Thursday, July 18, 2019

TRUNG QUỐC LIỀU LĨNH ĐÁNH LỬA TRÊN MO KHÍ ĐỐT CỦA MALAYSIA, VIỆT NAM

TRUNG QUỐC LIỀU LĨNH ĐÁNH LỬATRÊN NGUỒN TÀI NGUYÊN KHÍ ĐỐT CỦA MALAYSIA, VIỆT NAM

(CHINA RISKS FLARE-UP OVER MALAYSIAN, VIETNAMESE GAS RESOURCES)

AMTI: 16/7/2019

Hai lần trong sáu tuần qua, cùng một tàu cảnh sát biển Trung Quốc (CSB) đã quấy rối các hoạt động dầu khí của các nước láng giềng trong vùng biển tranh chấp ở hai phía đối diện của biển Đông. Trong khi đó, một tàu của nhà nước Trung Quốc đã thực hiện một cuộc khảo sát địa chấn các lô dầu khí ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Điều này có nguy cơ làm đội tàu CSB và tàu dân quân hộ tống tàu khảo sát đối đầu với một nhóm tàu Việt Nam được điều tới khu vực này. Tình hình này cũng cho thấy một tiêu chuẩn kép: Bắc Kinh tỏ ra quyết tâm ngăn chặn các hoạt động dầu khí đơn phương mới của các nước láng giềng ở bất cứ nơi nào trong “đường chín đoạn”, phân định các yêu sách của họ ở biển Đông, trong khi ngay chính họ lại vẫn thăm dò và khai thác hydrocarbon trong vùng biển tranh chấp.

Theo dấu tàu Haijing 35111 (Hải cảnh 35111)

Tàu CSB Haijing 35111 đã tuần tra vùng biển gần bãi cạn Luconia ngoài khơi bờ biển Malaysia thuộc bang Sarakak trong những ngày cuối tháng 5. Khi ở đó, nó đã ngăn chặn hoạt động của giàn khoan Sapura Esperanza, theo các báo cáo chưa được xác minh trước đó, xuất hiện trên các mạng xã hội một tháng sau đó. Các báo cáo này có kèm các hình ảnh thuyết phục của 35111 trong vùng biển cận giàn khoan. Các bài đăng trên blog của Trung Quốc sau đó, sau khi bị xóa, đã củng cố các báo cáo này và xác định có một tàu thứ hai, Haijing 46302, cũng đã tham gia vào hoạt động xung quanh Sapura Esperanza. Mặc dù AMTI không xác nhận được sự hiện diện của 46302, dữ liệu Hệ thống nhận dạng tự động (AIS) cho truy cập tự do, mà hầu hết các tàu đi biển trên 300 tấn đều bị đòi hỏi phải phát đi, cho thấy 35111 đang hoạt động trong khu vực đó và có hành vi rất khiêu khích đối với các tàu khác .

Kể từ năm 2013, Trung Quốc đã duy trì sự hiện diện gần như liên tục lực lượng CSB xung quanh bãi cạn Luconia có hầu hết diện tích nằm dưới mặt nước khi triều cao nhưng vẫn được Bắc Kinh và Đài Bắc khẳng định là đảo. Bãi này nằm trên thềm lục địa Malaysia, được bao quanh bởi các mỏ dầu khí mà Malaysia đã khai thác trong nhiều thập kỷ. Các cuộc tuần tra của Trung Quốc thường tập trung vào đá Luconia Breakers, đây là phần duy nhất thuộc bãi Luconia có thể có phần nằm trên mặt biển. Điều đó vẫn là một vấn đề tranh cãi , nhưng nếu đúng thì có nghĩa là đá Luconia Breakers sẽ có lãnh hải 12 hải lý riêng của nó.
Từ ngày 10 đến 27 tháng 5, tín hiệu AIS do Haijing 35111 phát ra cho thấy nó đang tuần tra rất dày đặc khu vực xung quanh đá Luconia Breakers, bao gồm một phần của lô dầu khí SK 308. Lô đó được cấp phép cho Sarawak Shell, một công ty con của Royal Dutch Shell. Sapura Drilling gần đây cho biết họ đã giành được hợp đồng cho giàn khoan Sapura Esperanza để khoan một loạt giếng mới tại mỏ khí đốt tự nhiên F14, một trong ba mỏ mà Sarawak Shell đang phát triển trong lô SK 308.

Tín hiệu AIS cũng cho thấy hai tàu tiếp tế ngoài khơi của Malaysia là Executive Excellence và Executive Courage đã đi lại giữa lô SK 308 và bờ biển Sarawak trong suốt tháng 5, dường như phục vụ cho Sapura Esperanza. Vào ngày 21 tháng 5, tàu Haijing 35111 chạy vòng vèo khiêu khích gần các tàu này đến mức chỉ cách 80 mét. Dữ liệu này củng cố các báo cáo trên mạng xã hội liên quan đến vụ quấy rối Sapura Esperanza của 3511 và cho thấy tàu CSB này có hành vi đe dọa đối với các tàu phục vụ giàn khoan theo kiểu cách có thể cản trở hoạt động khoan.

Haijing 35111 chọn mục tiêu mới

Cuối tháng 5, Haijing 35111 đã quay trở lại cảng ở Hải Nam trong vài ngày trước khi đi về phía nam một lần nữa. Kể từ ngày 16 tháng 6, nó đã tuần tra khu vực biển cách bờ biển phía đông nam Việt Nam khoảng 190 hải lý. Các cuộc tuần tra tập trung vào lô dầu khí 06-01, nằm ở phía tây bắc của bãi Tư Chính (Vanguard) trên thềm lục địa Việt Nam. Bãi này cách thể địa lý trên mặt biển khi triều cao đang tranh chấp gần nhất, tức là đảo Trường Sa, 172 hải lý và nằm trong đường chín đoạn của Trung Quốc.

Lô này là chính yếu đối với dự án Nam Côn Sơn, được BP và ConocoPhillips phát triển vào đầu những năm 2000 để chuyển khí đốt bằng đường ống đến đất liền. Hiện nay, khí đốt tự nhiên từ mỏ Lan Đỏ thuộc lô 06-01 cung cấp tới 10% tổng nhu cầu năng lượng của Việt Nam. Công ty Rosneft của Nga được chuyển giao điều hành hoạt động lô này vào năm 2013 khi mua lại từ TNK-BP. Vào tháng 5 năm 2018, Rosneft đã ký hợp đồng với Hakuryu-5, một giàn khoan nửa chìm thuộc sở hữu của Công ty Japan Drilling Nhật, để khoan một giếng sản xuất mới trong lô 06-01 tại một mỏ khí thứ hai có tên Lan Đỏ.
Phản ứng trước việc này lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cảnh báo rằng, “không một quốc gia, tổ chức, công ty hay cá nhân nào, nếu không có sự cho phép của chính phủ Trung Quốc, có thể thực hiện các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc. Chúng tôi kêu gọi các bên liên quan tôn trọng một cách nghiêm túc các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc và không làm bất cứ điều gì có thể ảnh hưởng đến quan hệ song phương và hòa bình và ổn định khu vực.” Điều này diễn ra sau hai sự cố vào tháng 7 năm 2017 và tháng 3 năm 2018, trong đó các đe doạ của Trung Quốc đã buộc Việt Nam phải hủy bỏ công việc khoan dầu ở các lô dầu khí gần đó của Repsol Tây Ban Nha.

Có vẻ không hề nao núng, Rosneft đã tiếp tục công việc khoan tại Lan Đỏ và một mỏ khác là Phong Lan Dại trong lô 06-01. Tháng 5 năm 2019, Rosneft đã ký hợp đồng với Hakuryu-5 để khoan một giếng khác trong lô 06-01. Ảnh vệ tinh ở trên xác nhận rằng giàn khoan đã ở tại vị trí vào ngày 18 tháng 5.

