cho việc này là các cuộc biểu tình gần đây chống lại kế hoạch đốn cây của chính quyền Hà Nội, được nhà báo Trần Đăng Tuấn phát động.  'Sức mạnh blogger’ đang tăng  là một tiếng nói mà chính phủ khó thể liều lĩnh coi thuờng.


Đan xen một phần với sự nổi lên của xã hội dân sự là sự trở lại của chủ nghĩa yêu nước, mà trong hình thức hiện đại của nó có xu hướng chống Trung Quốc và thân phương Tây. Bị đè nén trong các thập niên 1990 và 2000, tình cảm dân tộc này đã được hồi sinh do cuộc xung đột với Trung Quốc ở Biển Đông. Tình cảm như vậy gần đây đã gây áp lực lớn lên chính phủ tách khỏi quỹ đạo Trung Quốc.


Áp lực cho sự thay đổi này cũng đến từ nền kinh tế. Dù mức phát triển kinh tế nằm trong khoảng 5 tới 6 % một năm, nền kinh tế của Việt Nam có tính chất trì trệ. Với tư cách một chỉ số về cải cách thể chế và đổi mới công nghệ, năng suất tổng yếu tố (TFP) chỉ có đóng góp 6,4 % vào tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2007-2012.


Với áp lực đòi hỏi thay đổi tăng lên, các lãnh đạo buộc phải hành động. Nhưng thay vì cải cách sâu rông theo lời kêu gọi đồng thanh ngày càng tăng của giới trí thức, những người cai trị của Việt Nam lại đi theo một con đường khác.


Sự pha trộn chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ đổi mới đã thúc đẩy các hoạt động trục lợi vốn sử dụng quyền lực làm ra tiền và dùng tiền để mua quyền lực. Đến năm 2006, những kẻ ttrục lợi đã trở thành khối khống chế trong tầng lớp thống trị bên trên và BCH Trung Ương Đảng. Theo đó họ đã có thể ngăn chặn chiến dịch chống tham nhũng đuợc thủ lĩnh Đảng Nguyễn Phú Trọng cổ vũ và cứu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thoát các nỗ lực lật đổ ông.


Đồng thời khi chống cải cách, những kẻ trục lợi đủ linh hoạt để hình thành nên một chế độ mới đphù hợp với lợi ích của họ. Tham vọng của họ và sự tranh đua nội bộ sẽ là con bài khống (wild card: con bài có giá trị do người chơi định - ND) lớn nhất trong thời gian tiến tới Đại Hội Đảng lần thứ 12 và trong những năm tới.


Alexander L. Vuving là phó giáo sư tại Trung Tâm Châu Á-Thái Bình Dương Nghiên Cứu An Ninh. Các quan điểm thể hiện trong bài viết này là thuộc về tác giả và không phản ánh quan điểm của chính phủ Mỹ, Bộ Quốc phòng, hoặc Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương Nghiên Cứu An Ninh.

Wednesday, February 26, 2014

Bản kiểm điểm của ông Tống Văn Công

BẢN KIỂM ĐIỂM KHÔNG ĐẠT YÊU CẦU

TỐNG VĂN CÔNG


   Ngày 14-2- 2014, tôi được Đảng ủy mời họp tại văn phòng đảng ủy phường Tân Kiểng, quận 7, TP HCM,  để nghe  chỉ đạo  tự kiểm điểm về những khuyết điểm của mình. Do  không được trao văn bản, tôi đã ghi chép mấy điểm chính: Từ năm 2009 đã viết hơn 30 bài trái quan điểm của Đảng, đưa lên mạng gây tác động xấu; Có 15 cuộc kiểm điểm góp ý mà không sửa chữa. Có những bài chống Trung Quốc,  gây chia rẽ  hai Đảng, hai nước xã hội chủ nghĩa; Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh; Tự diễn biến hòa bình suy thoái chính trị: Cổ vũ tam quyền phân lập, đa nguyên, đa đảng, vi phạm 19 điều cấm đảng viên không được làm theo Quyết định 47- QĐ/TW của Bộ Chính trị. Đồng chí Công phải viết bản tự kiểm điểm và tự nhận một hình thức kỷ luật của Đảng.


VÌ SAO TÔI VIẾT BÀI “ĐỔI MỚI ĐẢNG TRÁNH NGUY CƠ SỤP ĐỔ” ?

