Tuesday, December 27, 2016

Trật tự thế giới 2.0

Trật tự thế giới 2.0

(World Order 2.0)

Vấn đề về  Nghĩa vụ Chủ quyền

Richard N. Haass
FA (số tháng 1 / 2 năm 2017)

(Bản dịch đã đăng trên AnhBaSam ngày 27/12/2016)

images
Gần bốn thế kỉ, tính từ Hòa ước Westphalia, kết thúc Cuộc chiến tranh Ba mươi năm, khái niệm về chủ quyền—quyền của các quốc gia đối với việc tồn tại độc lập và nền tự chủ—đã chiếm vị trí cốt lõi trong cái mà trật tự quốc tế có tới giờ. Điều này có ý nghĩa, vì như mỗi thế kỉ kể cả thế kỉ hiện tại đã chứng kiến, một thế giới trong đó các đường biên giới bị xâm phạm bằng vũ lực là một thế giới của sự bất ổn và xung đột.

Tuy nhiên, một cách tiếp cận trật tự quốc tế chỉ dựa trên tiền đề về việc tôn trọng chủ quyền cùng với sự duy trì cân bằng quyền lực cần thiết để giữ nó an toàn không còn đủ nữa. Hệ điều hành truyền thống của thế giới—gọi nó là trật tự thế giới 1.0—đã được xây dựng xung quanh việc bảo vệ và đặc quyền của các quốc gia. Nó ngày càng không thích đáng trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Bậy giờ không còn bao nhiêu thứ vẫn còn giữ tính địa phương; dù là về con người hay bất cứ thứ gì, từ khách du lịch, kẻ khủng bố, và người tị nạn đến e-mail, bệnh tật, đô la, và khí nhà kính, đều có thể vươn tới gần như bất cứ nơi nào. Kết quả là những gì diễn ra bên trong một nước không còn có thể xem là mối quan tâm của chỉ một mình nước đó. Tình thế hiện nay đòi hỏi phải cập nhật hệ điều hành—gọi nó là trật tự thế giới 2.0—bao gồm không những các quyền của các quốc gia có chủ quyền mà còn các nghĩa vụ của các quốc gia đối với quốc gia khác nữa.

Một khái niệm về “nghĩa vụ chủ quyền” như thế, đáng chỉ ra, khác với khái niệm “chủ quyền như là trách nhiệm”, vốn nằm ở trung tâm của các chủ thuyết pháp lí  gọi là “trách nhiệm bảo vệ”, hoặc R2P (responsibility to protect). R2P đề cập đến nghĩa vụ một chính phủ phải có đối với công dân của chính mình—những cam kết được giả định là có thể bị các quốc gia khác cưỡng chế thi hành thông qua nhiều biện pháp lên đến và kể cả can thiệp quân sự, nếu chểnh mảng. Nó rõ ràng thể hiện một sự vi phạm tiềm năng chủ quyền Westphalia cổ điển, và nó có những người ủng hộ và kẻ phản đối vì chính lí do đó. Ngược lại, nghĩa vụ chủ quyền là về cái mà một quốc gia có trách nhiệm với các nước khác. Nó bắt nguồn từ nhu cầu mở rộng và làm thích ứng những nguyên tắc truyền thống của trật tự quốc tế trong một thế giới kết nối lẫn nhau.

Nghĩa vụ chủ quyền do đó vẫn giữ lại việc tôn trọng biên giới và chống lại việc biên giới bị thay đổi thông qua cưỡng ép hoặc vũ lực. Nó ủng hộ các hành động thực thi tiêu chuẩn chống xâm lược, dù vụ việc liên quan đến Iraq xâm lược Kuwait hay Nga xâm lược Crimea. Và nó vẫn giữ lại việc tôn trọng quyền được hành động nói chung của các chính phủ theo ý họ bên trong biên giới của mình, với điều kiện chịu sự ràng buộc của các quy định được chấp nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, chẳng hạn như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước chống diệt chủng. Nghĩa vụ chủ quyền không chối bỏ hoặc thay thế cách tiếp cận truyền thống đối với trật tự—một cách tiếp cận vẫn còn cần nhưng không còn đủ nữa— nhiều như nó được xây dựng trên đó.


TỪ TRẠNG THÁI QUỐC GIA ĐẾN KHỦNG BỐ VÀ BOM

Một trật tự quốc tế mới sẽ đòi hỏi phải mở rộng bộ các chuẩn mực và thỏa thuận, bắt đầu với một cơ sở đồng ý chung cho trạng thái quốc gia (statehood). Không thể có một quyền không giới hạn cho mỗi một và mọi cộng đồng để đạt được quyền tự quyết chính trị. Việc đạt được một sự đồng thuận về việc hạn chế quyền này như thế nào sẽ không dễ dàng, nhưng cần thiết để tránh các hành động đơn phương gây ra xung đột. Một khởi đầu tốt sẽ là sửa đổi khái niệm về quyền tự quyết để nó được coi như là một cái gì đó không những phải được khẳng định mà còn phải được trao cho. (Thoả thuận 1978 ở Trại David giữa Ai Cập và Israel, chẳng hạn, không mở rộng các nguyên tắc về quyền tự quyết cho người Palestine mà là ủng hộ quan điểm cho rằng “các đại biểu của dân Palestine phải tham gia vào các cuộc đàm phán về việc giải quyết các vấn đề Palestine trong mọi khía cạnh của nó.“)

Toàn cầu hóa là chuyện lâu dài, và những bất cập của phương pháp truyền thống với trật tự sẽ chỉ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian.

Với cách tiếp cận như vậy, ủng hộ cho quyền tự quyết sẽ ít tự động hơn là trong thời kỉ giải thuộc địa. Các chính phủ hiện tại sẽ đồng ý xem xét các đề xuất cho trạng thái quốc gia trong những trường hợp ở đó có một sự biện minh lịch sử, một lí lẽ thuyết phục, sự ủng hộ phổ biến, và khả năng tồn tại khi xét tới thực thể mới được đề xuất. Tác động của một động thái như vậy về việc có thể có nước từ bỏ lãnh thổ và dân số cũng sẽ cần phải được xem xét, và các chính phủ sẽ đồng ý tham vấn với nhau trước khi thực hiện các động thái ngoại giao.

Yếu tố cốt lõi của một khuôn khổ cho trật tự quốc tế dựa trên nghĩa vụ chủ quyền sẽ là những cấm đoán về việc thực hiện hoặc ủng hộ khủng bố theo cách nào đó, được định nghĩa như là việc sử dụng bạo lực vũ trang có chủ ý của các thực thể phi nhà nước chống lại dân thường và những người không là chiến binh để theo đuổi các mục tiêu chính trị. Trong những thập kỉ gần đây, thế giới đã rời xa khỏi việc dung túng bọn khủng bố nếu thấy rằng mục tiêu của họ không chính đáng. Việc quốc tế lên án khủng bố cũng như việc ủy quyền cho hành động tập thể chống lại nó  đã thành lệ. Chừng nào mà các chính phủ theo đuổi việc  tấn công chống khủng bố vào các cá nhân hoặc nhóm là khủng bố thực sự, và vạch ra các cuộc tấn công sao cho chúng phù hợp với các tiêu chuẩn pháp lí và đạo đức, bao gồm việc thực hiện các bước để bảo vệ thường dân vô tội, thì họ sẽ không bị chỉ trích đáng kể.

Gây tranh cãi nhiều hơn sẽ là việc ủng hộ tiêu chí chống lại sự phổ biến hoặc sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt. Có một khuynh hướng quốc tế hiện hành (được Hiệp ước không phổ biến hạt nhân nhấn mạnh) ngăn chặn phổ biến vũ khí bằng cách hạn chế các nước tiếp cận với công nghệ và chất liệu có liên quan, và sự chống đối của các cường quốc chính với việc Iran có được khả năng hạt nhân cho thấy cách tiếp cận đó có thể tạo dễ dàng  cho tiến trình ngoại giao. Nhưng sự đồng thuận thường bị phá vỡ khi đi vào các chi tiết về những điều gì cần nhấn mạnh và những khuyến khích hoặc trừng phạt nào cần đưa ra—và các chính phủ đã cho thấy khả năng họ phát triển hoặc có được vũ khí hạt nhân chống lại sự phản đối quốc tế, nếu họ làm việc đó tới mức thành một ưu tiên.