Tín hiệu AIS cho thấy hai tàu tiếp tế ngoài khơi của Việt Nam là Sea Meadow 29 và Crest Argus 5 đã đi lại giữa Vũng Tàu trên bờ biển Việt Nam và lô 06-01 thường xuyên kể từ tháng 5 để phục vụ Hakuryu-5. Vận dụng chiến thuật tương tự được sử dụng quanh Sapura Esperanza, Haijing 35111 đã hoạt động một cách đe dọa gần các tàu này trong một nỗ lực rõ ràng để đe dọa chúng. Ví dụ, vào ngày 2 tháng 7, khi hai tàu này rời Hakuryu-5 thì 3511 lượn lách giữa chúng với tốc độ cao, chạy qua cách hai tàu này trong vòng 100 mét và cách giàn khoan chưa đến nửa hải lý.
35111 tiếp tục hoạt động xung quanh Hakuryu-5, được báo cáo là đang trong hợp đồng từ 60 đến 90 ngày. Điều này cho thấy Trung Quốc vẫn chưa hoàn thành mục tiêu của họ và việc khoan vẫn tiếp tục, mặc dù các hoạt động có bị cản trở hay không vẫn chưa được biết. Màn diễn này cũng cho thấy giá trị của các đảo nhân tạo Bắc Kinh đối với chiến thuật vùng xám của nó ở biển Đông. Sau khi tuần tra lô 06-01 trong gần một tháng, 35111 đã đi về tiền đồn Trung Quốc trên đá Chữ Thập từ ngày 12 đến 14 tháng 7, có lẽ là để tiếp tế, trước khi quay trở lại vị trí của nó gần Hakuryu-5.

Trung Quốc nâng mức liều lĩnh cao hơn

Ngày 3 tháng 7, Haiyang Dizhi 8 (HV là Hải Dương Địa Chất 8), một tàu khảo sát thuộc của Cơ quan Khảo sát Địa chất Trung Quốc, đã bắt đầu khảo sát một khu vực rộng lớn dưới đáy biển phía đông bắc lô 06-01. Các hoạt động của nó đã được Ryan Ryan Martinson thuộc Trường Đại học Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ và những người khác mạng xã hội theo dõi gần như theo thời gian thực gần đây.

Haiyang Dizhi 8 đang thực hiện một cuộc khảo sát dầu khí trên hai lô, Riji 03 và Riji 27 (gần ứng với các lô 130-132 và 154-156 của PetroVN). Trung Quốc đã tuyên bố hai lô này và bảy lô khác ngoài khơi Việt Nam mở cho đấu thầu nước ngoài vào năm 2012, dù không có ai tham gia. Thời gian khảo sát có thể là trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng có vẻ có nhiều khả năng có ý trừng phạt Việt Nam vì đã cho phép Rosneft khoan trong lô 06-01. Dù là gì, điều đó là quá khiêu khích. Hai lô này nằm gọn trong vòng 200 hải lý của Việt Nam. Cuộc khảo sát đang được tiến hành chỉ cách thể địa lí nổi khi triều cao đang tranh chấp gần nhất là đảo Trường Sa 18 hải lý. Các lô này cũng nằm ngay phía bắc của các nhà giàn DK-1 cô lập và cực kỳ dễ xâm hại mà Việt Nam đóng trên thềm lục địa phía tây nam quần đảo Trường Sa.
Trung Quốc đã bảo đảm rằng tàu khảo sát được bảo vệ tốt. Ít nhất bốn tàu CSB đã hộ tống nó trong cuộc khảo sát. Tàu Haijing 37111 và hai tàu CSB không xác định đã đi cùng với Haiyang Dizhi 8 kể từ ngày 3 tháng 7. Tàu 12 000 tấn Haijing 3901, một trong các tàu chấp pháp lớn nhất thế giới, cũng có mặt tại chỗ nhưng chỉ truyền tín hiệu AIS vào ngày 6 và 10 tháng 7. Ít nhất một tàu dân quân biển được biết đến, Qiong Sansha Yu 00114 (HV: Quỳnh Tam Sa Ngư 00114), cũng tham gia hộ tống, có truyền tín hiệu AIS vào ngày 13 tháng 7.

Việt Nam đã phản ứng việc khảo sát bằng cách phái các tàu chấp pháp theo dõi Haiyang Dizhi 8. Ít nhất hai tàu, KN 468 và KN 472, rời Vịnh Cam Ranh và đã theo dõi tàu khảo sát kể từ ngày 4 tháng 7. Dữ liệu của AIS cho thấy tàu khảo sát tiếp tục hoạt động, được bao quanh với tàu hộ tống CSB tìm cách tống khứ các tàu Việt Nsẽam đang cố can thiệp.
Tình hình tại lô 06-01 lẫn xung quanh cuộc Khảo sát dầu khí đang diễn ra của Trung quốc đều sôi bỏng và nguy hiểm. Với tình trạng so kè sát bên nhau và hành xử khiêu khích đang diễn ra, có nguy cơ rõ rệt một vụ va chạm vô tình có thể dẫn đến leo thang. Đồng thời, áp lực đang được bồi tụ lên cả hai phía để thừa nhận và giải quyết vấn đề này khi có nhiều chi tiết bị rò rĩ thêm ra công chúng. Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân đã đến thăm Trung Quốc từ ngày 8 đến 12 tháng 7, mang lại cho cả Hà Nội và Bắc Kinh một động lực để giữ cuộc khủng hoảng không bị tăng thêm. Nhưng điều đó đang thay đổi, khi Bộ Ngoại giao tại Hà Nội ngày 16 tháng 7 đưa ra câu trả lời đầu tiên, mập mờ thừa nhận cho câu hỏi về tình hình, trong đó nhắc lại quyền chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển và đáy biển và lưu ý rằng chính quyền Việt Nam đang thực thi các quyền đó.
Dù cho những sự cố này phát triển như thế nào, các hành động của Trung Quốc đối với bờ biển Malaysia lẫn Việt Nam từ tháng 5 cho thấy Bắc Kinh ngày càng sẵn sàng sử dụng cách cưỡng ép và đe dọa vũ lực để ngăn chặn các hoạt động dầu khí của các nước láng giềng, trong khi chính họ lại theo đuổi hoạt động thăm dò năng lượng vùng biển tranh chấp.

Tuesday, January 22, 2019

BẰNG CHỨNG CHO THẤY PHÚ LÂM KHÔNG LÀ ĐẢO

BẰNG CHỨNG CHO THẤY PHÚ LÂM KHÔNG LÀ ĐẢO

Nhân Ann Đỗ có share link bài viết “Công trình xây dựng không thể quên trên đảo Vĩnh Hưng” của Nghê Thuỷ Minh trên trang web của Văn phòng địa chí Thượng Hải, xin giới thiệu một số điểm đáng chú ý liên quan tới bài này.

Bài viết chủ yếu để khoe khoang thành tích của tác giả nhưng cũng có một số chi tiết góp phần vào việc chứng minh Phú Lâm (Tàu gọi là Vĩnh Hưng, đảo lớn nhất ở HS) không phài là đảo theo nghĩa đầy đủ của UNCLOS. Tác giả từng là Phó Tổng chỉ huy hậu cần công binh hải quân phụ trách công trình đường băng trên đảo Phú Lâm (1988-91) nên độ tin cậy của những thông tin này khá thuyết phục. Những chi tiết liên quan trong bài như sau:

- “Người được phái tới quần đảo HS khó có thể chịu đựng được độ ẩm lớn, nhiệt độ cao, THIẾU NƯỚC NGỌT, thiếu rau cải, ĂN ĐỒ HỘP quanh năm.”

- “Lợi dụng mặt ĐƯỜNG BĂNG để thu thập NƯỚC MƯA, xây hai hồ chứa ngầm cả vạn mét khối giải quyết vấn đề nước dùng cho chiến sĩ, nhân viên trên đảo Vĩnh Hưng đồng thời kết thúc lịch sử thiếu nước ngọt của đảo Vĩnh Hưng.”

- Trong những thứ xây dựng trên đảo tác giả có kể đến “XƯỞNG SẢN XUẤT NƯỚC NGỌT” (đạm thủy chế tạo xưởng).