 Tháng 9 năm 2009 tôi viết bài trên với mở đầu bằng câu “Tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: giặc ngoại xâm và giặc nội xâm”.
 Từ 2005, Trung Quốc bắt đầu bắn giết đuổi bắt ngư dân đòi tiền chuộc. Ngày 9-1-2005, chúng bắn chết 9 ngư dân Hoằng Hóa, Thanh Hóa, bắn bị thương 9 người, bắt sống 9 người đòi tiền chuộc mỗi người hơn 100 triệu đồng. Các hãng tin nước ngoài đưa tin, ta im lặng. Sau 4 ngày, người phát ngôn Trung Quốc Khổng Tuyền tuyên bố “Qua 55 năm quan hệ ngoại giao hai nước đã bước qua giai đoạn phát triển mới vô cùng tốt đẹp”. Tiếp theo Bộ Quốc phòng cử đoàn cán bộ quân sự cao cấp sang Trung Quốc học tập chính trị. Nhưng không vì thế mà Trung quốc giảm bớt các hành động bắn giết, đuổi bắt ngư dân. Tháng 6 năm ngoái (2013), trong khi người dân bức xúc vì liên tiếp 2 tàu cá Quảng Ngãi, bị bắn chìm, một ngư dân chết thỉ báo chí đưa tin ngày 6-6-2013, Bộ Quốc phòng cử 22 cán bộ cao cấp sang Trung Quốc học chính trị, đây là đợt thứ 6.
 Năm 2009 còn có chuyện mở đầu thực hiện với Trung Quốc khai thác bô xit Tây Nguyên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi liên tiếp 3 thư yêu cầu ngưng dự án này với 2 lý do: Tây nguyên là địa bàn an ninh quốc phòng, không nên đưa nước ngoài khai thác; Hai là không có hiệu quả kinh tế. Các nhà khoa học tổ chức nhiều cuộc hội thảo và kiến nghị giống như Đại tướng, có nêu thêm cảnh báo sẽ có hàng vạn tấn bùn đỏ trên cao hơn 1000 mét có thể đổ ụp xuống làm miền Đông và Sài Gòn chết khát. Nhưng Đảng, Nhà nước ta vẫn kiên trì thực hiện thông cáo chung đã được TBT Nông Đức Mạnh cam kết với Đảng bạn. Năm 2013, nhà máy Tân Rai đã cho ra sản phẩm. Trung Quốc mua dưới giá thành. Tính ra mỗi năm lỗ khoảng 100 triệu đô la. Những vị có trách nhiệm xin miễn giảm thuế và cam kết từ năm 2020 sẽ lãi to! 
 Về hiểm họa nội xâm: Tham nhũng tỏ ra bất trị, cứ tăng nhanh từng năm, tháng. Tại Hội nghị Trung ương 3, năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh phát biểu “Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ”. Là một đảng viên sao có thể vô cảm trước “sự sống còn” ghê gớm ấy? Tuy nhiên dù rất nhiều cảnh báo góp ý, 6 năm sau, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 4 sáng ngày 26 tháng 12 năm 2011 có đoạn như sau: “Đặc biệt có một câu hỏi lớn rất day dứt, trăn trở lâu nay, cần được trả lời cặn kẽ là: Vì sao công tác xây dựng Đảng được Trung ương rất coi trọng, đã có nhiều nghị quyết chỉ thị rất đúng, rất hay, nhiều cuộc vận động sâu rộng, nhưng kết quả vẫn chưa đạt yêu cầu? Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả ở cấp cao, chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng? Vướng mắc chính là chỗ nào?”
 Như vậy là dù 30 năm với rất nhiều nghị quyết, chỉ thị, tham nhũng vẫn không lùi nhưng Tổng bí thư vẫn cho rằng Nghị quyết, chỉ thị rất đúng!
Sau một năm thi hành Nghị quyết Trung ương 4, Tổ chức Minh Bạch thế giới xếp hạng Việt Nam tụt 11 bậc về kết quả chống tham nhũng. Nhân loại tiến bộ đã rút ra bài học thực tế rất ngắn gọn về tham nhũng như sau: Tham nhũng là do Nhà cầm quyền độc tài, quyền quyết định của viên chức quá rộng, thiếu công khai minh bạch và quyền tư pháp không độc lập, do đó không kiểm soát được quyền lực.
 Lẽ ra những người lãnh đạo của Đảng cầm quyền sau hàng chục năm với nhiều nghị quyết vẫn không chống được tham nhũng thì phải hiểu rằng các nghị quyết ấy sai, hoặc chưa đầy đủ, phải học cách làm của những quốc gia chống tham nhũng thành công đặt ra cho mình những câu hỏỉ từ bài học của nhân loại.
 Quan liêu, độc quyền đẻ ra tham nhũng, làm suy thoái Đảng cầm quyền, gây ra khủng hoảng chính trị. Lịch sử 84 năm của Đảng cộng sản Việt Nam chưa bao giờ có chuyện Tổng bí thư thay mặt Bộ chính trị đề cử 2 người vào Bộ Chính trị mà bị bác bỏ cả hai và bầu 2 người khác. Chưa bao giờ có tình trạng các nhà lãnh đạo công kích nhau trước nhân dân. Chưa bao giờ trong một cuộc họp báo công khai mà ông nói gà, bà nói vịt. (Họp báo đầu năm ngày 7-2, Đinh Thế Huynh nói, báo chí thông tin, bình luận phải có lương tâm và trách nhiệm tạo ra sự đồng thuận, không được phép nói trái làm phân tâm các véc tơ phát triển. Sau đó, phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nói: “Tạo đồng thuận không phải là khen xuôi chiều mà phải phát hiện phê phán với tinh thần xây dựng”). Chưa bao giờ có tình trạng nhiều đảng viên tuyên bố bỏ Đảng như bây giờ!
 Từ khủng hoảng chính trị đã gây ra khủng hoảng toàn diện cho đất nước. Chỉ xin nêu sơ lược vài nét:
+   Nền kinh tế được hi vọng sẽ sớm xuất hiện “con rồng Việt Nam” đã lâm vào khủng hoảng 2 năm trước khủng hoảng của thế giới, đến nay theo Viện trưởng quản lý kinh tế Trần Đình Thiên, “kinh tế thế giới đã bước vào quỹ đạo phục hồi, nhưng Việt Nam thì còn ở dưới đáy, bởi nợ xấu, sở hữu chéo, đề án tái cơ cấu tiếp tục nằm trên giấy. “ (Tại Hội thảo mùa Thu ở Huế)
+  Nông dân kéo đi khiếu kiện vượt cấp hàng chục năm, tới lúc dùng súng chống cưỡng chế. Nguyên chủ tịch tỉnh lúa An Giang Nguyễn Minh Nhị nói: “Bao nhiêu năm theo Đảng giành độc lập, có độc lập rồi thì mất quyền sở hữu ruộng đất, dắt díu nhau lên các khu công nghiệp tìm sống với đồng lương bèo bọt” (báo Nông nghiệp Việt Nam Têt Tân Mão).
 +  Giai cấp công nhân được mệnh danh là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua Đảng của mình. Nhưng họ đang trong tình trạng cùng khổ chưa từng có. Giống như giai cấp công nhân ở thế kỷ 19 mà Marx – Engels đã mô tả, nhưng còn khổ hơn vì không được phép đình công. Theo Tổng Liên đoàn Lao động lương tối thiểu của họ chỉ đủ cho 60% mức sống tối thiểu, có 94% phải tăng ca, tăng giờ. Họ đã tự tổ chức hơn 5000 cuộc đình công bị coi là bất hợp pháp vì không được công đoàn lãnh đạo! Trước đây công nhân còn cử ban đại diện ra đối thoại với chủ, nhưng từ 2013 không còn ai dám đứng ra làm đại diện nữa, vì sau khi tình hình ổn định thì người đại diện bị chủ sa thải, hoặc bị bắt về tội kích động đình công.
 + Năm 2013 Công ty tư vấn tài sản WealthX và Ngân hàng Thụy Sĩ UBS thông báo: “Mặc cho kinh tế khó khăn, số người “siêu giàu” ở Việt Nam (có tài sản 30 triệu USD) đã tăng 15%, trong khi đó có 8,1 triệu người nghèo đói”. Có thể nêu tên 2 người nghèo phải tìm cái chết đã được đăng báo là: Chị Lê thị Ngọc Nhãn ở Cà Mau trước khi tự tử đã gửi thư cho Trung tá Diện “Sau khi cháu chết rồi xin chú giúp các con của cháu được vào trại mồ côi. Cháu đội ơn chú đời đời”. Chị Nguyễn thị Mỹ Nhân cũng ở Cà Mau tự tử để được công nhận diện nghèo, đã gửi thư cho Đảng ủy xã: “Xin thấu hiểu hoàn cảnh không lối ra của gia đình tôi, sau khi tôi chết, đồng ý cấp sổ nghèo cho chồng con tôi được sống.”