Thậm chí tranh chấp nẩy sinh nhiều hơn về những gì phải làm một khi việc phổ biến [vũ khí hạt nhân] đã xảy ra. Một lựa chọn là cứ sống với nó, như đã xảy ra trong trường hợp Israel, Ấn Độ, Pakistan, và cho đến nay, Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, việc chấp nhận trên thực tế như vậy có thể có nguy cơ, vì nó có thể làm hành vi nguy hiểm thành có khả năng lẫn vì nó có thể tiếp tục pha loãng chuẩn mực không phổ biến hạt nhân, do đó có khả năng khuyến khích sự phát triển thêm. Một giải pháp thay thế cho việc chấp nhận là những nỗ lực ngoại giao bổ sung, được hậu thuẫn bằng cấm vận, nhằm rút lại năng lực hạt nhân của nước phát triển hạt nhân. Vấn đề là những nỗ lực như vậy thường thất bại. Vì vậy, một giải pháp thay thế khác là phải sống với sự phát triển hạt nhân cho đến khi tình báo cho thấy rằng vũ khí sắp được sử dụng hoặc chuyển giao cho một nhóm khủng bố—tại thời điểm đó khả năng xuất hiện cho một cuộc tấn công quân sự phủ đầu chống lại một mối đe dọa sắp xảy ra. Một cuộc tấn công như vậy sẽ đòi hỏi tin tình báo chính xác và tương đối không mập mờ, cùng với ý chí và các phương tiện để thực hiện nó. Có một sự ủng hộ nào đó trong luật pháp quốc tế cho một tư thế như vậy.

Còn một giải pháp khác nữa là cố đạt được sự ủng hộ quốc tế cho tính chính đáng (legitimacy) của hành động phòng ngừa để ngăn chặn phổ biến vũ khí. Các hành động chặn trước nhắm vào các mối đe dọa sắp xảy ra; những hành động phòng ngừa nhắm vào các mối đe dọa trước đó, khi chúng vẫn còn đang gom tụ lại. Hành động phòng ngừa có thể làm gián đoạn chương trình hạt nhân của một nước trước khi bất kỉ loại vũ khí nào được sản xuất hoặc tiêu huỷ chúng sau đó. Nhưng sẽ có không nhiều sự ủng hộ quốc tế cho một lập trường như vậy, vì nó sẽ bị những chính phủ thấy đó như là việc cấp giấy phép cho Hoa Kì tấn công các nước, như Bắc Triều Tiên hay Iran, phản kháng. Nó cũng không nhất thiết được mong muốn, vì bên cạnh những điều khác, một thế giới có các cuộc tấn công phòng ngừa thường xuyên sẽ hung bạo và nguy hiểm hơn.

Syrian migrants cross under a fence as they enter Hungary at the border with Serbia, near Roszke, August 27, 2015. REUTERS/Bernadett Szabo/File Photo To match story
Người di cư Syria chui qua một hàng rào để vào Hungary tại biên giới với Serbia, gần Röszke, August 2015.BERNADETT Szabo / REUTERS

Có một sự ủng hộ rất đáng kể cho việc chống phổ biến vũ khí hạt nhân nhưng không nhiều cho hành động quân sự để ngăn chặn nó hoặc giảm nó lại một khi nó đã xảy ra. Ủng hộ cho hành động chặn trước khi đối mặt với các mối đe dọa sắp xảy ra sẽ phụ thuộc vào các chi tiết của trường hợp cụ thể và sẽ tăng đến mức có thể được chứng minh rằng những hành động đó là cần thiết. Bắc Triều Tiên vốn đang phát triển khả năng đặt các đầu đạn hạt nhân vào tên lửa đạn đạo có thể bay tới Hoa Kì, hứa hẹn sẽ là một trường hợp đang nói. Đưa điều này thành một chủ đề thảo luận tại các cuộc họp song phương và đa phương là có ý nghĩa, không phải vì có khả năng nó sẽ dẫn đến một thỏa thuận chính thức mà còn vì nó sẽ tập trung sự chú ý vào các loại hoàn cảnh có thể dẫn đến việc xem xét hành động dự phòng, hoặc chặn trước—một cái gì đó tới lượt có thể giảm cơ hội cho những hoàn cảnh như vậy nổi lên.


TỪ KHÍ HẬU ĐẾN KHÔNG GIAN MẠNG VÀ XA HƠN

Biến đổi khí hậu theo nhiều cách là biểu hiện tinh túy của toàn cầu hóa. Nó phản ánh tổng số của những gì đang xảy ra; những nước tiếp xúc với  và bị ảnh hưởng bởi vấn đề này không đều nhau bất kề phần đóng góp vào nó. Biên giới tính ra vô nghĩa. Có một sự nhất trí rộng rãi, nếu không phải là phổ biến, rằng thay đổi khí hậu là có thật, phần lớn là do hoạt động của con người gây ra, và tạo thành một mối đe dọa lớn đối với tương lai của hành tinh và cư dân của nó. Nhưng sự đồng thuận bị phá vỡ khi nói đến việc xác định cái gì cần phải làm và  do ai làm.

Trên nguyên tắc, biến đổi khí hậu là một cái gì đó vốn phải nằm gọn trong khuôn khổ nghĩa vụ chủ quyền, vì những thứ mà một nước thực hiện bên trong biên giới của mình trong việc thải ra carbon có tác động cho toàn thế giới. Nói một cách khác, biến đổi khí hậu là một hệ quả tích lũy của hoạt động địa phương. Như vậy, nó khác một cách cơ bản với, chẳng hạn ô nhiễm nước hoặc ô nhiễm không khí vốn phần lớn là một hệ quả của hoạt động địa phương.

Vấn đề là việc đánh giá phần chia sẻ thoả đáng của mỗi quốc gia trong gánh nặng chống lại nó, qua việc giảm lượng thải carbon của chính mình hay giúp đỡ các nước khác giảm đi lượng thải của họ. Những nỗ lực để thiết lập mức trần toàn cầu, phân bổ phần chia sẻ của từng nước, hoặc gán một cái giá cho carbon đã bị phản kháng. Tuy nhiên, Hội nghị Paris năm 2015 cho thấy một số hiện thực cũng như tính sáng tạo qua việc tiến hành một cách tiếp cận khác nhau. Một mục tiêu tổng thể đã được thiết lập để hạn chế biến đổi khí hậu, nhưng không đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho các nước về những gì cần phải làm để đạt được mục tiêu đó. Điều đó là hoàn toàn tự nguyện và ước vọng hơn là bắt buộc. Thật vậy, người ta đãt hoả thuận rằng mỗi nước sẽ tư thiết lập cho mình những mục tiêu đầy tham vọng nhưng có thể đạt được trong việc giảm lượng carbon và sau đó cố thực hiện theo cam kết của mình.

Đó là một bước tiến về hướng nghĩa vụ chủ quyền, và chính phủ các nước giàu có nên đưa ra các hình thức khuyến khích để giúp các nước khác đạt được mục tiêu của họ, cũng như xem xét hình phạt loại này hay loại khác cho những nước không thực hiện. Cũng có nhiều việc sẽ phải làm để giúp các nước thích ứng với hậu quả của biến đổi khí hậu vốn đang diễn ra; biết rằng qua nhiều thập kỉ các nước  phát triển đã góp phần đáng kể trong việc tạo ra vấn đề này, việc họ nên giúp trang trải các chi phí giảm thiểu và thích ứng của các nước khác như một phần của nghĩa vụ chủ quyền là điều hợp lẽ.

Không gian mạng là lĩnh vực hết sức mới trong hoạt động quốc tế, một lĩnh vực được  đánh dấu bằng cả hợp tác lẫn xung đột. Một số hoạt động trong không gian mạng là vô hại và ít dính dáng tới an ninh quốc gia, trong khi các hoạt động khác được kết nối mật thiết với chính sách đối ngoại, tình báo, và việc cạnh tranh quốc gia. Mục tiêu trong lĩnh vực này nên tạo ra các thỏa thuận quốc tế nhằm khuyến khích những cách dùng vô hại không gian mạng và làm nhục chí những cách dùng ma mãnh. Sau đó, các chính phủ sẽ phải duy trì và hành động nhất quán trong chế độ này như là một phần của nghĩa vụ chủ quyền.