Những chi tiết này cũng ăn khớp với những thông tin trên trang bách khoa, một trang web chính thức và có uy tín của Tàu:

- “NƯỚC GIẾNG đào trên đảo bị nhiễm phân chim nên KHÔNG UỐNG ĐƯỢC, chỉ có thể dùng để tắm rửa.”

- “nước dùng sinh hoạt trên đảo Vĩnh Hưng là NƯỚC MƯA ĐÃ QUA XỬ LÍ thành nước uống và nước tắm rửa.”

- “tàu TIẾP TẾ tới đảo Vĩnh Hưng mỗi tháng một lần, khi đó cư dân trên đảo dành ra 2 ngày để phụ giúp việc vận chuyển vật tư lên bờ.”

- “Vào thập niên 1970, lúc công việc mở mang đảo Vĩnh Hưng mới bắt đầu, những người thuộc lớp đầu tiên phải sống trong các nhà vách cây hay giấy dầu, UỐNG NUỚC MƯA chưa qua tinh lọc, ăn rau củ khô, đọc ‘báo tháng’, chưa có radio, TV; điện thoại không thông suốt, phương tiện đi lại giữa Hải Nam và Tây Sa chỉ có thuyền gỗ trọng tải nhỏ, chạy chậm, kém tiện nghi, điều kiện công tác sinh hoạt hết sức khó khăn.”


Bản thân Tiêu Tiệp (Xiao Jie/肖捷), bí thư Tam Sa đã phát biểu năm 2012 như sau: “Ở đây KHÔNG có đất CANH TÁC ĐƯỢC. Mục đích chính của chúng tôi là bảo vể chủ quyền trên biển của đất nước” (xem Geoff A. Dyer, A Line With Nine Dahes).

Rò ràng những chi tiết này cho thấy đảo Phú Lâm tự nó khó thể nào có thể duy trì việc cư trú của con người và có đời sống kinh tế riêng và do đó không thể có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hay thềm lục địa theo UNCLOS. Trong khi chưa có những thông tin khoa học chính thức hơn có thể làm bằng chứng mạnh mẽ trước toà (nếu có) thì những thông tin từ các nguồn có trách nhiệm và có uy tín như thế này cũng có thể có trọng lượng nhất định trước toà và khá thuyết phục đối với đa số công chúng.

Hiện nay Tàu đang kiểm soát toàn bộ quần đảo HS, quan điểm chính thức của họ là không những Phú Lâm mà toàn bộ quần đảo HS [và cả TS] cũng có EEZ và thềm lục địa. Đây có thể là một biện pháp bảo hiểm kép phòng khi họ bị đuối lí/thua kiện về ĐLB. Nhiều học giả thân Tàu như Sam Bateman... cũng phán chắc nịch rằng Phú Lâm là đảo theo UNCLOS. Trong vụ Phi kiện Tàu, một trong những điểm chính là yêu cầu toà phán Ba Bình (đảo lớn nhất ở TS) không phải là đảo theo UNCLOS. Cái lợi, bất lợi của việc Phú Lâm có là đảo hay không xin hẹn sẽ bàn trong stt khác, nhưng có thể nói ngay là trong việc này, theo thiển ý, tôn trọng thực tế và luật pháp quốc tế kể cả UNCLOS là điều nên làm dù có như thế nào, nhất là đối với các nước nhỏ như VN, PLP...

Viết thêm sau phán quyết ngày 12/7/2016 của Toà Trong tài Thường trực (PCA): 
Theo phán quyết của PCA trong vụ PLP kiện Tàu+ thì không có thể địa lí nào ở Trường Sa, kể cả Ba Bình là đảo nổi lớn nhất, là đảo theo nghĩa của UNCLOS. Đối chiếu các lập luận của PCA đối với TS với các bằng chứng bước đầu trên có khả năng cao là PL không thể là đảo, và do đó cũng giống TS tất cả các thể điạ lí khác ở HS nhiểu lắm cũng chi là đảo đá mà thôi.

March 6, 2016

=================================================
2012-08-19:          难忘的永兴岛建设工程 (倪水明)
倪水明

我于1959年12月在奉贤县应征入伍,1961年10月加入中国共产党,在海军部队历任助理员、海军第十二工程建筑副处长、处长、海军西沙工程指挥部大校副主任(副师),1991年9月转业地方,先后任奉贤区人民政府正处级调研员、县人大常委会副主任(党组成员)、奉贤区副巡视员。2007年7月办理退休。
回忆我一生的经历,最难忘的是参加西沙的永兴岛新建机场——码头工程,宏伟壮丽的施工场面,经常会在我脑海中浮现。
党中央、国务院为了保卫南中国海的主权,要求把西沙的永兴岛建成”一艘永不沉没的航空母舰”。就在这样的政治历史背景下,1988年3月11日,我代表海军第十二工程建筑处随同上级有关部门,奉命首次对西沙永兴岛进行勘察和搜(收)集数据,至同年7月中旬,我正式被任命为海军后勤部西沙工程副总指挥,并常驻西沙担任现场指挥,与指战员们一起克服了巨大困难,奋战3年多,胜利建成了永兴岛机场码头工程。
当初刚上岛,任务极其艰巨,难就难在工程量巨大,现场条件实在太差,几乎是一无所有,都要白手起家。例如,建机场的跑道三分之二需要在海中礁盘上筑堤回填解决,建港池需开挖石礁来筑成。岛上的礁石,其沙不能用于建筑,钢材、木材、水泥、碎石、黄沙以及搅拌混凝土和沙浆的淡水,都要从大陆三五百公里外装运而来。施工部队施工舰船以南海为主,海上运输动用了南海、东海、北海相关基地的船只。南海海深浪大,西沙是以台风旅游基地自称,台风登陆非常频繁。3年多来,我与战友们施工,昼夜忙碌在岛上、海上、水上,运输穿梭于广东湛江、海南三亚等地与西沙之间。
西沙群岛上使人最难以忍受的是湿度大,温度高,缺淡水,缺蔬菜,常年靠吃罐头食品。湿度之高竟达92°-99°,人体出汗却难从皮肤中排出,皮肤上像似有一层胶水非常难受,同时湿度高又使衣服晾不干,奇怪的是,白天太阳下衣服不易干,晚上晾衣干得快。中午海滩的气温可高达65度,平时施工现场一般均达49度。在如此高湿度和高温度之下,又无淡水洗澡,致使不少指导员们的皮肤尤其下身都溃烂了。再是工作在西沙工程的海上运输舰和施工船舶上的指战员们,常年要克服晕船的难题。茫茫大海中遇到大浪的日子频繁,指战员们在涌浪中昼夜颠簸,胃肠刺激强烈,呕食物、吐苦水、坐立不稳、无法入眠、体力消耗之大。这种特殊生活是一般人难以想象和忍受的。
在西沙3年多紧张施工的日子里,我的一家四口分居在三岛四地,无法团聚。女儿在崇明岛金融学校读书,儿子在海南陵水海军部队服役,妻子在海南琼山县府城海军军营卫生队工作,我在西沙永兴岛。在此期间,父亲在奉贤病重、病故,我都没有回奉一次,沉痛的心情一直埋在心里。
尽管西沙生活环境艰苦,施工难度大,但指战员们豪情满怀,年年月月日夜奋战,岛上机场、营房、道路和海上港池、码头、防浪堤等工地互相密切配合,你追我赶,整个永兴岛,日夜一派繁忙景象。
在施工过程中,不断克服困难,总结经验,注重巧干,大胆创新,大搞科学实验活动,使整个工程能顺利、优质提前完成任务,并且按原计划节省了几千万元投资,其中基础研究获得国家科学技术进步一等奖。此项任务的圆满完成,离不开广东省、海南省人民政府的领导和大力支持,离不开国家铁运、海运、物资部、财政部和有关科研院、所等部门的支持和帮助。
工程竣工后,机场飞机能升空训练、作战,舰船能进出港执行海上护渔、护航和海战任务。利用机场道面收集雨水,建有两个地下万吨级储水库,解决了永兴岛上指战员的用水问题,同时也结束了永兴岛没有淡水的历史。岛上的”北京路”两旁建有百货商店、粮店、食品店、书店、银行、邮局,岛上还有电厂、淡水制造厂、医院、气象台。军港码头附近的四层大楼是海南省直接管辖的,也是中国最靠南边的县级权力机构,名叫西、南、中沙群岛工作委员会和西、南、中沙群岛办事处,行使对南海的管辖。东沙群岛和南沙的太平岛目前则由台湾管辖。
这艘开不动的”航空母舰”,在356万平方公里的南海海域中成了一个政治、经济、文化、交通、军事活动的中心。这个中心为保卫南海主权和邻海完整,开发建设南海发挥了巨大作用。
党中央、国务院一直关注南海的开发建设,1993年2月,国家有关部委和军委总后勤部组成联合工作组,从北京专程来到西沙,就西沙、南沙供应网点建设问题进行了调研。1993年4月19日,中共中央总书记、国家主席、中央军委主席江泽民乘一架白色波音737飞机来到西沙永兴岛,同机到达的还有国防部长迟浩田等。总书记深入南疆和无限关怀的精神,极大地鼓舞了西沙党政军民,为行使主权、建设和保卫南疆诸岛增强了无穷的力量。来到西沙和南海的,还有大批科学工作者。
我在参与建设永兴岛机场工程对道面基层试验和论证中做了一点贡献,1997年12月获得国家颁发的科技进步一等奖奖章和证书。