 + Đạo đức xã hội băng hoại chưa từng thấy. Một dân tộc sống theo phương châm “thương người như thể thương thân”, những năm kháng chiến nhà nhà đêm không gài cửa, ra ngõ gặp anh hùng. Sau 38 năm sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa sao biến đổi ghê gớm như vậy? Con đánh giết cha mẹ, cháu đánh giết ông bà, vợ đốt chồng. Thanh niên ném đá lên ô tô tàu hỏa làm vui. Thợ vá xe rắc đinh bẫy người đi mô tô. Đi lao động nước ngoài thì trộm cắp và bỏ trốn để sống bất hợp pháp. Các báo mới đưa tin thày trò đánh nhau giữa lớp. Chuyện thầy gạ tình cho điểm, ép mua dâm học trò vị thành niên liên tục xảy ra. Điều tra của Trung tâm xã hội học cho hay: Học sinh cấp 1 có tỉ lệ nói dối 22%, cấp 2 tăng lên 50%, cấp 3 64%, đại học 80 %. Chúng ta sắp có lớp trí thức mới nói dối nhất thế giới. Nguyên Bộ trưởng giáo dục Nguyễn Thị Bình nói “Giáo dục Việt Nam kém hơn cả Campuchia, Lào” (Trên báo Giáo Dục).
  Cũng chính vì không chịu đổi mới chính trị, khư khư ý thức hệ giáo điều mà không có một sách lược đối ngoại đúng đắn nhất là đối với Trung Quốc, bị họ lòe bịp “16 chữ vàng” và “4 tốt”. Trung Quốc chưa bao giờ là nước xã hội chủ nghĩa, và ngày càng tỏ ra là một nước phát xít. Sau giải phóng họ bắt đầu thôn tính Tây Tạng, Tân Cương, đàn áp, không ghê tay, sau đó tấn công biên giới Ấn Độ, Liên Xô… Họ dùng 2 thủ đoạn xảo trá để buộc chúng ta khuất phục: Một là kể công ơn đã giúp ta; Hai là đề cao cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, phải cùng “chống âm mưu diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch phương Tây. Họ khuyên ta cử cán bộ sang nghe họ giảng dạy về bảo đảm an ninh chính trị, chống âm mưu diễn biến hòa bình và ta đã làm theo.
  Nên biết, ngày xưa họ giúp ta chỉ vì sách lược dùng máu Việt Nam để mặc cả với Mỹ và phương Tây và để có điều kiện thao túng ta. Năm 1954, họ ép ta nhận sự chia đôi đất nước. Năm 1972 họ bắt tay Nixon bán đứng ta, để chiếm trọn Hoàng Sa. Năm 1975 họ nhờ tướng Pháp Vanuxem khuyên Dương Văn Minh lên tiếng cầu cứu, Bắc Kinh sẽ cứu Việt Nam Cộng hòa, bị tướng Minh từ chối. Năm 1979, họ xui Pôn Pốt đánh ta, rồi cho rằng ta bị kẹt ở Campuchia, họ đưa 600.000 quân xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc, giết hàng vạn dân thường, đập phá từng cái nồi, hãm hiếp, giết chết đàn bà con trẻ ném xuống giếng. Bị thua đau, họ rút quân, nhưng vẫn chiếm giữ nhiều vùng núi hiểm trở. Năm 1988 họ tấn công đảo Gạc Ma và các đảo ở Trường Sa, xả súng giết 74 hải quân ta. Mỗi dịp kỷ niệm ngày hải quân họ đưa phim này ra chiếu. Hiện nay họ vẫn tuyên bố toàn bộ Trường Sa và 80% Biển Đông là của họ, việc đánh chiếm chỉ là chờ thời cơ.
Nhiều đảng viên cộng sản dẫn đầu biểu tình phản đối tội ác của chúng đã bị đuổi bắt. Nhà văn Nguyên Ngọc đi biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn đã bị Đài truyền hình Hà Nội gọi là bọn phản động, ông kiện, tòa trả lại hồ sơ không xử. Tôi và đồng chí giáo sư Tương Lai trên đường đi dự cuộc mít tinh phản đối Trung Quốc xâm lược tại Nhà hát Thành phố (ngày hôm trước đã báo với ông Lê Minh Trí Phó chủ tịch UBND TP HCM) đã bị hơn chục xe cảnh sát bao vây buộc phải vào đồn.
Quá bức xúc trước tình trạng khốn khổ của ngư dân, anh André Menras tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết, người từng treo cờ Mặt trận giải phóng trước Nghị viện Sài Gòn, bị Chính quyền Sài Gòn bỏ tù, đã xin Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cho phép làm bộ phim “Hoàng Sa- Việt Nam, nỗi đau mất mát”. Anh bỏ tiền dành dụm nghỉ hưu đem làm phim. Phim làm xong được duyệt, nhưng cho tới nay vẫn cấm chiếu. Một lần họp mặt với bạn tù thời chống Mỹ ông đem phim ra chiếu đã bị cảnh sát giải tán. Hồ Cương Quyết búc xúc kêu ”Bác Hồ ơi, Bác sống lại mà coi!”
Nhân đây tôi muốn nhắc lại trong cuộc kiểm điểm tôi về bài viết ”Đổi mới Đảng tránh nguy cơ sụp đổ”, có chi ủy viên đã nói ”Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa. Ta nói của ta. Trung Quốc nói của Trung Quốc. Đồng chí Công nói vậy là gây chia rẻ hai Đảng và hai nước xã hội chủ nghĩa anh em”. Lãnh đạo các cấp ủy không ai có ý kiến gì. Tôi không chê trách các đồng chí mà chỉ băn khoăn lo lắng, vì sao Đảng lãnh đạo không quan tâm giáo dục cho đảng viên và nhân dân hiểu lời của đức Trần Nhân Tông “Các ngươi phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay giặc”. Tháng trước, Thủ tướng chỉ đạo phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa, báo vừa đăng lên đã bị gở xuống. Quan hệ với Trung Quốc gây thiệt hại về phía Việt Nam chưa thể lường hết. Qua 20 năm, FDI từ Trung Quốc chỉ chiếm 1,5% nhưng Trung Quốc lại trúng thầu hơn 90% các công trình điện, khai khoáng, luyện kim, hóa chất. Họ đưa cho ta thiết bị lỗi thời. Mấy năm qua ngành mía đường cứ kêu bị đường nhập lậu đánh bại là do thiết bị Trung Quốc cũ kĩ, tiêu hao năng lượng, lao động nhiều, giá thành cao, chất lượng kém. Sau đường là xi măng và nhiều thứ khác. Các công trình trúng thầu, họ đưa lao động cơ bắp người Trung Quốc sang xây nhà ở, lập nhà hàng, lấy vợ sinh con, mua đất đứng tên vợ. Các làng Trung Quốc hình thành khắp nơi từ Mông Cái, đến Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Khánh Hòa…. Thương lái Trung Quốc gây khó từ Lạng Sơn tới tận Cà Mau, họ hợp đồng mua rể hồi, móng trâu, khoai lang, đỉa, ốc bưu vàng, lá vải… ít lâu thì họ biến mất.
   Chúng ta đã lập quan hệ hữu nghị hợp tác với những “kẻ thù cũ” Pháp, Mỹ, đặc biệt đã đưa Tổng thống Pháp Mitterand đi thăm chiến trường xưa Điện Biên Phủ nơi họ bị bắt sống 17.000 quân nhục nhã. Suốt hơn nửa thế kỷ chúng ta vẫn long trọng tổ chức những ngày kỷ niệm chiến thắng. Thậm chí hàng ngày báo chí, đài tuyền hình phát thanh còn ra rả chửi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Nhưng không vì thế mà họ gây khó khăn cho ta, thậm chí họ vẫn viện trợ, tạo điều kiện cho ta phát triển. Cuộc chiến chống xâm lược biên giới phía Bắc từng được báo Nhân Dân bình luận với tựa đề “Chiến công hiển hách ghi vào lịch sử chống xâm lược của dân tộc”, thế nhưng sau khi lập lại quan hệ bình thường với Trung Quốc thì dường như bị buộc phải quên chiến công hiển hách ấy đi? Tại sao với Trung Quốc chúng ta không dám đòi bình đẳng như các quốc gia khác? Rất tệ hại là chủ trương đục bỏ bia chiến thắng ở Cầu Chánh Khê, bôi xóa tên liệt sĩ Hoàng thị Hồng Chiêm trên tượng đài của chị và đổi tên trường trung học mang tên chị thành trường Bình Ngọc (thuộc Mông Cái). Ở tận núi Quyết, thành phố Vinh Nghệ An, người ta còn đập bỏ tấm bia của Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi Quang Trung vì có hai chữ “giặc tầu”. Bài thơ như sau:
 “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
 “Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu.
 “Ông đà chí cả, mưu cao,
 “ Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
 “Cho nên Tàu dẫu làm hung,
 “Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà”.