Một chế độ như vậy có thể  liên quan đến điều gì? Lí tưởng nhất, nó sẽ duy trì một hệ thống không gian mạng tích hợp duy nhất cho toàn cầu, giới hạn những cái chính phủ có thể làm trong việcngăn chặn dòng chảy tự do của thông tin và truyền thông bên trong nó, cấm gián điệp thương mại và trộm cắp tài sản trí tuệ, và giới hạn và làm thui chột ý chí các hoạt động gây rối trong không gian mạng trong thời bình. Các ngoại lệ cần thiết là cho phép tấn công mạng để làm hỏng cả việc phát triển hạt nhân lẫn khủng bố. Cuối cùng, có thể cần phải xây dựng một phụ lục cho luật về chiến tranh trên không gian mạng quy định cụ thể những hành động nào trong phạm vi này được coi là được phép làm và những hành động nào là bị cấm. Và cũng như với  khủng bố, với không gian mạng: chính phủ sẽ có nghĩa vụ không chỉ tránh tham gia vào các hoạt động bị cấm mà còn làm mọi thứ trong quyền lực của mình để ngăn chặn các bên khác thực hiện những hoạt động đó từ lãnh thổ của họ và để ngăn chặn và trừng phạt những ai thực hiện .

Đạt được thậm chí sự đồng thuận có giới hạn trên các nguyên tắc như vậy và làm cách nào để duy trì chúng sẽ cần nỗ lực rất lớn. Nhưng vì những vấn đề này vẫn còn tương đối mới, mục tiêu hiện nay là nên bắt đầu xây dựng một bộ quy tắc ứng xử  thích hợp cho các quốc gia đi theo lĩnh vực này.

Y tế toàn cầu bày ra  những thách thức khác nhau. Trong một thế giới toàn cầu hóa, một đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm ở một nước có thể nhanh chóng phát triển thành một mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe ở những nơi khác, như đã xảy ra trong những năm gần đây với tất cả mọi thứ từ SARS đến  Ebola đến Zika. Khái niệm về nghĩa vụ chủ quyền đã đi trước rất  xa trong lĩnh vực này, và các nước đã được giả định là phải cố phát hiện các vụ bùng phát bệnh truyền nhiễm, thông báo cho những nước khác trên thế giới, và phản ứng một cách thích hợp khi đối mặt với một cuộc khủng hoảng. Nhưng tất cả những điều đó thì nói dễ hơn làm, và các chính phủ cùng Tổ chức Y tế Thế giới không phải lúc nào cũng có khả năng (và trong một số trường hợp, ý chí chính trị) để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhiều trợ giúp  kĩ thuật và tài chính trong khu vực này là cần thiết, và có thể việc chỉ đích danh và bêu xấu những kẻ né việc sẽ khiến họ cải thiện hon hành vị của mình.

A scientist operates a centrifuge control panel while working on developing a vaccine for the Zika virus in Connecticut, United States, June 2016.
Một nhà khoa học vận hành một bảng điều khiển máy li tâm khi làm việc về phát triển một loại vắc xin cho virus Zika ở Connecticut, Hoa Kì, Tháng 6/2016.MIKE Segar / REUTERS

Về vấn đề người tị nạn, không có cách nào thay thế cho hành động có hiệu quả tại chỗ để cho các tình huống không làm phát sinh mà tạo ra dòng người tị nạn lớn. Trên nguyên tắc, đây là một lập luận cho việc can thiệp nhân đạo dưới sự bảo trợ của R2P. Nhưng diễn dịch nguyên tắc này vào thực tế đã cho thấy là bất khả và có khả năng vẫn khó khăn dù có các chương trình nghị sự chính trị khác nhau (có rất ít, nếu quả có, tình huống là phi chính trị hoặc chỉ đơn thuần là nhân đạo) và cái giá phải trả cho sự can thiệp có hiệu quả là cao ngay cả khi các mục tiêu có chỗ trùng lắp nhau. Tuy nhiên, ngay cả khi không có một sự đồng thuận, vẫn có lập luận để tăng kinh phí cho những người tị nạn, đảm bảo việc họ được đối xử nhân đạo, và thiết lập hạn ngạch công bằng cho việc họ  tái định cư, tất cả các điều đó đều có thể và nên được làm thích nghi theo nghĩa vụ chủ quyền.

Nghĩa vụ chủ quyền mang một màu sắc  khác trong lĩnh vực kinh tế,  vì các chính phủ đã có nhiều sáng kiến tự quan tâm để hành động một cách có trách nhiệm qua việc duy trì một đồng tiền có thể đứng vững được, đảm bảo rằng các tổ chức tài chính giữ dự trữ thoả đáng, thực thi kế toán trung thực, đẩy lùi tham nhũng, tôn trọng hợp đồng, mở rộng thương mại, và chăm bón một môi trường thu hút được đầu tư. Việc tuân theo những cách làm tốt nhất về kinh tế, nói cách khác, là một cái gì đó mà các quốc gia nên làm cho chính mình hơn cả. Nhưng có một số khía cạnh hoạt động kinh tế  liên quan khác nằm trong khuôn khổ nghĩa vụ chủ quyền.

Chẳng hạn các thoả ước thương mại, theo định nghĩa, là các hiệp định  về nghĩa vụ chủ quyền tương hỗ nhau liên quan đến thuế quan và các hàng rào phi thuế quan. Khi một bên cho rằng nghĩa vụ đó không được đáp ứng thì nhờ đến trọng tài; thực sự, điều đột phá chính của Tổ chức Thương mại Thế giới là cung cấp một cơ chế thường trực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các cách thực hành giao thương và đi đến các dàn xếp. Tuy nhiên, nhiều điều ít rõ ràng hơn ở một số khu vực khác của hoạt động kinh tế, chẳng hạn như việc cung cấp các khoản trợ cấp hoặc việc thao túng tiền tệ của chính phủ để được lợi thế xuất khẩu cho nước mình và gây bất lợi cho nhập khẩu. Thách thức này sẽ phải nêu rõ ràng nghĩa vụ chủ quyền thích hợp trong các lĩnh vực này trong các hiệp ước thương mại trong tương lai và tạo ra các  cơ chế để buộc các chính phủ phải có trách nhiệm.


TỪ LÍ THUYẾT ĐẾN THỰC HÀNH

Sẽ khó để đi đến ngay cả một thỏa thuận thô về những nghĩa vụ chủ quyền cụ thể nào mà các quốc gia phải có và các nghĩa vụ đó nên được thực thi như thế nào. Việc biến khái niệm được chấp nhận thành một trụ cột trong trật tự quốc tế sẽ mất nhiều năm hoặc thậm chí hàng chục năm tham vấn và đàm phán, và thậm chí sau đó, việc nó được tuân theo và tác động của nó vẫn sẽ không đều. Nhưng thay vì là lí do từ bỏ dự án, đó là lí do để bắt đầu về nó một cách nghiêm túc và sớm, vì thời đại toàn cầu sẽ tiếp tục phát triển, và các thỏa thuận hiện có sẽ ngày càng không thích hợp để đối phó với các thách thức.

Như một bước đầu tiên, Washington nên nghiền ngẫm những nghĩa vụ nào mà họ sẽ chấp nhận cho chính mình và những nghĩa vụ nào họ sẽ đòi hỏi ở nước khác, cố gắng để vạch ra một bộ quy tắc tổng quát về hành vi thích hợp mà Washington có thể tuân theo cùng với các nước khác. Một bộ quy tắc như thế  có khả năng cung cấp một cái gì đó như một la bàn cho chính sách đối ngoại của Mĩ vì nó lèo lái cái hứa hẹn sẽ là một kỉ nguyên địa chính trị phức tạp đặc trưng bởi một số lượng ngày càng tăng các thách thức cho sự ổn định ở cấp khu vực cũng như cấp toàn cầu.

Những nhà quyết định chính sách Mĩ cũng phải đối mặt với thực tế rằng bất kỉ trật tự thế giới nào cũng sẽ hạn chế các lựa chọn của Mĩ cũng như  các lựa chọn của những nước khác. Cho dù đúng là Hoa Kì có một vai trò đặc biệt trong thế giới và trách nhiệm duy nhất mà đôi khi đòi hỏi có các hành động táo bạo đơn phương, bất cứ khi nào Hoa Kì đòi hỏi nước khác nhiều hơn đòi hỏi chính mình thì nó có vẻ đạo đức giả và đánh mất thẩm quyền và sự tin cậy. Ví dụ, ở biển Đông, Washington từng chỉ trích Bắc Kinh không tuân theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển—ngay cả khi Quốc hội Mĩ không chịu phê chuẩn chính điều ước đó. (Trường hợp tương tự khác, chẳng hạn như việc Mĩ từ chối gia nhập Toà án Hình sự Quốc tế, có thể được tìm cách xoay xở qua việc chạy vòng quanh, chẳng hạn như cho phép lập ra các toà án để xử lí các sự kiện lịch sử cụ thể.) Tương tự như vậy, khả năng Hoa Kì thuyết phục khác nước giúp người tị nạn nhiều hơn bị cản trở bởi những giới hạn rõ ràng về những gì nước Mĩ tự mình sẵn sàng để làm trong lĩnh vực này. Hoa Kì cũng phải chăm lo để được minh bạch: nó chỉ thực hiện ít ỏi cho mục đích của R2P khi vụ can thiệp vào Libya năm 2012 nhanh chóng biến thành một vụ can thiệp thay đổi chế độ; các can thiệp nhân đạo phải hẹp về phạm vi.