(9/5/2020: vừa vào lại link trên bài đã mất, có lẽ thấy bất lợi nên đã rút xuống, rất may lúc trước tôi đã có chụp lại một phần từ màn hình)

Saturday, November 17, 2018

Bến Tre hơn 100 năm trước

TỔNG NIÊN GIÁM ĐÔNG DƯƠNG 1910
(trang 674-682 [614-622])
TỈNH BÊN TRE
 Tỉnh lị: Bến Tre

Bến Tre xưa kia do người Miên sinh sống, họ gọi nó là Sóc Tre (xứ tre) vì có nhiều con giồng được tre, vốn có rải rác khắp nước, che phủ. Về sau, người An Nam thành lập một chợ mà họ gọi là Bến Tre (bến tàu thuyền bằng tre) 𣷷椥. Con rạch có cùng tên chảy ngang qua chợ này và đổ vào sông Hàm Luông.
Tỉnh Bến Tre về phía nam giáp biển, về phía đông giáp sông Ba Lai, về phía tây giáp sông Cổ Chiên, về phía bắc giáp sông Mekong và tỉnh Vĩnh Long. Nó bao gồm hai cù lao: cù lao Mỏ Cày (Minh), nằm giữa Cổ Chiên và Hàm Luông, có phía bắc thuộc Vĩnh Long, và cù lao Bến Tre (Bảo) nằm giữa Hàm Luông và Ba Lai.
Diện tích của tỉnh là 151 006,90 ha trong đó gồm 86 000 ha ruộng lúa; 16 500 ha vườn; 4 000 ha giồng; 4 800 ha dừa nước và 42 706 ha rừng, bụi, đất hoang, v.v.
Tỉnh lị (chef-lieu) của tỉnh Bến Tre nằm cách tỉnh lị Mĩ Tho 15 km, Trà Vinh 35 km và Vĩnh Long 45 km.
Đất đai của tỉnh được tạo thành bởi phù sa của ba nhánh sông Mekong chảy ngang để đổ vào biển Đông và sự đóng góp của cát biển lúc gió mùa Đông Bắc.
Cũng có hiện diện một loạt các vùng đất thấp tạo thành từ bùn tích tụ lại và các giồng cát vốn là cồn cát ven biển xưa. Bờ rạch cao hơn đồng bằng một chút, được bao phủ bởi các vườn cây ăn trái vốn nằm như thế để tránh bị ngập. 
Ba con sông lớn gần như chảy song song ngang qua tỉnh theo hướng bắc nam. Sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông và sông Ba Lai với nhiều con rạch hoặc mương nước nối vào, đem đến sự trù phú, chuyển động và cuộc sống bên trong đất.

SÔNG
Các rạch quan trọng nhất trên cù lao Bến Tre bắt đầu từ phía bắc của cù lao là:
1. Rạch Sóc Sãi.
2. Sông Bến Tre, trên đó có thủ phủ tỉnh, là một trong những sông rạch quan trọng, có chiều dài hơn 20 km và chia thành một số lớn rạch nhỏ. Nó kết thúc tại làng Hương Điểm nằm ở trung tâm của cù lao này.
3. Sông Sơn Đốc.
4. Sông Cái Bông trên đó có một xóm đạo Công giáo.
5. Rạch Ba Tri rạch phục vụ giao thông cho chợ quan trọng nhất phía Nam.
Năm con sông/rạch này chảy vào sông Hàm Luông. Rạch Ba Tri Cá đổ vào sông Ba Lai và chạy song song với sông này phục vụ các làng trên bờ phải sông Ba Lai.

Trên cù lao Mỏ Cày, từ phía bắc đi xuống có:
1. Sông Cái Mơn đi qua vòng vo qua một khu vực vườn cây, trung tâm của một vùng đạo Công giáo rộng lớn và giàu có.
2. Sông Mỏ Cày mà trên đó có thị trấn thanh tra cũ (chef-lieu d’une inspection), đã biến đi sau bốn năm tồn tại và vẫn là một trong những chợ chính của cù lao này.
3. Rạch Cái Quao.
4. Rạch Tân Hương mà khi xưa có dự kiến lập tỉnh lị ở cửa rạch này.
5. Rạch Giồng Luông.
6. Rạch Băng Cung.
Sáu con sông/rạch này; mà rạch cuối cùng chạy song song với sông Hàm Luông đổ vào con sông này.
Cuối cùng, rạch Cái Chắt đổ vào Cổ Chiên cũng chảy theo con sông trong một quảng dài.