Cách xử lý như trên cùng với việc cho cảnh sát đuổi bắt, ném lên xe những đảng viên và nhân dân đi biểu tình mỗi lần Trung Quốc gây hấn vô lý, có phải là sách lược sáng suốt hay không?  Một Đảng trong sạch không tham nhũng, tôn trọng và hết lòng phục vụ nhân dân, đồng thời không khuất phục trước kẻ thù hung bạo là hai điều kiện quyết định để có thể đứng vững và tồn tại.
    Tổng bí thư Lê Duẩn trong bài nói sau ngày chiến thắng biên giới phía Bắc năm 1979 có đại ý: Trung Quốc từ lâu có âm mưu bành trướng xuống phía Nam. Khi chúng có điều kiện thực hiện thì đầu tiên sẽ là xâm lược Việt Nam. Muốn không bị xâm lược chúng ta phải mạnh lên, cả nước đoàn kết một lòng. Chúng ta không thù hằn Trung Quốc, coi nhân dân Trung Quốc là anh em. Bọn phản động cầm quyền chỉ là một bè lũ. Ý kiến của ông vẫn còn nguyên giá trị thời sự!
    Nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây khủng hoảng và hèn yếu trước ngoại bang là do Đảng không đổi mới chính trị tương ứng với đổi mới kinh tế. Thế nào là đổi mới chính trị? Nội dung chủ yếu đã có trong hai câu mở đầu Tuyên ngôn độc lập năm 1945 trích từ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và Tuyên ngôn nhân quyền 1791 của Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Hơn 60 năm qua Liên Hiệp Quốc đã lần lượt ban hành nhiều Tuyên ngôn, Công ước cụ thể hóa các quyền tự do của con người. Nhà nước Việt Nam cũng đã ký cam kêt thực hiện nhiều công ước quan trọng.
Các quyền tự do gồm có: Quyền sở hữu tài sản riêng, quyền tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo, tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do đi lại và cư trú, quyền tham gia quản lý đất nước trực tiếp, hoặc thông qua lựa chọn người đại diện bằng cuộc tự do bầu cử thường kỳ, chân thực, bình đẳng, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín. Các quyền tự do nói trên đều được ghi vào Hiến pháp, nhưng suốt 70 năm chưa được thực hiện hoặc thực hiện một cách hình thức. Cho nên nhân dân có câu “Đảng cử dân bầu”. Quyền lập hội chỉ là vào các hội, đoàn do Đảng lập ra. Quyền tự do báo chí là viết báo của Đảng, nhà nước. Hồ Chủ tịch từng nói, báo nhà nước lập ra không phải là báo chí tự do (sách Hồ Chủ tịch với báo chí, do Hội nhà báo TP HCM xuất bản 1980, trang 9). Đó là trái với các Công ước mà nhà nước ta đã ký kết.
Để các quyền tự do của con người trở thành hiện thực thì phải có một chế độ dân chủ để thực thi. Dân chủ là thể chế hóa các quyền tự do của con người bằng một bản hiến pháp đảm bảo pháp quyền, thể hiện trung thực ý chí chính trị của nhân dân.Theo bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền đã nói ở trên, điêù 16 có nội dung như sau: ”Một xã hội mà trong đó các quyền con người không được đảm bảo, nguyên tắc tam quyền phân lập không được tôn trọng, thì hiến pháp có được ban hành hay không cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Tức là phải có nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập thì mới có thể đảm bảo quyền tự do của con người. ( Nga và các nước Đông Âu ngày nay đều ghi “tam quyền phân lập” trong hiến pháp của họ). Thông điệp đầu năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Dân chủ và nhà nước pháp quyền là cặp song sinh trong thể chế chính trị hiện đại” là có ý nghĩa như vậy. Nhà nước dân chủ phải là nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập. Nhà nước dân chủ phải tôn trọng đời sống của một xã hội dân sự, nội dung phong phú của nó đã được ghi đầy đủ trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” mà nhà nước Việt Nam đã ký cam kết thực hiện từ ngày 24 -9-1982, nhưng sau 30 năm hầu như chưa thực hiện được gì đáng kể!