Trong một số lĩnh vực như y tế công cộng hoặc biến đổi khí hậu, tấm gương do hành vi tốt của chính Washington lập ra, cùng với viện trợ tăng thêm, có thể đủ khiến các nước khác đáp ứng nghĩa vụ của họ. Trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như khủng bố và phổ biến vũ khí, ý muốn sử dụng vũ lực quân sự đôi lúc  có thể được đòi hỏi —nhưng nếu vũ lực cho thấy trở nên cần thiết, bất kỉ hoạt động quân sự nào sẽ phải chịu sự săm soi cả lí giải lẫn việc thực thi.

Với vai trò của đồng USD là đồng tiền dự trữ trên thực tế (de facto) của thế giới, Hoa Kì cần phải chấp nhận nghĩa vụ đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Điều này có nghĩa là phải tính đến quan điểm của các nước khác khi quyết định về lãi suất hoặc mua sắm tài sản (còn được gọi là “nới lỏng định lượng”). Tham vấn thường xuyên, nghiêm ngặt giữa Ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve) và các đối tác ngân hàng trung ương trên thế giới là rất cần thiết. Và các tranh chấp thương mại nên được đưa tới Tổ chức Thương mại thế giới hơn là hành động đơn phương.

Cổ vũ Trật tự Thế giới 2.0 sẽ đòi hỏi tham vấn rất nhiều. Trong một số lĩnh vực như y tế toàn cầu, việc đối thoại đã tiến xa, và thách thức chính là việc xây dựng năng lực quốc gia ở các nước còn thiếu nó. Trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như không gian mạng, thế giới vẫn còn xa mới đạt thỏa thuận về những nghĩa vụ nào cần phải được đòi hỏi . Và trong các lĩnh vực khác nữa, chẳng hạn như phát triển vũ khí, chuẩn mực đã được thoả thuận, nhưng việc thực thi thì rất nhiều tranh cãi. Như một quy luật, Hoa Kì có thể và nên đưa ra những ý tưởng, nhưng không phải  ở vị thế về trí tuệ hay về chính trị để trình bày một kế hoạch chi tiết cho các nước khác kỉ vào. Ngược lại, những  nước khác phải tham gia trong việc thêm da thịt cho khái niệm cũng nhiều như việc thực thi nó.

Tiến bộ tích cực về chương trình này sẽ cần đạt đến một cách tự nguyện, từ chính các nước hơn là kết quả của một lệnh nào đó từ trên xuống của cơ quan hay diễn viên được coi là có thẩm quyền. Nhìn thẳng vào sự không ăn khớp giữa bản chất và quy mô của các vấn đề đương đại và khả năng của các thoả thuận hiện có để giải quyết chúng, các chính phủ sẽ phải quyết định xem họ có sẵn sàng hi sinh một số quyền tự chủ để đổi lấy hành động tập thể được cải thiện. Loại suy nghĩ  này đã phổ biến trong lĩnh vực thương mại (mặc dù hiện nay đang bị phe dân tuý cáu giận ở nhiều nước công kích), và nó đang bắt đầu trở thành hiện thực trong đấu trường khí hậu và không gian mạng, nhưng triển vọng của nó là pha tạp nhiều hơn trong lĩnh vực chính trị-quân sự.

Nhưng sức mạnh của thảo luận và thuyết phục trong việc thúc đẩy thay đổi trong thời gian dài thường bị đánh giá thấp. Nhiều vấn đề chưa đủ chín muồi để đem ra đàm phán chính thức thành công, và trong thời gian chuyển tiếp, tham vấn có thể làm được nhiều thứ để tạo ra sự hiểu biết và khoan dung về một vài hành động nhất định, làm rõ những hành vi nào được xem là phải chăng hoặc chấp nhận được, và làm rõ cái giá phải trả và các hậu quả có thể có của việc vượt quá các giới hạn. Vai trò của Ngoại trưởng và các quan chức Mĩ cao cấp khác sẽ cần phải thay đổi trong tương lai gần, nhấn mạnh nhiều hơn vào tham vấn trên các diễn biến của trật tự quốc tế và ít hơn vào các cuộc đàm phán giải quyết các vấn đề tường minh.

Hầu hết các tham vấn ban đầu nhất thiết sẽ phải dính dáng tới các cường quốc lớn khác, bao gồm Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, và Vương quốc Anh. Các cuộc đàm phán sẽ cần phải diễn ra song phương và ở các diễn đàn không chính thức khác; sẽ là quá sớm để nghĩ tới G-20 hoặc Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc như một nơi dùng đàm phán. Tiến bộ sẽ khó nắm bắt trong điều kiện có  những bất đồng rõ ràng về những ưu tiên; cụm từ “cộng đồng quốc tế” thường được viện dẫn trong khi thực tế có rất ít bằng chứng thấy nó tồn tại. Và các cuộc đàm phán này sẽ được diễn ra trong bối cảnh quan hệ của các cường quốc lớn đang xấu đi, một phần bị thúc đẩy bởi chủ nghĩa toàn trị đang hồi sinh tại Nga và Trung Quốc và chủ nghĩa dân túy ở các nơi khác, kể cả ở Hoa Kì.

Tuy nhiên, không có lựa chọn tốt nào khác. Toàn cầu hóa đến và ở lại đây, và những bất cập của cách tiếp cận truyền thống với trật tự, chỉ dựa trên một mình chủ quyền, sẽ chỉ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian. Di chuyển về hướng một loại trật tự mới lồng ghép nghĩa vụ chủ quyền vào là cách tốt nhất để đối phó với vấn đề, nhưng sẽ đòi hỏi thời gian, đàm phán, và nỗ lực. Do đó, trật tự thế giới ít trở thành một đề xuất kiểu ‘được ăn cả ngã về không’ hơn thành một vấn đề về mức độ, ít trở thành một thỏa thuận chính thức hơn thành một quá trình, tiến trước ở một số lĩnh vực xa hơn ở những lĩnh vực khác. Tuy nhiên, điều chắc chắn nó là cốt yếu cho một thế kỉ trong đó toàn cầu hóa sẽ trở thành hiện thực, dù có vui vẻ chào đón hay không. Xây dựng một trật tự thế giới dựa vào nghĩa vụ chủ quyền chắc chắn là điều tham vọng, nhưng đó là một tham vọng sinh ra từ hiện thực, chứ không phải từ lí tưởng.

Saturday, December 10, 2016

Thời kì đen tối cho nền Dân chủ châu Âu?

Thời kì đen tối cho nền Dân chủ châu Âu?

(A Dark Age for European Democracy?)

Trung tâm Chính trị này sẽ hành xử ra sao vào năm 2017

R. Daniel Kelemen
FA (7/12/2016)

Ngày 17 tháng 11, Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Mỹ Barack Obama công bố một bài báo trong tạp chí WirtschaftsWoche (Tuần Kinh tế) Đức, phác thảo những cam kết chung của hai nước với các giá trị về tự do cá nhân, dân chủ, và nền pháp trị (rules of law); phòng vệ tập thể thông qua liên minh NATO; và hợp tác quốc tế về các vấn đề từ chính sách tị nạn đến giảm thiểu biến đổi khí hậu. Luận đề này của họ đóng vai trò như là một nhắc nhở về các giá trị vốn là trung tâm của liên minh dân chủ tự do xuyên Đại Tây Dương trong nhiều thập niên.

Trong những tháng gần đây, phe dân tộc và dân tuý đã thách thức những giá trị đó ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Hồi tháng 6, việc Vương quốc Anh bỏ phiếu rời khỏi Liên minh châu Âu đã cho phe dân tuý thắng lợi lớn đầu tiên trong năm. Sau đó, vào tháng rồi, việc Donald J. Trump được bầu làm  tổng thống Mỹ đã đặt một ứng cử viên thể hiện thái độ khinh thị các giá trị dân chủ như là tự do báo chí, độc lập về tư pháp, và nền pháp trị vào chức vụ quyền lực nhất thế giới. Tại châu Âu, các chính trị gia cực hữu và độc đoán từ Budapest đến Moscow tung hô chiến thắng của Trump; lãnh đạo đang cầm quyền các nước phản ứng với sự sửng sốt. Nền dân chủ tự do phương Tây, có vẻ thăng cao vào cuối thời Chiến tranh Lạnh, bây giờ dường như bị đe dọa từ mọi phía. Thời gian này là những ngày đặc biệt tối tăm cho nền dân chủ châu Âu.