KINH
Các kinh trên cù lao Bến Tre là:
1. Kinh Turc: kinh lâu đời nhất trong tỉnh. Kinh này mang tên của viên thanh tra đã cho đào nó vào tháng 5/1873. Kinh rộng 7 mét, sâu 2,8 m, dài khoảng 2,5 km, nối 2 rạch Cái Sơn, phía Ba Lai và rạch Sơn Máu, phía Hàm Luông. Nó cho phép ghe đò tránh không phải đi vòng hết phía bắc của cù lao và tạo điều kiện dễ dàng cho việc giao dịch với Mĩ Tho, vì rạch Cái Sơn nằm đối diện kinh Điều, đã đào xong vào thời điểm đó, kinh này cắt ngang cái cồn đối diện Mĩ Tho.
Tổng chiều dài từ Hàm Luông tới Ba Lai là 6 km. Tốn hết 30.000 franc.
Bị bỏ lơ đi một ít kể từ khi kinh Chẹt Sậy được đào, nó đã trở nên không thể lưu thông được cho ngay cả ghe thuyền nhỏ. Nó được nạo vét sâu 1 mét năm 1898.
2. Kinh Chẹt Sậy: nối trung tâm của Bến Tre với Mĩ Tho, được tạo ra bằng cách dùng rạch Chẹt Sậy, có dòng rạch ngoằn ngoèo, làm cho sông Bến Tre ăn thông với sông Ba Lai. Rạch này vốn rất hẹp, bị cạn trên nhiều đoạn khi nước ròng. Kinh mới, sử dụng các đoạn rộng và thẳng của rạch này, cắt đi các đoạn ngoằn ngoèo và vô dụng cho việc đi lại. Nó mở ra sông Ba Lai, phía dưới cồn Dài, đối diện cồn Phú Túc, cù lao này vốn bị kinh Giao Hoà, dài 800 mét, cắt đi một ít ở phía trên làng nhỏ An Hoá. Khi đi theo tuyến đường này có thể đến Mĩ Tho trong 2 giờ bằng đò máy và 4 đến 5 giờ bằng ghe chèo.
Rạch Chẹt Sậy, nơi kinh bắt đầu, nằm cách Bến Tre khoảng 4 000 mét. Chiều dài của rạch được kinh hóa khoảng 4 km. Kinh rộng 12 mét và sâu 3 mét, được đào vào tháng 2 năm 1878.
3. Kinh Sơn Đốc: kinh này dài 5 km, đi từ làng Hương Điểm đến làng Sơn Đốc nối rạch Sơn Đốc với rạch Bến Tre. Nó được đào vào tháng 5 năm 1885.
4. Kinh khai thông từ Cái Bông về phía Mĩ Chánh. Nó dài khoảng 4 km và được thực hiện cùng một lúc, theo yêu cầu của Nhóm truyền giáo (Mission), để tháo úng cho vùng đất đầm lầy thấp của tổng Bảo Thuận, trong khu vực Ba Mĩ. Nó nối dài rạch Cái Bông ở chỗ khuỷu nhọn của rạch này. Đó là một kinh tiêu đơn giản, rộng 5 hoặc 6 mét.
5. Kinh từ Ba Tri tới Đồng Xuân (nay là Tân Xuân?), được đào năm 1895-1896. Kinh này dài khoảng 12 km, rộng 10m và sâu 2,50 m. Nó bắt đầu từ chợ Ba Tri, ở chỗ ngọn của con rạch cùng tên và kết thúc ở làng Đồng Xuân, ở con rạch nhỏ GiồngTrôm, rạch này đổ vào Ba Lai.
Kinh này có công dụng kép. Nó tiêu nước cho một cánh đồng lầy lớn vốn có thể đưa vào canh tác sau khi đào kinh, bởi các làng Phước Tuy, Phú Ngãi, Bảo Thạnh và Đồng Xuân. Ngoài ra, nó cũng được sử dụng cho việc lưu thông của ghe thuyền muốn đi từ Ba Lai đến Hàm Luông tránh phải đi một đường vòng dài và các khu vực nguy hiểm. Cuối cùng, nó phục vụ giao thông cho trung tâm Ba Tri lớn mà vào mùa thu hoạch việc buôn bán thóc lúa lớn được thực hiện ở đây.

Trên cù lao Mỏ Cày, có các kinh sau đây:
1 Kinh Giồng Sày: bắt đầu từ một trong những chỗ cong của rạch Cái Mơn, vốn rất ngoằn ngoèo và đi đến Cổ Chiên, trong rạch Cái Sơn. Kinh này có kích thước nhỏ, vì rộng không tới 10 mét, cho phép di chuyển từ sông Hàm Luông sang sông Cổ Chiên. Nó đi theo gần như liên tục đường ranh của tỉnh Bến Tre được và tỉnh Vĩnh Long. Nó được đào vào năm 1874, dài 4,6 km.
2. Kinh từ Mỏ Cày đến Cái Quao: đó là một kinh kích thước nhỏ đào năm 1876, rộng không tới 10 mét. Nó bắt đầu từ đầu rạch Cái Quao, rạch này chảy vào Hàm Luông. Kinh dài gần 7 km và phục vụ giao thông nội bộ.
3. Kinh Tân Hương: đây là kinh lâu đời nhất của tỉnh. Nó được thực hiện dưới thời Chính phủ An Nam; ban đầu rộng 10 mét, đã được mở rộng sau những lần nạo vét kế tiếp nhằm làm mất hiện tượng mai rùa (dos d’âne: lưng lừa), và hiện rộng khoàng 20 mét. Công trình này được thực hiện vào tháng 6 năm 1872. Nhiều lần nạo vét được thực hiện từ đó vẫn không thể làm mất đi mai rùa, luôn hình thành lại, dù có lắp đặt hai vòi phun có đường kính một mét tạo một dòng nước chảy ngược lại lúc nước lớn. Nó nối rạch Tân Hương với một rạch khác đổ vào vàm Thom và do đó cho phép đi từ Hàm Luông qua Cổ Chiên. Nó nằm gần như ngay chính giữa cù lao Mỏ Cày.
4. Kinh Bưng Cát: được thiết kế để chỉnh dòng con rạch Bưng Cát vốn rất quanh co. Kinh dài 2,3 km và được đào rộng đến 10 mét vào năm 1898. Hiện nay đây là tuyến đường trực tiếp từ Bến Tre đi Trà Vinh.
5. Cuối cùng là kinh Vĩnh Thành: dài khoảng 1 km, nối các rạch Cái Tắc với sông Cái Mơn. Nó được đào vào tháng 3 năm 1876.
Chúng tôi sẽ không nhấn mạnh về giá trị của các kinh này, tiêu nước cho những vùng đầm lầy mà cho đến nay chưa có người bản xứ ở, hoặc phục vụ như các tuyến đường giao thông nhanh giữa những con sông lớn chảy ngang qua tỉnh. Chỉ cần liếc nhìn vào bản đồ sẽ thấy được tất cả công dụng của chúng.
Số các kinh tiêu nhỏ hoặc khai thông khác, các con rạch được kinh hoá cũng để tạo điều kiện cho việc đi lại dễ dàng hơn ở những chỗ quanh co trên dòng nước, tồn tại ở nhiều nơi khác; được các làng xã tự đào, dù rất hữu ích, nhưng có lợi ích thứ yếu hơn.
Chúng bổ sung đáng kể cho mạng lưới sông rạch của tỉnh.

ĐƯỜNG XÁ
Thêm vào hệ thống các tuyến giao thông đường sông này, sông ngòi, kinh rạch, là mạng lưới các tuyến đường bộ bổ sung vào.
Cách bố trí của tỉnh, việc chia cắt thành hai cù lao lớn, ảnh hưởng thành một hình dạng dài, buộc phải chấp nhận một hệ thống công trình đặc biệt.

Trên mỗi cù lao Bến Tre và Mỏ Cày có một con đường chạy gần như ngay chính giữa dọc theo chiều dài của nó. Từ tuyến đường chính này tẻ ra các tuyến đường phụ nối các làng xã và trung tâm dân cư ở vùng ngoại vi của cù lao qua các hương lộ.

Sau đây là những con đường chính:
Đường thuộc địa số 3, từ Mĩ Tho đi Trà Vinh qua ngã Phước Hữu, Bên Tre, Mỏ Cày, Chợ Thom; dài 30,4 km, rộng 10 mét.
Tỉnh lộ số 1 (tuyến giao thông lớn): từ Bến Tre đi Vĩnh Long qua Tân thành, Sơn Thuận, Sơn An, Tiên Thủy, Phú Quới, Bình Lợi và Tân Thuỷ; dài 23,5 km, rộng 6 mét.
Tỉnh lộ số 2 (tuyến giao thông lớn): từ Bến Tre tới biển qua Chợ Giữa, Lương Mỹ, chợ Mĩ Lồng, Lương Quới, chợ Giồng Trôm, Sơn Đốc, Cái Bông, chợ Ba Tri, Vĩnh Đức Đông, và Tân Hoà; dài 42,7 km, rộng 10 mét.
Tỉnh lộ số 3 (tuyến giao thông lớn): từ Cái Mơn tới biển qua Vĩnh Thành, chợ Ba Vát chợ Giồng Keo, Bưng Cát, Mỏ Cày, chợ Cái Quao, Tân Hương, Đại Điền, Thạnh Phú, An Quy và Giao Thạnh; dài 67,6 km, rộng 8 mét.