TẠI SAO TỰ DIỄN BIẾN ?

Cuộc sống luôn luôn biến động. Cái hôm qua cho là đúng hôm nay không còn thích hợp. Cho nên chống “tự diễn biến”, chống “diễn biến hòa bình” tức là chống lại sự thay đổi, chống tinh thần sáng tạo tìm những điều thích hợp trong hoàn cảnh mới, chống trào lưu tiến bộ, cố ôm giữ mớ giáo điều mà ngay những nhà mác xít trước đây cũng không chấp nhận. Phép biện chứng cho rằng, mọi sự vật đều tiệm tiến dần dần đi tới đột biến. Tôi xin ôn lại về sự “tự diễn biến” của chính hai ông tổ khai sáng chủ nghĩa cộng sản là Karl Marx và F. Engels. 
Năm 1848 Marx và Engels công bố Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, cơ sở lý luận của Quốc tế cộng sản thứ nhất. Trong đó có những luận điểm về đấu tranh giai cấp, cho rằng giai cấp tư sản tạo ra những người đào huyệt chôn chính nó, cách mạng vô sản sẽ lật đổ nhà nước tư sản, thực hiện chuyên chính vô sản, xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ thị trường, xóa bỏ cả tôn giáo… Từ thập niên 60 thế kỷ 19 hai ông bắt đầu thấy có sự biến đổi trong chủ nghĩa tư bản và chủ trương đấu tranh hợp pháp, không làm cách mạng để lật đổ nhà nước tư bản. Sau khủng hoảng kinh tế năm 1866, Các công ty cổ phần và các ngân hàng đầu tư quy mô lớn ra đời làm thay đổi cơ cấu xã hội của chủ nghĩa tư bản. Marx nhận xét, vậy là nhà tư bản “đã từ bỏ sản nghiệp tư hữu của chủ nghĩa tư bản họ chỉ còn là chủ cổ phần của xí nghiệp”. Do đó, phát biểu với quần chúng ngày 8-9-1872 ở Amsterdam (Hà Lan) Marx công nhận các nước như Mỹ, Anh, Hà Lan… công nhân có thể đạt được mục đích của mình bằng biện pháp hòa bình.. Hai ông tán thành quan điểm của Ferdinand Lassalle lãnh tụ Đảng Xã hội – Dân chủ Đức chủ trương hòa bình đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi tan rã quốc tế thứ nhất năm 1876, hai ông không tìm cách khôi phục lại mà bắt đầu soạn thảo Cương lĩnh chuẩn bị ra đời Quốc tế thứ 2. Năm 1883 Marx qua đời, do đó Engels là người chủ trì Đại hội quốc tế của những người lao động xã hội chủ nghĩa tại Pari từ 14 đến 21 tháng 7 năm 1889 thành lập Quốc tế thứ 2 mà nội dung của nó hoàn toàn khác với Tuyên ngôn cộng sản năm 1948 ở những điểm lớn sau đây:  
-  Đảng và công đoàn đấu tranh bênh vực,bảo vệ quyền lợi mọi mặt của công nhân lao động.
-  Không dùng bạo lực cách mạng lật đổ nhà nước tư sản mà đấu tranh nghị trường đa nguyên đa đảng, chấp nhận thể chế đại nghị, cử đại diện tham gia bầu cử, nếu thắng cử thì nắm quyền chính trị thực hiện chế độ xã hội - dân chủ.
- Trong Đảng không lấy lập trường, quan điểm ý thức hệ sát phạt nhau mà tự do tư tưởng, và tất cả thượng tôn pháp luật.
 Ngày 6-3-1895, Engels viết lời tựa cho quyển sách “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, trong đó có đoạn như sau: “Lịch sử chứng tỏ chúng ta mắc sai lầm. Quan điểm của chúng ta hồi đó chỉ là một ảo tưởng. Lịch sử còn làm được nhiều hơn, không những xóa bỏ những mê muội của chúng ta mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 đã lỗi thời về mọi mặt”.
 Lê nin không chấp nhận đường lối của Quốc tế thứ 2. Do đó không thể xem ông là người kế tục Marx và Engels. Ông kế thừa chủ nghĩa Blanqui, phái bạo lực trong Quốc tế thứ 1, cho rằng, chỉ cần dựa vào cách mạng bạo lực là có thể sáng tạo được một thế giới mới không có bóc lột và áp bức.
Do Lê nin chống Quốc tế 2, Đảng Xã hội Dân chủ Nga chia ra thành 2 phái đối lập nhau, phái theo Lê nin chiếm đa số nên gọi là bonsevich. Trái với dự đoán của Marx – Engels là cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ thành công ở nước tư bản phát triển nhất như Đức, Lê nin lãnh đạo Cách mạng tháng mười thành công ở nước Nga nông nghiệp lạc hậu. Điều này đã làm cho ông tự tin rằng mình không kém Marx, mà còn đúng hơn Marx! Ông đề ra các nguyên lý về chuyên chính vô sản không phải là chuyên chính của cả giai cấp mà là chuyên chính của Đảng độc quyền, không còn bảo đảm “sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người” (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản), ông đề ra nguyên tắc tập trung dân chủ, …
Ngay sau cách mạng Tháng 10 thắng lợi đã có nhiều nhà cách mạng Nga và thế giới không đồng ý với các quan điểm của Lê nin như Plekhanov, Kausky, Rosa Luxemburg … Trong đó, bà Luxemburg được Franz Mehring người viết tiểu sử của Marx cho là “khối óc tốt nhất đứng sau Marx”, bà nhân định “chuyên chính vô sản của Lê nin đối lập với dân chủ”.
Các ý kiến phản đối cho rằng Lê nin sẽ làm chế độ cách mạng Liên Xô đi tới chỗ sụp đổ đã được nhà nghiên cứu xã hội John Reed ghi lại trong quyển “Mười ngày rung chuyển thế giới” (Việt Nam đã dịch và xuất bản 2 lần năm 1960 và 1977). Lê nin đọc sách này một cách hứng thú, ông đã viết thư cỗ vũ nhà xuất bản in sách, chấp nhận công khai các lời chỉ trích nói trên đối với ông. Do đó, sau khi Liên Xô sụp đổ nhiều nhà bình luận cho rằng chính Lê nin mới là người gieo mầm cho Liên Xô bị tan rả 70 năm sau.
 Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu có uy tín đều cho rằng chính các Đảng xã hội - dân chủ mới là những Đảng thừa kế đúng đắn tư tưởng của Marx và Engel. Nhiều nước Bắc Âu vận dụng tư tưởng này đã giành thắng lợi lớn, thực hiện đa nguyên, đa đảng, nhưng luôn giành thắng lợi trên nghị trường, xây dựng nhà nước phúc lợi, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là công nhân lao động, khoảng cách giàu nghèo không đáng kể, tham nhũng hầu như không có.