Không ai có thể biết chính xác Trump sẽ cai trị như thế nào hoặc chính sách đối ngoại mà ông sẽ theo đuổi là gì. Nhưng một số các tác động mà chức vụ tổng thống của ông sẽ có lên châu Âu và liên minh xuyên Đại Tây Dương thì đã rõ ràng. Chiến thắng của Trump sẽ không đẩy các chính trị gia cánh hữu lên cầm quyền, nhưng nó có thể củng cố sự tự tin của họ khi họ thách thức các nhàchính trị gia đang cầm quyền. Đối với những kẻ dân tuý đang nắm quyền, như Thủ tướng Hungary Viktor Orban và Jaroslaw Kaczynski, đứng đầu đảng quản trị Luật pháp và Công lí Ba Lan (Poland's governing Law and Justice -PiS) cũng là nhà lãnh đạo trên thực tế của nước này, chính quyền Trump có thể là một người bạn thân cận của họ.

Các phát biểu trong chiến dịch tranh cử của tổng thống mới đắc cử gợi ra rằng ông sẽ đòi hỏi các nước châu Âu chi cho quốc phòng của họ nhiều hơn. Đó là một lập trường hợp lí, nhưng Trump có thể làm hỏng các lợi ích của bất kì việc tăng chi tiêu quốc phòng nào của châu Âu qua việc phá hoại uy tín của liên minh NATO. Về phần EU, với vai trò là một tổ chức siêu quốc gia nhằm thúc đẩy thỏa thuận thương mại đa phương, di chuyển tự do, quy định về môi trường và luật pháp quốc tế, nó bao hàm phần lớn những gì mà Trump đã lớn tiếng chống đối. Không có gì ngạc nhiên ngay sau cuộc trưng cầu ý dân tháng 6 của Vương quốc Anh, Trump đã lên Twitter để tuyên bố mình là "Mr Brexit", và từ đó đã có mối quan hệ bạn bè rõ ràng với Nigel Farage, cựu lãnh đạo quốc Đảng Độc lập Vương quốc Anh (United Kingdom Independence).

Laszlo Balogh / REUTERS Hungary Thủ tướng Viktor Orban phát biểu ở Budapest, tháng 10 năm 2016.

PHE TRUNG DUNG NẮM GIỮ?

Các phép thử mới nhất cho giới chính trị cầm quyền của châu Âu xảy ra ở Áo và Italy vào tháng 4. Trong cuộc bầu cử tổng thống của Áo, Alexander Van der Bellen, một cựu lãnh đạo ủng hộ châu Âu của đảng Greens (Xanh), đánh bại Norbert Hofer, ứng cử viên Euroskeptic (hoài nghi/bài bác EU) của đảng Tự do Áo cánh hữu, chống di dân. Nhưng sự nhẹ nhõm mà chiến thắng của Van der Bellen của khiêu gợi các nhà lãnh đạo dòng chính châu Âu không kéo dài: sau ngày hôm đó, các cử tri Ý đã giáng một đòn mạnh vào giới đang cầm quyền nước mình bằng cách bác bỏ một cuộc trưng cầu về cải cách hiến pháp mà thủ tướng trung tả Matteo Renzi thực tế đã đưa vào thành một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm đối với sự lãnh đạo của ông. Renzi từ chức, dìm Italia vào một thời kì bất ổn chính trị tại một thời điểm khi nó phải đối mặt với áp lực chồng chất lên hệ thống ngân hàng và nợ quốc gia, cuộc khủng hoảng di dân, và nhóm dân túy của chính nước này tăng mạnh, Phong trào Năm Sao.

Năm tới, các cuộc bầu cử quốc gia ở Pháp, Đức và Hà Lan sẽ kiểm nghiệm xem phe ôn hòa có thể nắm giữ được vị thế chống lại các lực lượng cực hữu như họ đã làm ở Áo hay không. Đầu tiên, vào tháng 3, cử tri Hà Lan sẽ đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử quốc hội. Geert Wilders cuồng nhiệt chống đạo Hồi và Đảng Tự do cực hữu của ông có thể sẽ so kè ngang ngửa với Thủ tướng đương nhiệm Mark Rutte và Đảng Nhân dân trung hữu của ông. Sau đó, vào tháng 4 và tháng 5, Pháp sẽ bầu ra một tổng thống mới sau hai vòng bỏ phiếu. Marine Le Pen, lãnh đạo của đảng Mặt trận Quốc gia (National Front ) cực hữu, có lẽ sẽ nổi lên như một trong hai ứng cử viên hàng đầu ở vòng đầu, có nhiều khả năng sẽ đưa bà lên đấu với Đảng Cộng hòa trung hữu của Francois Fillon ở vòng cuối. Cuối cùng, vào tháng 9, Đức sẽ tổ chức bầu cử quốc hội. Angela Merkel đang tìm kiếm một nhiệm kì thủ tướng thứ tư và phải đối mặt với khả năng lần đầu tiên trong lịch sử sau chiến tranh của nước này, một đảng cực hữu – the Alternative for Germany (Giải pháp thay thế cho Đức)– sẽ vào quốc hội liên bang.

Chiến thắng của Trump đã làm hi vọng của các lực lượng dân túy ở Pháp, Đức và Hà Lan mạnh lên, nhưng trong từng trường hợp, phe trung dung có thể sẽ nắm giữ vị thế. Trong hệ thống đảng phái phân mảnh của Hà Lan, sẽ cần phải liên minh mới nắm được quyền, và vì có nhiều khả năng những đảng dòng chính sẽ tránh xa Wilders, Rutte sẽ có khả năng sẽ trở lại làm người đứng đầu một chính phủ đa đảng mới. Ở Pháp, có một cơ hội thực sự để Le Pen chiến thắng, nhưng rất có thể là phe trung dung sẽ chặn bà lại bằng cách thống nhất xung quanh đối thủ của mình ở vòng bỏ phiếu thứ hai. Tại Đức, bà Merkel đang được mức ủng hộ cao. Vì cuộc khủng hoảng di cư hiện giờ đang trong vòng kiểm soát và vì bà đã có một số nhượng bộ đối với những kẻ chỉ trích từ cánh phải, Thủ tướng có thể sẽ giành được một nhiệm kì nữa. Các cuộc bầu cử năm 2017 có thể tạo ra một sự dịch chuyển trong phe trung dung châu Âu sang phía hữu, nhưng ở các nước EU hùng mạnh nhất, các chính phủ hết lòng đi với dân chủ tự do dường như có khả năng vẫn sẽ nắm quyền.

Mặc dù Trump không thể đẩy các nhà chính trị dân túy vào vị trí cầm quyền, ông có thể hậu thuẫn những người đã nắm quyền. Trump đã mời nhà độc tài Orban—người mà chính quyền của Tổng thống Hoa Kì Barack Obama cố tránh xa trong 5 năm qua, đến thăm ông tại Washington. Trong một cuộc phỏng vấn ngày 01 tháng 12 với truyền thông Hungary, Jeffrey D. Gordon, cố vấn chiến dịch tranh cử  của Trump, tuyên bố rằng phe ông xem Orban là "một nhà lãnh đạo vĩ đại, một trong những nhà lãnh đạo tốt nhất trên thế giới." Các nhà lãnh đạo của chính phủ PiS của Ba Lan, hiện đang làm việc tiếm quyền vi hiến Tòa án Hiến pháp của nước này và phải đối mặt với mối đe dọa bị EU trừng phạt, có thể mong đợi cũng được Trump ôm lấy. Trong chiến dịch này, Trump nhiều lần ca ngợi các nhà lãnh đạo độc đoán và tỏ rõ rằng ông không coi việc thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ở nước ngoài như là một vai trò của Hoa Kì. Việc Trump cởi mở với Orban gợi ra rằng ông sẽ thận thiện với các nhà lãnh đạo châu Âu có xu hướng chuyên quyền thay vì gây áp lực buộc họ phải tôn trọng các chuẩn mực dân chủ, như chính quyền Obama đã làm.