Cù lao Bến Tre.
Tỉnh lộ số 4: tuyến đường kiểm tra (tour d’Inspection); dài 12 km, rộng 10 mét.
Tỉnh lộ số 5: từ chợ Giữa tới Chẹt Sậy; dài 6 km, rộng 8 mét.
Tỉnh lộ số 6: từ Giồng Trôm đến Châu Bình dài 6 km, rộng 6. mét.
Tỉnh lộ số 7: từ Giồng Trôm đến Đồng Xuân; dài 17 km, rộng 6 mét.
Tỉnh lộ số 8: từ Đồng Xuân đến Bảo Thạnh, dài 5 km, rộng 6 mét.
Tỉnh lộ số 9: từ vàm Ba Tri tới Đồng Xuân; dài 15 km, rộng 6 m.
Tỉnh lộ số 10: từ Bến Tre đi Sơn Đốc qua Hương Điểm; dài 22 km, rộng 8 mét.
Tỉnh lộ số 11: từ Hương Điểm tới Giồng Trôm; dài 6 km, rộng 6 mét.

Cù lao Mỏ Cày.
Tỉnh lộ số 12: từ Mỏ Cày tới Băng Tra ; dài 12 km, rộng 6 mét.
Tỉnh lộ số 13: từ Ba Vát đến Băng Tra; dài 8 km, rộng 6 mét.
Tỉnh lộ số 14; từ Ba Vát đến Trương Thanh, dài 9 km, rộng 6 mét.
Tỉnh lộ số 15: từ Khánh Thạnh tới An Thới; dài 9 km, rộng 6 mét.

Hương lộ:
Số 1: từ kinh Tân Hương đến Đại Điền qua Tân Khánh, Đông Phú; dài 8,3 km, rộng 6 mét.
Số 2: từ Chợ Thom đến Mỏ Cày quaVĩnh Khánh và và Hội An; dài 6 km, 6 mét.
Số 3: từ Băng Tra đến chợ Thom qua Tích khanh; dài 5,8 km, rộng 6 mét.
Số 4: từ Ba Vát đến Giông Giai qua Tân Thanh Tây, dài 4,2 km, rộng 6 mét.
Số 5: từ Băng Tra tới rạch Cái Tắc; dài 4,8 km, rộng 6 mét.
Số 6: từ sông Sóc Sãi tới Tổng Dương, dài 5 km, rộng 6 mét.
Ba công ti chuyên chở bằng xe đò phục vụ dịch vụ hành khách hai chuyến mỗi ngày giữa Bến Tre và Ba Tri, có các trạm ở Chợ Giữa, Mĩ Lồng, Bàu Sấu (Lương Quới), Giồng Trôm và Cái Bông.
Giao thông với các điểm phụ khác được bảo đảm bằng xe khách và đò công cộng.
Bến Tre được nối với Mĩ Tho bằng hai tuyến đường, tuyến đường bộ dẫn từ Bến Tre tới Rạch Miễu qua Phước Hữu, dài 9,5 km, và tuyến đường sông, trước tiên đi theo kinh Chẹt Sậy, rồi kinh Giao Long - Giao Hoà và dẫn vào sông Mekong; đi bằng đò máy khoảng hai giờ.
Ba lần trong tuần, Thứ Ba, Thứ Năm và Thứ Bảy, sau khi xe lửa từ Sài Gòn đến lúc 9 giờ sáng, một đò Tốc hành (chaloupe des Messageries) rời bến Mĩ Tho và đến Bến Tre khoảng 11 giờ sáng; chuyến về cũng trên đò này rời Bến Tre lúc 1 giờ chiều và về tới Mĩ Tho luôn luôn trước khi chuyến xe lửa tối khởi hành.
Chủ tàu Yenseng bố trí trên tuyến này một đò máycũng chạy mỗi ngày; khởi hành từ Mĩ Tho gần như trùng giờ khởi hành của đò Tốc hành, nhưng giờ từ Bến Tre quay trở lại được cố định lúc 11 giờ rưởi sang, tức là là nửa giờ sau khi đến.
Giá một chuyến trên đò của người Hoa là 0,50$ thay vì 0,40 $ bằng đò Tốc hành.

Hành khách muốn đi từ Mĩ Tho đến Bến Tre có hai cách để đi:
1º đường thuộc địa từ Mĩ Tho đi Bến Tre, khoảng cách vượt qua 15,3 km nhưng phải vượt qua sông Mĩ Tho, rồi sông Ba Lai bằng đò ngang. Đường bộ có lộ trình dài 12,3 km, một chiếc xe hơi công phục vụ hành khách và chuyển thơ vào lúc 7 giờ mỗi sáng.
2º đò Tốc Hành (bateau des Messageries) từ Mĩ Tho vào thứ Ba, Thứ Năm và Chủ Nhật, lúc 9 giờ sáng, và đến Bến Tre khoảng 1 giờ chiều, sau một hành trình khoảng 28 km.