Đảng xã hội - dân chủ Thụy Điển, chấp nhận đa nguyên, dựa vào người lao động, đấu tranh nghị trường;. Có thời gian rất dài Đảng liên tục cầm quyền 44 năm, đưa nước Thụy Điển nghèo nàn, lạc hậu trở thành nước giàu bật nhất, khoảng cách giàu nghèo không đáng kể, hầu như không có tham nhũng, ổn định nhất thế giới. Năm 2013 Cộng hòa Liên Bang Đức nước giàu mạnh nhất Châu Âu kỷ niệm 150 năm Đảng dân chủ - xã hội Đức, một Đảng theo đường lối của Quốc tế 2 lâu đời và vững mạnh vào bậc nhất. Nhân dịp này Tổng thống Joachim Gauck có bài diễn văn ca ngợi Đảng có lịch sử lâu dài dám xả thân vì niềm tin của mình: “Đó là bầu cử tự do, bình đẳng trong cả nước, bất chấp sự khác biệt xã hội của những người tham gia bầu cử, là cấm lao động trẻ em, là các tòa án phải độc lập”. Quan điểm đúng đắn đã thắng thế trong Đảng, đó là: Không thiết lập một đặc quyền giai cấp mới nào”, “dân chủ phải vừa là phương tiện vừa là mục tiêu”, “đấu tranh cho cải cách chứ không phải cho việc làm cách mạng”, ” can đảm phấn đấu cho sự hợp tác chính trị với những lực lượng to lớn khác của các đảng phái tư sản”; “cải thiện từng bước cụ thể đời sống con người, thay vì công bố những mục tiêu xa vời không tưởng”. Do đó, Đảng kế thừa tư tưởng của Marx, Engels, Lassalle vững mạnh suốt 150 năm làm choTây Đức có thu nhập cao gấp 4 lần Đông Đức xã hội chủ nghĩa theo chuyên chính vô sản của Lê nin khi thống nhất!
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam cũng tỏ rõ một quá trình tự diễn biến rất gian nan, có lúc nhanh, lúc chậm, có lúc đúng, lúc sai và nhiều lần sai rất nghiêm trọng và kéo dài.  Khoảng 1930- 1931 khẩu hiệu vang dội của Đảng là “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc trốc tận rể”. Năm 1945 đảo ngược lại hoàn toàn: Đoàn kết mọi người yêu nước, không phân biệt, đảng phái, giai cấp… Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Khoảng năm 1950 bắt đầu nói “Đoàn kết công, nông, binh”. Còn hiện nay thì nói “ Liên minh công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng”.
Sau năm 1975, Đại hội 4, Đại hội 5 đều đặt nhiệm vụ lớn nhất là “Thiết lập hệ thống chuyên chính vô sản trong cả nước” và “Nắm vững chuyên chính vô sản là nắm vững đường lối của Đảng”. Nội dung của nó là tiếp tục đấu tranh giai cấp, tiêu diệt mầm móng bóc lột, giải quyết triệt để “vấn đề ai thắng ai”. Ngày nay hầu như những chữ “chuyên chính vô sản” và “ai thắng ai” đã biến mất mà Nghị quyết bắt đầu nói “ con người là trung tâm”, và “phải thực hiện quyền con người”. Nghị quyết Đại hội 4 và 5 đều có chủ trương lớn là cải tạo xã hội chủ nghĩa về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp. Về công nghiệp không để một xí nghiệp tư nhân nào. Nông dân phải vào hợp tác xã. Cửa hàng tạp hóa của tiểu thương cũng không còn. Nghị quyết Đại hội 4 ghi “Sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thành công thông qua xây dựng có ý thức, có kế hoạch. Vì vậy kế hoạch là công cụ chính để quản lý và điều khiển quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.” Hiện nay, nghị quyết bảo phải vận dụng đầy đủ quy luật thị trường. Đại hội 4 và Đại hội 5 đều quyết định “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Năm 1976, Tổng bí thư Lê Duẩn nói “thời kỳ quá độ kéo dài khoảng 20 năm”. Năm 2013, tại Quốc hội Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói, chưa biết đến hết thế kỷ này đã có chủ nghĩa xã hội hay chưa. Đại hội 6 nhận định nền kinh tế đạt kết quả không tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra. Nguyên nhân là do “Mười năm qua đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về cải tạo xã hội chủ nghĩa và về quản lý kinh tế”. Đại hội 6 cho sai lầm là do “duy ý chí” không nhìn đúng sự thật và đưa ra khẩu hiệu “Nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Đại hội quyết định Đổi mới toàn diện, bắt đầu là đổi mới kinh tế. Đại hội 9 cho phép doanh nhân (tên mới của nhà tư sản) được thuê công nhân với số lượng không hạn chế. Đại hội 11 chủ trương kết nạp doanh nhân vào Đảng cộng sản, tức là nhà tư sản được đứng vào đội tham mưu của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. (Điều này ông Nguyễn Đức Bình nguyên ủy viên Bộ chính trị, giám đốc Học viện Nguyễn Ái Quốc kiên trì cực lực phản đối vì cho rằng như vậy không còn gì là chủ nghĩa xã hội!).
    Lược qua ở trên đã cho thấy Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn tự diễn biến hòa bình. Nhờ đó mà Đảng thoát khỏi những tai ương cho mình và tai họa cho dân tộc như: cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa, bỏ tù hàng loạt cán bộ cao cấp gọi là “ nhóm chống Đảng”. Diễn biến hòa bình lớn nhất là Đổi mới của Đại hội 6, quyết định bỏ một nửa, nhưng là một nửa quan trọng nhất lý thuyết xã hội chủ nghĩa của Lê nin, Stalin. Quan trọng nhất là nói theo Marx: cơ sở kinh tế quyết định đối với thượng tầng kiến trúc. Nhờ đó mà dư luận quốc tế hi vọng sẽ sớm xuất hiện “ Con rồng Việt Nam”. Nhưng sau gần 30 năm đã làm người ta thất vọng. Thành tích đổi mới kinh tế đã làm cho những người lãnh đạo chủ quan cho rằng có thể không cần đổi mới chính trị. Thực ra những người lãnh đạo sợ rằng đổi mới chính trị sẽ đe dọa sự tồn tại vị trí cầm quyền của Đảng. Những người sáng suốt nhất, dũng cảm nhất của Đảng như Trần Xuân Bách, Trần Độ, Nguyễn Hộ …đề nghị đổi mới chính trị đều bị sa thảỉ.