Về NATO, trong cuộc điện đàm ngày 29 tháng 11 với Thủ tướng Anh Theresa May, Trump nhấn mạnh tầm quan trọng của NATO cho cả Vương quốc Anh và Hoa Kì. Dù khó có khả năng Trump dỡ bỏ liên minh này, song ông đã gây thiệt hại lâu dài cho nó. Điều 5 của NATO về bảo đảm bảo vệ lẫn nhau có ý tác động như một cách răn đe, đảm bảo kẻ thù tiềm năng rằng việc tấn công một thành viên NATO sẽ kích hoạt một phản ứng của toàn khối. Nhưng Trump đã làm suy yếu nghiêm trọng đảm bảo này qua việc gợi ý rằng Hoa Kì sẽ chỉ bảo vệ quốc gia NATO nào cam đoan sẽ chi ít nhất 2% tổng sản phẩm trong nước cho quốc phòng. Và với việc đưa tín hiệu rằng ông muốn tìm kiếm các mối quan hệ ấm áp hơn với Tổng thống Nga Vladimir Putin, ông đã tiếp tục làm suy yếu niềm tin các đồng minh NATO rằng Hoa Kì sẽ đến giúp họ trong trường hợp bị Nga tấn công.

Supporters of the Alternative for Germany (AFD) celebrate on during a state election in Stuttgart, Germany, March 2016.
Những người ủng hộ đảng Giải pháp thay thế cho Đức (AFD) ăn mừng trong một cuộc bầu cử bang ở Stuttgart, Đức, March 2016. MICHAEL DALDER / REUTERS

PHÉP THỬ SỰ THỐNG NHẤT

Tháng 3, Liên minh châu Âu sẽ tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 60 Hiệp ước Rome thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu, tiền thân của EU. Kể từ khi EU thành lập, các tổng thống Mỹ thuộc cả hai đảng đều ủng hộ việc hội nhập của châu Âu. Obama đã nhiều lần nhấn mạnh rằng sự thống nhất châu Âu là một lợi ích chiến lược của Hoa Kì và, như ông nêu nó ra trong chuyến thăm Hi Lạp vào tháng 11 rằng việc hội nhập của châu Âu là "một trong những thành tựu chính trị và kinh tế vĩ đại của lịch sử loài người." Các nhà lãnh đạo EU đừng trông mong có một sự khích lệ như thế ở Trump.

Ngược lại, các nhà lãnh đạo châu Âu cần phải chuẩn bị để xem Trump cố chia rẽ liên minh của họ và làm họ đối đầu lẫn nhau. EU thường cổ vũ các giá trị và chính sách-tự do như hiệp ước môi trường, nhân quyền, và thương mại đa phương –là những thứ Trump phản đối. Một châu Âu mạnh, đoàn kết hợp tác phát huy các giá trị tự do như thế trên toàn cầu sẽ xung đột với các chương trình chính sách của Trump. Nói chung, hội nhập của châu Âu thuộc loại "toàn cầu hóa" mà Trump và các kẻ dân tuý khác chống đối gay gắt. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Trump cổ cũ cho Brexit, tìm đến Orban và các nhà chính trị Euroskeptic khác, và kêu gọi có quan hệ ấm áp hơn với Nga ngay cả khi Putin đe dọa an ninh châu Âu và tìm cách chia rẽ EU. Các nhà lãnh đạo châu Âu cần chuẩn bị đón nhận nhiều điều như vậy từ chính phủ sắp lên này.

Thời đại Trump sẽ bày ra một phép thử sâu sắc sự đoàn kết cho liên minh đang bê bết của châu Âu. Khi châu Âu đối mặt với các cuộc đàm phán về Brexit, cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro tại Ý có khả năng dấy lại, cuộc khủng hoảng người tị nạn kéo dài, sự gây hấn của Nga trên sườn phía đông của nó, và sự trỗi dậy của chế độ chuyên chế ở một số quốc gia thành viên EU, nó cũng sẽ phải đối phó với một Tổng thống Mỹ có thể làm nhiều thứ hơn nữa gây cản trở hơn là khuyến khích sự hợp tác châu Âu. Merkel chắc chắn có thể đóng một vai trò lãnh đạo quan trọng trong bối cảnh mới này. Nhưng bà đã đúng khi mới đây nhấn mạnh rằng "không một cá nhân đơn lẻ, kể cả có kinh nghiệm nhất, có thể sửa chữa những thứ quanh thế giới."

Chiến thắng của Van der Bellen ở Áo và sự ủng hộ của công chúng đối với EU tăng lên kể từ cuộc bỏ phiếu Brexit đã cho một số hi vọng rằng trật tự dân chủ tự do của châu Âu có thể sống sót qua cuộc khủng hoảng mà nó đang phải đối mặt hiện nay. Nhưng nếu các nhà lãnh đạo châu Âu muốn liên minh của họ sống sót qua thời kì đen tối này đối với nền dân chủ, họ phải đưa ra cho công dân thấy một tầm nhìn tích cực cho tương lai của dự án tập thể của họ và tăng gấp đôi quyết tâm của họ với nó. Trên hết, họ phải tìm cách vực dậy nền kinh tế đang chao đảo của châu Âu, rời xa nỗi ám ảnh với thắt lưng buộc bụng để tập trung vào việc phục hồi tăng trưởng. Họ phải tìm cách nắm vững và giải quyết một cách hiệu quả hơn cuộc khủng hoảng di dân, mở rộng các sáng kiến gần đây để bảo đảm an toàn biên giới bên ngoài của châu Âu trong khi trợ giúp nhiều hơn cho những nước phải chịu gánh nặng người tị nạn lớn nhất. Họ cần tăng cường hợp tác quốc phòng để cho các công dân thấy các cơ quan châu Âu có thể giúp bảo vệ họ chống lại các mối đe dọa chung như thế nào. Và các nhà lãnh đạo EU phải dũng cảm đối đầu phe dân tuý Euroskeptic ngay giữa họ, bảo vệ các giá trị dân chủ mà liên minh được xây dựng trên đó.

Monday, October 31, 2016

Đảng CSVN có thể tiếp tục cải cách thị trường được không?

Việt Nam: Đảng Cộng sản có thể tiếp tục cải cách thị trường được không?

Vietnam: Can the Communist Party Keep Up With Market Reforms?

Đảng Cộng sản có sẵn sàng đối mặt với những hậu quả chính trị của việc chuyển đổi kinh tế của Việt Nam không?

Anton Tsvetov
Diplomat (28/10/2016)

(bản dịch đã đăng trên ABS ngày  01/11/2016)


Năm 1986, tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), giới chủ chốt lãnh đạo đất nước này quyết định đã đến lúc phải thay đổi. Mười năm dài trôi qua kể từ khi Đảng thống nhất đất nước dưới sự cai trị của mình. Tính chính đáng của Đảng, dựa trên chiến thắng quân sự thần tốc, đã bắt đầu hao mòn. Nền kinh tế đang đánh vật, căng thẳng do các lề thói xã hội chủ nghĩa cốt lõi không mang lại đủ sản phẩm nông nghiệp hay công nghiệp cho dân số. Cách thoát ra là cải cách thị trường, cái gọi là "Đổi Mới".

Ba mươi năm sau, Việt Nam đã chuyển đổi về mặt kinh tế và xã hội, nhưng chính trị của đất nước vẫn còn tụt lại phía sau. Đảng Cộng sản vẫn duy trì độc quyền về quyền lực, vì có vẻ như có rất ít thách thức. Điều này đã xảy ra được vì hai lí do chính. Thứ nhất, ĐCSVN đã thành công trong việc kiểm soát môi trường chính trị, ngăn không cho lực lượng chính trị nào khác thậm chí chỉ bước vào trường đấu công cộng. Thứ hai, nhưng không kém phần quan trọng, ĐCSVN đã xoay xở chuyển từ tính chính đáng do chiến thắng quân sự sang cái mà đôi khi được gọi là "tính chính đáng dựa trên thành tựu."

Nhờ những cải cách đổi mới, Việt Nam đang trở thành một cỗ máy tăng trưởng, thu hút đầu tư nước ngoài và đa dạng hóa xuất khẩu. Giá lao động thấp, lực lượng lao động được đào tạo tốt, cởi mở với nguồn vốn nước ngoài và tham gia tích cực vào các hiệp định thương mại tự do tất cả đều đã đưa các doanh nghiệp quốc tế đến Việt Nam. Đồng tiền đổ vào nước này đã được đưa vào sử dụng tốt, với mức giảm đáng kể về tỉ lệ nghèo, chất lượng cuộc sống nâng cao, và tuổi thọ tăng lên.

Đảng Cộng sản nắm quyền sở hữu toàn bộ các thành công của cải cách. Chính vào các kì Đại hội Đảng và các phiên họp toàn thể mà các quyết định quan trọng đã được đưa ra; đảng viên và các nhà lãnh đạo là những người vạch ra và thực hiện cải cách thị trường; và Đảng đã không ngần ngại quảng cáo vai trò chính của mình trong việc cải cách kinh tế. Do đó, người dân đã được đưa cho một lí do vững chắc hơn nhiều để ủng hộ những người Cộng sản hơn việc họ đánh thắng miền Nam Việt Nam, đó là một mô hình kinh tế bền vững và thành công.