Từ đò Tốc hành bước lên bờ, hành khách sẽ thấy đang ở trên khu chợ, con đường dọc theo bến xinh đẹp, được viền với các cửa tiệm của người Hoa, với một nhà lồng bằng sắt lót gạch nằm gần như ở ngay chính giữa. Nhà việc xã (maison commune) của tỉnh lị, toà nhà lầu tao nhã nằm ở đầu phía bắc, không xa đình thờ thần được xây dựng ở giữa một khu cây cối rộng hai hecta có những cây dầu với ngọn cao gợi nhớ những góc đẹp nhất thấy ở những khu rừng của phương Đông. Một hệ thống các đường phố có quy củ, đại lộ rộng 20 mét có nhiều bóng cây, bảo dưỡng tốt, có vỉa hè và cống rãnh hai bên lề đường, mang lại cho thành phố một dáng vẻ sạch sẽ, duyên dáng và thoải mái, bắt mắt khách lạ. Bến đò bằng xi măng mà dải viền của nó mỗi năm kéo dài thêm và mức phát triển toàn bộ đạt gần một cây số, với các cầu tàu, chợ cá (nhà lồng cá), vv, góp phần bảo đảm thành phố vệ sinh, trong khi cũng cung cấp cho hoạt động buôn bán các tiện nghi lớn nhất cho việc bốc dỡ và nhập hàng hoá xuống ghe đò.
Từ chợ tẻ ra các tuyến đường lớn, đường bộ phục vụ giao thông cho tỉnh:
1° đường Mĩ Tho có nhánh tẻ đi Vĩnh Long; 2° đường từ Bến Tre đi Trà Vinh qua Mĩ Tho; 3º đường từ Bến Tre đi Ba Tri.
Để đi đến Trà Vinh, hành khách có thể, đi theo đường thuộc địa số 3 đi qua Mỏ Cày nhưng phải băng qua hai con sông, hơn nữa trên một phần của cù lao Mỏ Cày đường thuộc địa chỉ tồn tại trong tình trạng lối mòn, bị nhiều con rạch cắt ngang. Tuyến đường thuận tiện nhất là dùng đò Tốc hành, nó trở thành một dịch vụ thường xuyên đi Trà Vinh ba lần một tuần, như là một phần nối dài của tuyến Mĩ Tho, Bến Tre. Thời gian đi mỗi chuyến từ 5 đến 6 giờ.
Cũng có thể đi tới Trà Vinh bằng ghe qua kinh Tân Hương hay Bưng Cát. Nếu cẩn thận tính toán thủy triều thì có thể đến nơi cũng nhanh gần bằng đi tàu đò vốn bị buộc phải đi một đường vòng dài qua Chợ Lách. Đò ghe chỉ chạy được trên kinh Tân Hương khi nước lớn trong các ngày sóc vọng.
Để đi Vĩnh Long, có thể theo tuyến đường Mĩ Tho đến trụ cây số 3, rồi rẽ vào tuyến Vĩnh Long, có thể nói vậy, dẫn đến đến làng Hàm Luông (Long?), đối diện với tỉnh Vĩnh Long. Chiều dài 26 km. Tại cây số thứ 8 đường có một nhánh đi Sơn Hoà và tại cây số thứ 15 có một nhánh khác đi Sóc Sãi. Sơn Hoà, Sóc Sãi là hai chợ lớn, nằm trong các khu vườn ven sông Hàm Luông; buôn bán cá tôm, cau và cơm dừa.
Để đến Ba Tri và biển, phải đi theo con đường chạy ngang phía sau nhà việc xã, đi về phía đông, qua một loạt các cánh đồng lúa, giồng và vườn, vượt qua 5 con kinh/rạch trên những cây cầu sắt, mỗi cầu dài khoảng 30 mét, đảm bảo giao thông cho các chợ Chợ Giữa, Mĩ Lồng, Giồng Trôm, Sơn Đốc và Ba Tri. Khoảng cây số thứ 3, đường phân thành hai nhánh, nhánh chính dẫn tới kinh Chẹt Sậy và nhánh kia tới Ba Lai (6 km). Giồng Trôm, chợ quan trọng trên một con giồng, ở trung tâm những cánh đồng lúa xinh xắn, khoảng cây số thứ 18 đưởng tẻ thành hai nhánh lần nữa, nhánh chính dẫn tới Đồng Xuân (15 km) và nhánh kia về Hương Điểm (6 km), hai chợ rất quan trọng. Ba Tri là chợ gạo nổi tiếng nhất trong tỉnh.
Khoảng cách từ Bến Tre đến Ba Tri là 26 km theo con đường có thể cởi ngựa chạy trong mọi mùa và đi xe ngựa trong mùa khô. Ven lề đường có trồng hai hàng me đẹp mắt. Ở cây số thứ 11, Ba Tri trông giống như một thị trấn nhỏ, với chợ bằng gạch, nhà việc xã 2 tầng, bể nước, lò mổ, tiệm buôn bằng gạch bao quanh khu chợ và nhiều đình chùa. Bốn con đường đẹp, rộng 8 mét tỏa ra từ mỗi cạnh: một đường dẫn đến Đồng Xuân, 12 km; một đường khác tới biển, bãi biển An Thuỷ chỗ mò trai, 6 km; đường thứ ba tới vàm Hàm Luông, 6 km. và cuối cùng là con đường từ Ba Tri đi Bến Tre như đã nêu.
Trên cù lao Mỏ Cày, đường từ Cái Mơn đến biển nối với con đường từ Vĩnh Long đến ranh giới của hai tỉnh. Với chiều dài 67 km, con đường này đi qua các khu vườn xinh xắn trồng dừa, cau, măng cụt, vv... đi ngang qua nhà thờ xứ đạo Cái Mơn, vượt qua nhiều rạch của xứ vườn cây này trên các cầu sắt thanh lịch, trong đó có một cầu dài 112 mét, lúc qua sông, lúc qua vườn, lúc đi ngang giồng. Tuyến đường rất đa dạng, có thể mở một chuyến đi ngựa rất thú vị.
Cách Cái Mơn khoảng 1 km là chợ Ba Vát, thủ phủ huyện Tân Minh xưa (công trình nghệ thuật: nhà lồng bằng sắt, cầu sắt 60 mét); chợ Giổng Keo cách chợ Ba Vát khoảng 4 km, nơi đây buôn bán gạo và các loại trái cây quan trọng. Chợ to, trường học bằng gạch.
Mỏ Cày, thị trấn của sở tham biện (chef-lieu d'inspection) cũ, cách Cái Mơn 18 km; đây là trung tâm mà tất cả các con đường của cù lao tụ về. Chợ, nhà việc, nhiều kiến trúc bằng gạch. Các tòa nhà của thanh tra cũ còn tồn tại được dùng làm phủ đường hoặc huyện đường.
Các mặt hàng buôn bán quan trọng là gạo, trái cây, lụa, chiếu, thuốc lá, bông vải, v.v.
Từ Mỏ Cày, một con đường dẫn đến chợ Thom dài 6 km, Băng Tra 12 km, Cái Quao 7 km, Tân Hương 11 km, Giồng Luông 12 km, Giao Thạnh 41 cây số. Đi thêm 6 km sẽ tới rìa biển, giữa bãi biển cát xinh đẹp kéo dài xa mút mắt. Giao Thạnh là nơi buôn bán quan trọng: củi đốt, tôm, cá, nghêu sò v.v.
Tất cả các trung tâm nói trên đều có chợ sườn sắt hoặc bê tông và bán các mặt hàng giống như Mỏ Cày.

KHÍ HẬU
Khí hậu của tỉnh không khác biệt đáng kể với khí hậu từ các tỉnh miền tây khác. Ven bờ biển, gió không gặp nhiều vật cản dễ cảm nhận hơn. Vào lúc gió đổi mùa, nhiệt độ đôi khi ngột ngạt, nhưng có thể chịu được và thường là khá đều trong thời gian còn lại của năm. Tối thiểu 20º. Tối đa 32º. Sự xuất hiện của các cơn mưa thường trùng với lúc gió mùa Tây Nam thổi trở lại, vào tháng 5 hoặc tháng 6. Các khu đất gần biển ban đầu được thoải mái, rồi bão hoặc gió bất chợt với sấm chớp to kéo tới tiến sâu vào nội địa.
Vào cuối tháng 7, mưa giảm đi để ngừng vào tháng 8, đó là mùa khô ngắn. Rồi mưa bắt đầu lại rơi xuống rất nhiều vào tháng 9, sau đó giảm xuống để dừng lại vào tháng 11. Từ tháng 12, nhiệt độ giảm xuống, mùa khô được lập lại kéo dài cho đến tháng 5 hoặc tháng 6.
Phần phía nam của tỉnh chủ yếu phải hứng các cơn bão. Hàng năm cây cối bị trốc gốc hay gảy cành, nhà bị cuốn đi, ghe thuyền bị phá hư, vở ra, đôi khi bị cuốn ra biển.
Chính do vậy mà vào năm 1898, thật kinh ngạc là một chiếc thuyền chứa 12 người trên sông Hàm Luông bị gió và hải lưu cuốn tới tận vùng lân cận Manila.
Vì dân cư ở nằm rải rác trong các khu vườn hay trên giồng, ngoại trừ 4 hoặc 5 khu dân sống tập trung, nên dịch bệnh ít lây nhiễm hơn. Các công trình xử lý như lập nhà lồng, chỗ mổ thịt, cống rãnh tại các trung tâm chính Bến Tre, Ba Tri, Mỏ Cày, Giồng Trôm, vv..., các công trình tiêu nước tháo nước khỏi nhiều chỗ trũng vốn làm đất đai thành đầm lầy và không thích hợp cho việc trồng trọt, đã góp phần đáng kể cho việc vệ sinh môi trường của khu vực.Tuy nhiên, vào tháng Tư và tháng Năm, thời tiết nóng, có nhiều trái cây mà người An Nam lao vào ăn trái non, nước lợ dâng lên cao với thủy triều, cho đến phía bắc của tỉnh, vẫn là nguyên nhân gây các dịch bệnh thường xuyên, sốt rét, dịch tả, tuy nhiên mức dữ dội của chúng có xu hướng giảm xuống.
Những người lớn tuổi kể rằng trong năm Kỉ dậu (1849) một trận dịch tả đã giết chết khoảng 4/10 dân số. Bệnh đậu mùa cũng cho thính thoảng xuất hiện nhưng tầm tác hại của nó là cũng bị suy yếu từ khi có sự phổ biến của vắc xin.
Còn về các hiện tượng lạ tự nhiên, hang động vv, xứ này chỉ là đồng bằng liên tục nên hoàn toàn không có những thứ này. Hiện tượng lạ duy nhất để nêu lên là một loại sóng cồn xảy ra trên sông Ba Lai lúc gió mùa tây nam. Người An Nam tạo ra một huyền thoại về chủ đề này, họ nói Sóng thần sông Ba Lai là do một một vị thần xưa kia từng sống ở chùa Rạch Xếp, làng Đại Định. Năm 1866, ông dời chỗ ở đến cư trú tại mũi Phước Thiện ở chùa Phước Thạnh, tổng Hoả Quới, tỉnh Mĩ Tho (hiện nay thuộc Châu Thành, Bến Tre - ND). Ông đã xuất hiện trong 6 ngày mồng 1, mồng 2 mồng 3, ngày rằm, 16, 17 mỗi tháng, từ tháng 4 đến tháng 11 ÂL. Ông luôn xuống nước khi nước ròng; thân hình ông đen đúa, và mặc dù không lớn hơn con rái cá nhưng ông mạnh tới mức đẩy lùi được dòng nước; nước bị khuấy động, một cồn nước nổi lên cao đến 2 mét rộng 50 mét chạy ngược tới tận Ba Kè ở rìa cồn Phú Túc rồi biến mất. Bất hạnh cho các ghe thuyền nhỏ không thể đỗ vào bờ đúng lúc nó đi qua, nên thường bị đánh hỏng, lật ngược hoặc đẩy vào bờ.
Người An Nam nói vị thần này không phù hộ ai nhưng cũng không gây điều xấu nào cho những người đi lại trên sông Ba Lai, miễn là họ cẩn thận cứ đi giữa sông. không đi cặp sát bờ mà phải giữ khoảng cách.
Hiện tượng này, giống như tất cả các loại sóng cồn quan sát thấy ở cửa sông, luôn xảy ra lúc nước ròng và vào các ngày sóc vọng, nhưng có điều đặc biệt là lúc gió mùa đông bắc thì nó dừng lại và chỉ xảy ra trong khoảng một phần năm của dòng sông phía gần bờ. Nó chạy ngược gió và ngược nước.