TẠI SAO TÁN THÀNH TAM QUYỀN PHÂN LẬP?

Chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lê nin đều không có nhà nước pháp quyền mà chỉ có nhà nước chuyên chính vô sản. Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập là của nền dân chủ phương Tây. Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1946 là nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập. Các Hiến pháp sau này khác Hiến pháp 1946 chính là ở đó. Sau Đổi mới, đến Đại Hội 7 TBT Đỗ Mười là người có sáng kiến đưa ra khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, có định nghĩa như hiện nay.
 Các nhà tuyên huấn của Đảng giải thích: Quyền lực nhà nước là thống nhất. Bởi vì quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nhân dân thì không thể chia cắt ( chuyên viên cao cấp của Ban tuyên giáo Trung ương giảng về Hiến pháp 2013 ở đảng bộ phường Tân Kiểng). Lý lẽ đó không chính xác. Nhà nước là công cụ của nhân dân. Nhân dân có quyền phân chia các quyền tư pháp, hành pháp, tư pháp như thế nào để có hiệu quả nhất cho phát triển và chống tham nhũng. Phân quyền của nhà nước pháp quyền, chứ đâu phải là phân chia nhân dân! Còn có lý lẽ thứ 2, “tam quyền phân lập” là của phương Tây của tư sản không thích hợp cho phương Đông và nước xã hội chủ nghĩa. Về điều này có thể lấy ý kiến của Tôn Trung Sơn nhà cách mạng vĩ đại mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đề cao. Ông nói trong bài phát biểu năm 1927 trước quốc dân: “Dân chủ dân quyền thì phải học Phương Tây. Bởi vì Phương Đông và Trung Quốc suốt 4000 năm lịch sử chìm đắm trong quân quyền”. Việt Nam ta cũng theo “quân quyền” cho đến 1945.
Xin trích hai ý kiến cách nhau hơn 2000 năm về ‘tam quyền phân lập” mà cho đến nay vẫn được cả nhân loại truyền tụng làm theo.
Triết gia vĩ đại thời cổ đại, Aristote nói “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của Nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền của một ai đó. Còn nơi nào pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì ở đó tôi thấy sự cứu thoát của nhà nước”.
Một triết gia Pháp vĩ đại của thế kỷ 19 là Montesquieu nói: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão thì không còn gì là tự do nữa. Người ta sợ rằng chính ông ấy hoặc Viện ấy, chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền hành pháp và lập pháp. Nếu như quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do cuả công dân. Quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập với quyền hành pháp thì quan tòa có sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức nắm cả ba quyền thì tất cả đều mất hết”.
Ngày nay các nước dân chủ đều thực hiện nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập để: Xã hội được tự do khi nhà nước bị kiểm soát bởi luật pháp mà mục đích là để bảo vệ quyền con người. Xã hội được quản lý bởi một chính phủ của luật pháp. Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có câu “Người dân có quyền làm tất cả những điều gì luật pháp không cấm và sử dụng luật pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước và cán bộ công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.”
Đó là những ý kiến rất đúng đắn nhưng không thể thực hiện được nếu như không có nhà nước pháp quyền, với tam quyền phân lập! Vì sao? Bởi vì ở Điều 2 của Hiến pháp ghi ”Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cá quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Quốc hội là cơ quan lập pháp, nhưng thực ra gồm có đủ mặt những người của hành pháp và tư pháp. Điều đó gây hậu quả đúng như Montesquieu cảnh báo như trên. Quyền tư pháp độc lập không thể thực hiện theo “sự phân công phối hợp” được. Do đó nó đẻ ra điều người gọi là “án bỏ túi”. Án oan sai nhiều không kể xiết, rất đáng lo là nhiếu oan sai tới mức án tử hình. Rất nhiều vụ án xét xử kéo dài hàng chục năm như vụ án “vườn đào”, vụ án “ăn trộm dê”… Nghị quyết 49/TW của Bộ chính trị về cải cách tư pháp đến năm 2020 không có đề ra việc thực hiện quyền Tư pháp độc lập. Do đó, mỗi năm đều họp bàn mà suốt 10 năm vẫn không có nền Tư pháp trong sạch vững mạnh như mục tiêu đề ra!
Nguyên nhân quan trọng nhất khiến quyền tư pháp không thể độc lập là do Điều 4 Hiến pháp quy định Đảng cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Như vậy “quyền lực nhà nước là thống nhất…” nhưng cuối cùng cả 3 quyền đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tức là Đảng có quyền đứng trên quyền tư pháp, đứng trên pháp luật.
Một số nhà nghiên cứu pháp luật là đảng viên đã hơn chục năm nay kiên trì góp ý rằng: Đảng đã lãnh đạo xây dựng Hiến pháp cụ thể hóa Cương lĩnh của Đảng rồi thì không nên trực tiếp lãnh đạo quyền tư pháp. Phải để quyền tư pháp đứng trên thì mới ngăn chặn được tham nhũng. Đảng đang lâm vào tình trạng tham nhũng suốt hơn 30 năm, càng ngày càng nghiêm trọng, nếu không dũng cảm chấp nhận tư pháp độc lập thì không khác nào người bị bệnh nặng mà cứ giành quyền chỉ đạo thầy thuốc!

TẠI SAO ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN LẠI TÁN THÀNH ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG?

Như vậy là tạo điều kiện cho các đảng đối lập giành quyền lãnh đạo của Đảng mình? Hậu thuẩn cho câu hỏi này là lập luận: Trong thời kháng chiến gian khổ, tại sao các đảng đối lập không nhảy ra tranh với Đảng cộng sản về sự hi sinh, nay sau khi đất nước hòa bình phát triển lại muốn nhảy ra tranh phần? Cách nghĩ như vậy giống như đòi chia “quả thực” trong cải cách ruộng đất, ai “đấu tố” mạnh thì phải được chia phần nhiều hơn; hoặc giống như một Công ty cổ phần bàn chuyện chia lãi, chứ không giống một Đảng cách mạng từng tuyên bố “Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài mục đích phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân” (giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục - Đào tạo). Trong hạnh phúc của nhân dân có quyền tự do, mà chủ tịch Hồ Chí Minh có câu thơ rất hay “Trên đời nghìn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. Trong các quyền tự do có quyền tự do chính trị. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Nhà nước Việt Nam ký kết từ 24-9-1982 ở Lời nói đầu có ghi “Chỉ có thể đạt được lý tưởng của con người tự do được tận hưởng tự do về dân sự và chính trị không bị sợ hãi…” và ở Điều 1 ghi nhận “quyền quyết định thể chế chính trị”. Hiến pháp 1946 ghi nhận quyền:” Tự do tổ chức và hội họp”. Các Hiến Pháp sau này đều có ghi nhận tất cả các quyền tự do, trong đó có quyền lập hội, nhưng đã mắc nợ nhân dân suốt 70 năm không được thực hiện. Mặc dù Hiến pháp và Luật đều không điều nào cấm lập đảng, lập hội, nhưng thực tế thì không cho phép. Và như phần trên đã nói, từ 1866 Marx và Engels đã chấp nhận đa đảng. Thật ra ngay từ 1848, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ở chương 4 về “Thái độ đối với các đảng đối lập” (trang 99) hai ông đã dạy những người cộng sản cách sống chung với các đảng tư sản. Không chấp nhận đa nguyên chính trị, cứ tưởng sẽ tốt, có lợi cho Đảng cầm quyền, bởi vì không sợ ai tranh giành với mình. Nhưng theo bài học rất sơ đẳng thì chính đó lại là tự giết mình. Đó là bài học từ sự sụp đổ của các Đảng cộng sản Liên Xô, Đông Âu. Bởi vì độc quyền thì sinh ra quan liêu, quan liêu sinh tham nhũng, tham nhũng lũng đoạn mọi mặt sẽ làm bại hoại mục ruỗng cả Đảng và cả dân tộc. Chấp nhận đa nguyên đa đảng là học bài học trường tồn một cách đường đường chính chính của các Đảng xã hội - dân chủ Thụy Điển, Na Uy, Đức …Nguyên ủy viên Bộ chính trị, chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An trong bài nói ngày 7-12-2010 trên Tuần Việt Nam, cho rằng tình trạng suy thoái của Đảng như hiện nay, “không phải là do bị diễn biến hòa bình … Chính những đảng viên cộng sản chân chính, liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức cách mạng, cũng không muốn bảo vệ sự độc quyền của một Đảng biến chất, thoái hóa, tham nhũng. Đảng đã thành vua tập thể”. Ông vua phong kiến thì chẳng sao, dù cho ông ta có 3000 cung nữ, dù cho đất đai cả nước là của vua. Nhưng Đảng thì lại khác, bởi Đảng phải nói và làm theo chủ tịch Hồ Chí Minh “ Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là nhân dân, vì dân là chủ”. Và người dân luôn luôn so sánh lời nói với việc làm của đảng viên có đi đôi hay không.