Sau 30 năm và hai cuộc khủng hoảng tài chính, Việt Nam hiện nay đang trên bờ vực của một quá trình chuyển đổi khó khăn hơn nhiều. Duy trì và đẩy mạnh đà đổi mới kinh tế không còn chỉ là về việc thu hút được nhiều tiền nước ngoài vào đầu tư, tín dụng và trợ giúp phát triển. Để thoát bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam sẽ phải cơ cấu lại nền kinh tế, tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao, tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước, chỉnh đốn khu vực nhà nước cồng kềnh, kém hiệu quả, và cải thiện mạnh mẽ các tổ chức của mình.

ĐCSVN dường như nhận ra sức lao động phi thường đang có trong tay, như được thể hiện trong các văn kiện chính thức và báo cáo của Đảng, cũng như trong báo cáo Việt Nam 2035 do Ngân hàng Thế giới và Bộ thương mại và đầu tư Việt Nam hợp tác thực hiện. Tuy nhiên, có một mâu thuẫn cơ bản trong việc tái cấu trúc kinh tế tiến hành trong 30 năm qua và dường như được sắp đặt kéo dài ít nhất 30 năm nữa. Việc chuyển đổi kinh tế đã mang tới sự xuất hiện trọn vẹn các tầng lớp  xã hội mới và các nhóm lợi ích vốn có thể được tương đối khá giả lên và đang im tiếng, nhưng chắc chắn sẽ đòi quyền tham gia chính trị để đảm bảo vị thế của họ trong tương lai.

Lấy ví dụ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đã tăng lên nhanh chóng trong những thập niên vừa qua. Việc thừa nhận đầy đủ doanh nghiệp tư nhân đã mở ra khả năng chưa đánh thức của chủ nghĩa tư bản Việt Nam, với đất nước hiện nay có khoảng 500.000 doanh nghiệp, 97 % trong số đó là các SME. Hiện nay họ sử dụng một nửa lực lượng lao động của đất nước. Nhưng ĐCSVN chưa thật chắc chắn về vị trí của nhóm to lớn này, nhóm trọng yếu cho sự ổn định xã hội ở Việt Nam. Các SME và các doanh nghiệp tư nhân nói chung vẫn còn mong muốn tiếp cận tốt hơn với tín dụng, thủ tục nới lỏng, và an toàn về quyền sở hữu, và do đó sẽ tìm kiếm đại diện chính trị thích hợp.

Một nhóm khác bị ĐCSVN bỏ qua là tầng lớp trung lưu thành thị. Tầng lớp trung lưu Việt Nam đang ngày càng tăng nhanh, từ 12 triệu vào năm 2012 lên tới con số dự phóng 33 triệu vào năm 2020, và được nghĩ sẽ chiếm một nửa lượng tiêu thụ của cả nước. Nhóm này sẽ đóng một vai trò thiết yếu nếu Việt Nam xây dựng một nền kinh tế mới dựa vào các ngành công nghiệp và dịch vụ giá trị gia tăng cao và nếu nó là trở thành một "quốc gia khởi nghiệp", như tuyên bố của lãnh đạo cao nhất. Đây là một nhóm có ý thức cao về công bằng xã hội sẽ thúc đẩy các chiến dịch công cộng đột xuất thông qua truyền thông xã hội, nắm vai trò như là một bộ khuếch đại cho tất cả các loại bất bình - từ các cuộc đình công nhân tới thảm họa môi trường. Hơn nữa, chính thông qua đôi mắt của tầng lớp trung lưu đô thị - và đặc biệt là thành phần trẻ trong đó - mà thế giới sẽ nhìn thấy các sự kiện ở Việt Nam. Đó là lí do tại sao ĐCSVN nên quan tâm đến việc đưa các nguyện vọng của nhóm này vào tiến trình chính trị.

Đây chỉ là hai ví dụ về các diễn viên mới nổi lên trong khung cảnh xã hội của Việt Nam sinh ra từ cải cách kinh tế, nhưng những cơn đau tăng trưởng khác cũng có thể đòi hỏi chuyển đổi chính trị. Một nền kinh tế đang bùng nổ tạo ra tất cả những mất cân bằng điển hình của sự phát triển nhanh - tham nhũng quy mô lớn, bất bình đẳng thu nhập và chênh lệch ngày càng lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, cũng như giữa người kinh đa số và nhiều sắc dân thiểu số. Trong chính trị, người miền Bắc vẫn còn hiện diện nhiều hơn trong thành phần đảng viên và trong các cơ quan quản lí cũng như trong hội đồng quản trị các tập đoàn nhà nước.

Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn còn hết sức mong manh với suy thoái môi trường, phá rừng, nhiễm mặn, và các yếu tố con người gây ra như vấn đề ô nhiễm không khí ngày càng lớn của Hà Nội và sự cố chết cá quy mô lớn (và nhiều) năm nay. Người dân địa phương đã chứng tỏ rằng họ sẵn sàng phản kháng vì sự lành mạnh của môi trường sống, bởi vì đó không chỉ là vấn đề chất lượng cuộc sống mà còn là vấn đề xác định việc sinh tộn về kinh tế của các cộng đồng rộng lớn ven biển.

Tất cả những vấn đề này có thể biến thành một bài toán lớn đối với nhóm chủ chốt (elite) cầm quyền do cộng đồng báo chí sôi động và truyền thông xã hội tương đối cởi mở. Không giống như ở Trung Quốc, chính phủ Việt Nam không chọn cách đóng cửa Facebook và các mạng truyền thông xã hội khác để nghiêng về các cái tương đương dễ kiểm soát trong nước. Kết quả là tin tức chính trị và xã hội lên trực tuyến tức thì mà ĐCSVN khó làm được gì nhiều. Đất nước đang ngày càng trở nên minh bạch hơn, với hàng triệu khách du lịch đến viếng mỗi năm, các nhà đầu tư nước ngoài muốn sự ổn định trong nước và quản trị, và các tổ chức phi chính phủ toàn cầu và địa phương theo dõi từng bước đi của chính phủ.

Điều đó không có ý nói rằng Đảng không cảnh giác với những rủi ro mà việc đổi mới sâu xa hơn có thể mang đến cho sự tồn tại của chính mình. Hoàn toàn ngược lại, Cộng sản Việt Nam đã hết sức thích ứng trong suốt ba thập kỉ qua, qua việc uốn cong cách tiếp cận của họ đối với các vấn đề tư tưởng và chính sách. Một lí do là ĐCSVN không còn là một đảng của giai cấp công nhân và nông dân, mà đại biểu cho "toàn thể nhân dân Việt Nam", điều này có thể bao gồm việc mở rộng thành phần xã hội.

Hơn nữa, các học giả đã nhận thấy rằng "tư tưởng Hồ Chí Minh” đã giành được chỗ đứng trong nền tảng tư tưởng của ĐCSVN, đẩy chủ nghĩa Mác và Lênin chính thống xuống hàng phía sau. Điều kì lạ là không ai biết được "tư tưởng Hồ Chí Minh" chính xác là cái gì, trừ "việc ứng dụng chủ nghĩa xã hội vào các đặc thù của Việt Nam." Người ta có thể dễ dàng thấy hàng loạt các chính sách có thể được xếp dưới loại bảng hiệu này như thế nào.

Dường như chính các quan chức Việt Nam đang ngày càng quan tâm đến chính trị thực tế. Có một xu hướng dễ thấy trong các lãnh đạo chính phủ tự xác định chính mình chủ yếu là những người điều hành (executive) và các nhà kĩ trị (technocrat), chứ không chỉ đơn thuần là đại diện của Đảng trong Nhà nước. Và với sự gia tăng của truyền thông xã hội, các lãnh đạo cấp tỉnh và chính phủ đang đi theo kiểu chính trị công cộng phương Tây, công khai hoá cho giám sát và thực hiện các trò PR gây chú ý như đi tắm biển để cho thấy rằng biển an toàn dù có thảm họa môi trường gần đó.

Dĩ nhiên, vấn đề quan tâm hàng đầu đối với Đảng là độc quyền quyền lực. Khi xã hội Việt phát triển thì cơ sở xã hội và các cán bộ của chính ĐCS cũng phát triển. Trong 30 năm cải cách kinh tế sâu đậm - cần cho sự phát triển của Việt Nam - ĐCSVN thấy chính mình ở trong một đất nước hoàn toàn khác. Đảng có sẽ trở thành một lực lượng chính trị khác với sự độc quyền về quyền lực là nguyên tắc thống nhất duy nhất còn lại? Đảng sẽ thừa nhận sự cạnh tranh phe phái là giải pháp duy nhất thay cho một hệ thống đa đảng? Đảng sẽ ngăn chặn các cải cách xa hơn tại điểm mà chỉ một bước nữa sẽ xói mòn độc quyền sang điểm không thể quay lại?

Mỗi một trong những kịch bản này đều có thể xảy ra, nhưng ĐCSVN sẽ phải thay đổi cùng với nền kinh tế Việt Nam hoặc đánh mất tính thích đáng.

Anton Tsvetov là một chuyên gia tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược (CSR), một think tank có trụ sở tại Moscow. Ông tweets về các vấn đề Đông Nam Á và chính sách đối ngoại của Nga tại @antsvetov. Quan điểm thể hiện ở đây là của riêng của tác giả và không phản ánh quan điểm của  CSR

Tuesday, October 18, 2016

Nhận xét về Tiếng Việt xứ Đàng Trong thế kỉ 18

Nhận xét về Tiếng Việt xứ Đàng Trong thế kỉ 18


(trích trong cuốn A Voyage to Cochinchina in the years 1792 and 1793, John Barrarow, London, 1802, tr. 2/326-328: https://archive.org/details/voyagetocochinch00barr)


Người xứ Đàng Trong trên thực tế dùng chữ viết của Trung Quốc, chúng tôi không cảm thấy khó khăn trong giao tiếp với họ về mọi thứ chủ đề qua phương tiện này, nhờ các linh mục người Hoa của chúng tôi. Tuy nhiên, ngôn ngữ nói trải qua một sự thay đổi rất đáng kể, ít ngạc nhiên hơn việc các cư dân của các tỉnh phía Bắc và phía Nam của Trung Quốc không thể hiểu nhau; nhưng dù có bị thay đổi, không có vẻ nhận có bất cứ cải tiến nào do những thêm thắt của riêng mình hoặc do đưa vào những từ nước ngoài. Bằng cách so sánh của các từ tiếng Hoa, mà tôi đã đưa ra trong quyển sách khác, với các từ đồng nghĩa trong tiếng Đàng Trong, trong bảng sau đây có thể có được ý niệm về mức độ giống nhau hay khác biệt của 2 thứ tiếng này.


ENGLISH (t.Anh)
CHINESE (tiếng Hoa)
COCHINCHINESE (t. Đàng Trong)
The Earth
dee (địa)
dia (địa/đất)
The Air
kee (khí)
bloci (không [?] khí)
Fire
ho (hoả)
whoa (hoả/lửa)
The Sea
hai (hải)
bae (bể)
A River
ho (hà)
jeang (giang)
A Mountain
shan (sơn)
noui (núi)
The Sun
jee-to (nhật/thái dương?)
mat bloei (mặt trời) or eye of heaven (mắt[!] trời)
The Moon
yu (nguyệt)
blang (trăng)
The Stars
sing (tinh)
sao (sao)
The Clouds
yun (vân)
mou (mây)
Thunder
luie (lôi)
no-bsang (sấm)
Lightning
shan-tein (thiểm điện)
choap (chớp)
The Wind
fung (phong)
jeo (gió)
The Day
jee or tien (nhật hay thiên)
ngai (ngày)
The Night
ye or van-shang (dạ hay vãn thượng)
teng (đêm)
The Sky or Heaven
tien (thiên)
tien (thiên)
The East
tung (đông)
doo (đông)
West
see (tây)
tai (tây)
North
bee (bắc)
pak (bắc)
South
nan (nan
nang (nam)
Man
jin (nhân)
dan-on (đàn ông)
Woman
foo-gin (phụ nữ?)
dan-ba đàn bà)
A Quadruped
shoo ([tứ] túc)
kang ([bốn] cẳng)
A Bird
kin (cầm)
ching (chim)
A Fish
eu (ngư)
ka (cá)
A Tree
shoo (thụ)
kui (cây)
A Fruit
ko-tse (quả)
blai (trái)
A Flower
wha (hoa)
wha (hoa)
A Stone
shee (thạch)
ta (đá)
Gold
tchin (kim)
whang (vàng)
Silver
in-tse (ngân)
bak (bạc)
Copper
tung (đồng)
tow (đồng)
Lead.
yuen (duyên)
chee (chì)
Iron
tié (thiết)
tié (thiết/sắt))
The Head
too (thủ)
too (thủ)
The Hand
shoe (thủ)
tai (tay)
The Heart
sin (tâm)
blai (trái [tim])
The Foot
tchiau (cước)
tchen (chân)
The Face
mien (diện)
Mien (diện/mặt)
The Eyes
yemshing (nhãn tình)
mat (mắt)
The Ears
eul-to (nhĩ đoá)
tai (tai)
An Ox
nieu (ngưu)
bo (bò)
A Horse
ma (mã)
ma (mã/ngựa)
An Ass
loo-tse (lư tử)
looa (lừa)
A Dog
kioon (khuyển)
koo (chó)
A Sheep
yang (dương)
chien (chiên)
A Cat
miau (miêu)
miao (miêu)
A Stag
shan-loo (tuần lộc)
hoo (hươu)
A Pigeon
koo-tse (cáp tử)
bo-kau (bồ câu)
An Egg
kee-tan (kê đản)
te-lung (trứng)
A Goose
goo (nga?)
ngoo (ngỗng)
Oil
yeo-(du)
taw (dầu)
Rice
mee (mễ)
gao (gạo)
Vinegar
tsoo (thố)
jing (giấm)
Salt
yen (diêm)
muoi (muối)
Silk
tsoo (ti)
looa (lụa)
Cotton
mienn-wha (miên hoa)
baou (bông)
Sugar
tung (đường)
dang (đường)
A House
shia (gia)
da (nhà)
A Temple
miau (miếu)
shooa (chùa)
A Bed
tchuang (sàng)
tchuang (giường)
A Door
men (môn)
Pan (bản?)
A Knife
tau (đao)
tiau (dao)
A Plough
lee (lê)
Kai (cày)
An Anchor
mau (miêu)
dan (?/ mỏ neo)
A Ship
tchuan (thuyền)
tau (tàu)
Money
tsien (tiền)
tien (tiền)
One
ye (nhất)
mot (một)
Two
ul (nhị)
hai (hai)
Three
san (tam)
teng (tam ?)
Four
soo (tứ)
bon (bốn)
Five
ou (ngũ)
lang (năm)
Six
leu (luc)
lak (lục ?)
Seven
tchee (thất)
bai (bảy)
Eight
pa (bác)
tang (tám)
Nine
tcheu (cửu)
chin (chín)
Ten
shee (thập)
taap (thập ?)
Eleven
shee-ye (thập nhất)
moei-mot (mười một)
Twelve ‘
shee-ul (thập nhị)
moei-hai (mười hai)
Twenty
ul-shee (nhị thập)
hai-moei (hai mươi)
Thirty
san-shee (tam thập)
teng-moei (tam mươi ?)
Thirty-one
san-shee-ye (tam thập nhất)
teng-moei-mot (tam mươi mốt)
Thirty-two
san-shee-ul (tam thập nhị)
teng-moei-hai (tam mươi hai)
One hundred
pe (bách)
klang (trăm)
One thousand
tsien (thiên)
ngkin (nghìn)
Ten thousand
van (vạn)
muon (muôn)
One hundred thousand
shee-van (thập vạn)
klang ngkin (trăm nghìn)

Có thể thấy rằng người xứ Đàng Trong có thêm các phụ âm B, D và R mà họ phát âm không chút khó khăn nhưng người Tàu thì dù nổ lực cách mấy cũng không thể phát âm rõ ràng một vần có một trong các phụ âm này. Cũng có sự khác biệt lớn trong việc tạo ra các cụm từ trong hai thứ tiếng này. Trong việc tạo ra đại từ số nhiều, người Tàu dùng từ muen [môn] (nhiều) như trong

Ngo (ngã)
ne (nhĩ),
ta (tha).
I
thou
he
ngo-muen (ngã môn)
ne-muen (nhĩ môn)
ta-muen (tha môn)

We
yethey

Nhưng người Đàng Trong dùng từ ‘chúng’, tất cả, như trong


Tooi (tui/tôi)
bai (bây)
no (nó)
I
thou,
he
chung-tooi (chúng tôi)
chung-bai (chúng bây)
chung-no (chúng nó)
we
 ye
they