TẠI SAO VI PHẠM 19 ĐIỀU CẤM THEO QUYẾT ĐỊNH 47/QĐ/TW?

Mấy mươi năm trước đảng viên chỉ thực hịên Điều lệ, Nghị quyết Đảng và pháp luật mà nói chung rất tốt. Hơn 10 năm qua có thêm quy định các điều cấm không được làm, nhưng tình hình cứ xấu đi. Quyết định 47/ QĐ/TW ghi là “Căn cứ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam”. Nhưng Hiến pháp Việt Nam có ghi các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội, biểu tình thì Quyết định 47/QĐ/TW ở Điều 6 cấm “biểu tình tập trung đông người gây mất an ninh trật tự”. Quy định này không rõ, bao nhiêu người thì gọi là đông người, và nếu đông người mà không gây mất trật tự thì có được phép hay không? Như trên tôi đã kể, chúng tôi mới trên đường đi thì đã bị vây bắt rồi, làm gì đã gây ra mất an ninh!
Và nói trái nghị quyết cũng là một khái niệm rất khó xác định. Mọi đảng viên đều phải bình đẳng, vậy Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói ở Vĩnh Phú, phê phán các đảng viên đi biểu tình phản đối Trung Quốc là suy thoái chính trị có đúng Nghị quyết Đảng và Hiến pháp không? Ông nói “hết thế kỷ này cũng chưa chắc có chủ nghĩa xã hội” có đúng Nghị quyết không? Ông nói Hồ Chủ tịch viết trong Di chúc “Đảng ta là Đảng cầm quyền là hơi hẹp, đúng ra phải nói Đảng ta là Đảng lãnh đạo có đúng nghị quyết không? Có xúc phạm lãnh tụ không?
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nhiều phát biểu rất đúng, nhưng tôi e rằng nếu là người khác nói thì rất có thể sẽ bị quy là trái Nghị quyết: Ví như ông lên tiếng giữa Quốc hội đòi Hoàng Sa, phê phán Trung Quốc ở Shangri-la làm cho họ cáu giận, và Thông điệp đầu năm 2014 của ông đưa ra nhiều khái niệm đúng đắn về dân chủ giống như của phương Tây mà các Nghị quyết của Đảng đều chưa hề ghi nhận? Chẳng lẽ trong Đảng không có bình đẳng về phát ngôn? Cấp trên muốn nói gì cũng được còn cấp dưới thì không?
 Tôi cho rằng Quyết định 47/QĐ/TW hoàn toàn trái ngược với Hồ Chí Minh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rổi kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. “Nghị quyết gì mà người dân nói là không đúng thì để họ để nghị sửa lại”
 “Quyền tự do tư tưởng hóa ra là quyền tự do phục tùng chân lý” và “Dân chủ là người dân được mở mồm ra nói”. Chẳng lẽ đảng viên cũng là công dân lại không được mở mồm như người dân? Cách quy định những điều cấm như thế qua hơn 10 năm đã chứng tỏ nó không làm Đảng mạnh và tốt lên, trái lại, bêu riếu sự lạc hậu trong thời đại bùng nổ thông tin. Thời đại ngày nay các đảng chính trị đều thực hiện dân chủ nội bộ và thực hiện công khai minh bạch không chỉ trong nội bộ mà trước toàn dân. Chỉ có như vậy mới không tái diễn chuyện “khoán chui” và “xé rào”. Tuy vậy, tôi cũng đã nhiều lần định không đưa bài góp ý lên mạng mà chỉ gửi cho Đảng và các báo, các mạng của Đảng, nhưng các báo đều không đăng, Đảng thì không bao giờ hồi âm!
 Thưa các đồng chí nhiều khi tôi quá bức xúc, đau lòng, cảm thấý dường như Đảng ngày nay không phải là Đảng mà ngày xưa mà tôi giơ tay thề hi sinh đến giọt máu cuối cùng vì Đảng ấy “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm trọn nhiệm vụ giải phóng dân tộc làm cho Tổ quốc giàu mạnh đồng bào sung sướng.” Hình như có những kẻ muốn biến Đảng thành công cụ của các “nhóm lợi ích” giúp họ giữ ghế và làm giàu! Là một nhà báo có 35 năm theo dõi phong trào công nhân lao động, cho nên bức xúc nhất của tôi là nhìn thân phận khốn cùng của giai cấp công nhân hôm nay.Tôi vô cùng bức xúc khi cảm nhận rằng hai giai cấp lớn nhất, có công đóng góp lớn nhất cho thắng lợi của cách mạng và kháng chiến là công nhân và nông dân đã bị phản bội bằng nhiều chính sách quá bất công đối với họ. 
 Có lẽ bản kiểm điểm của tôi không đáp ứng được yêu cầu của các đồng chí chỉ đạo cuộc kiểm điểm. Nhưng biết làm sao, khi đó là nhận thức thành thật của tôi, một đảng viên sau hơn 55 năm đứng trong hàng ngũ Đảng, sống thanh bạch, ngoài 80 tuổi còn ký kết hợp đồng viết bài cho báo Lao Động và lúc nào cũng nghĩ về vận nước và sự suy thoái của Đảng, lại là kẻ suy thoái chính trị ư? Không! Tôi cho rằng chính những người bảo thủ, giáo điều, không sáng suốt chấp nhận đổi mới chính trị, khiến cho một Đảng cách mạng, anh hùng, trở thành một Đảng suy thoái tham nhũng, họ mới chính là kẻ suy thoái chính trị. Do đó, tôi không nhận bất cứ hình thức kỷ luật nào có tên gọi là suy thoái tư tưởng chính trị. Nhưng tôi không muốn tuyên bố từ bỏ Đảng mà xin nhường cho Đảng quyền khai trừ mình. Bởi vì như vậy, tôi sẽ được yên lòng rằng, Đảng khai trừ tôi không phải là Đảng mà tôi từng tha thiết xin được gia nhập và thề phục vụ suốt đời. Và có lẽ nhờ đó từ ngày mai tôi sẽ không còn quá băn khoăn về trách nhiệm đối với Đảng, không còn bức xúc cứ muốn viết bài góp ý, xây dựng Đảng.
                                                                Ngày 22-2-2014
                                                                Tống Văn Công


Tác giả gởi cho viet-studies ngày 26-2-14