ĐỊA LÍ KINH TẾ
Tỉnh có ruộng lúa, vườn cây và giồng. Trên đồng chỉ trồng lúa bản địa. 
Trong các vườn cây, thường nằm ven bờ hoặc gần nguồn nước, có các loại cây ăn quả như cam, xoài, măng cụt, mít, mãng cầu xiêm, quế, ổi, bưởi, khớm, cũng như dừa, cau và trầu.
Trên vùng đất giồng có trồng cây bông vải, dâu tằm, bắp, khoai, cũng như các loại rau đậu và cải.

Các công trình cải thiện - Khai hoang –Tháo chua
Một số phần của tỉnh có các chỗ trũng, có diện tích khá lớn, nước bị tù đọng trong đó không có chỗ thoát ra. Do vậy, đất không được nước rửa mặn nên giữ lại một lượng rất lớn muối, được gọi là phèn, và không thích hợp cho việc trồng trọt.
Nhiều kinh đã được đào trong một số những khu vực này cho phép nước chảy tháo chua đất và khai hoang đất đai.
Chẳng hạn kinh từ Ba Tri tới Đồng Xuân, kinh Cái Bông, kinh Bình Khương.
Những kinh đó là quan trọng nhất. Có nhiều kinh khác được các làng xã đào theo cùng một mục đích mà tầm quan trọng của chúng chỉ ở mức địa phương.

Cây trồng. - Gỗ theo chế độ rừng
Tỉnh chỉ có ít rừng. Các khu vực rừng nằm ở phía nam hai cù lao Bến Tre và Mỏ Cày, trong các vùng đất bị nước lợ lấn vào, không thể trồng lúa ở đó. Chúng chỉ bao gồm các loại cây có thể được sử dụng làm củi. Các cánh rừng này đã được thiết lập thành khu bảo tồn và được khai thác theo lô mỗi năm để tránh chúng bị những người buôn gỗ chỉ thực hiện việc đốn củi khiến gỗ bi phá hết nhanh chóng.
Trên cù lao Bến Tre, các khu bảo tồn rừng nằm ở làng Bảo Thạnh, tổng Bảo Trị. Ở đó có mấm, su, già, vẹt giá, cóc và bần.

Trên cù lao Mỏ Cày có nhiều khu bảo tồn rừng hơn nằm trên các làng Giao Thạnh, Thạnh Phong và An Nhơn thuộc tổng Mmh Trị. Thấy có các loại cây như mấm, cóc, già, bần, vẹt, đước, v.v.
Các khu bảo tồn rừng của các tổng này bao phủ một diện tích khoảng 3 500 ha.

Trong tỉnh, lùm bụi trải rộng trên diện tích 7 343 ha, và vẫn còn các vùng đất hoang sơ hoặc đầm lầy chiếm gần 30 000 ha.

Loại cây rừng - Cây ăn trái - Việc trồng trọt
Cũng có các loại cây rừng nhưng với số lượng nhỏ như: mù u, có gỗ cứng được trồng khá thường trong các vườn cây dùng để làm cột; giá, dương, dầu, sao, cay-cui, gỗ cứng giống như mù u; bời lời khá hiếm, được sử dụng làm kèo, xuyên,trính và ván; bàn và bàn gai.

Cây ăn quả có: măng cụt, thấy có nhiều ở phía bắc của cù lao Mỏ Cày, cũng thấy có chút ít ở các nơi khác nhưng được trồng với số lượng nhỏ; xoài, ổi, mận, mảng cầu, mít, lựu, táo tàu, hồng, chà là, vải thiều, cam, quýt, chanh, bưởi, đu đủ, khế.
Cuối cùng là chuối đủ loại; dừa, cau.

Thực vật
Ngoài những cây được nêu ở trên, chúng ta có thể vẫn chỉ ra trong hệ thực vật có các cây dôm (fayottier), sả, bạc hà, gòn, tre đủ loại, dâu tằm, xương rồng, hồng có hoa rực rỡ giả và thật, gai dầu, trôm, cao su, lài, dâm bụt, loa kèn, corilopsis (keo?), sứ, súng, v.v.

Gia súc - Các loài - Chăn nuôi
Những gia súc chính là trâu, dùng để cày ruộng; bò, ngựa.
Một số dê và cừu được một số chủ đất giàu có trong tỉnh nuôi.
Hầu như mọi người bản địa đều nuôi heo thuộc giống An Nam và gà vịt.

Thú rừng -  Săn bắn – Chài lưới
Có cọp, heo rừng, khỉ, hươu nhiều loại, rái cá, chồn, chuột cống, chuột xạ, chuột nhắt, chuột đồng, vv
Tất cả các loài chim nước và chim ở bưng, bồ nông, vịt, mòng két, gà nước, bìm bịp, dẽ, diệc, sếu, cò, le le, vv...
Việc đánh cá được thực hiện trên các sông rạch chạy dọc ngang khắp tỉnh, cũng như trong các ao hồ tự nhiên và nhân tạo. Các loài cá tôm đánh bắt được cùng loại như ở các tỉnh khác.
Một số ngư dân đi đánh cá ngoài biển bắt được cá nhám gai, hải cẩu, cá mập và các loài sinh vật biển khác. Cũng bắt được cá chày trên sông vào những lúc nó vào đẻ trứng.

Mỏ và mỏ đá
Không có trong tỉnh.

CÔNG NGHIỆP
4 xưởng cưa, trong tay người Hoa.
Ba tri trên cù lao Bến Tre và Mỏ Cày trên cù lao kia, là hai trung tâm sản xuất tơ lụa.
Các con giồng xung quanh hai trung tâm này trồng dâu tằm bản địa hoặc được nói là của Trung Quốc mà lá dâu được sử dụng để nuôi tằm với số lượng nhỏ trong cư dân.
Tơ sản xuất ra, khá bình thường, một phần được sử dụng tại chỗ làm thành các tấm lụa bán từ 5 đến 7 đồng. Nhưng phần lớn số tơ này được người Hoa mua dưới dạng sợi rồi tập trung về Chợ Lớn.
Người dân làng Bảo Thạnh, ven biển, trên cù lao Bến Tre sinh sống bằng việc đi mò trai lấy ngọc trai bán với người Hoa; những viên ngọc trai này, rất nhỏ, ít lóng lánh và bất thường, không có giá trị nhiều. Chúng được người Hoa sử dụng làm đồ trang sức và làm một vị thuốc trị bệnh trong toa thuốc bản địa.
Hoạt động buôn bán chung của tỉnh là buôn bán lúa gạo, chủ yếu nằm trong tay người Hoa và được thực hiện ở các chợ Bến Tre, Ba Tri, Mỏ Cày, Ba Vát, Thom và Giồng Luông.
Tại Bảo Thạnh và Đông Xuân, hai làng thuộc tổng Bảo Trị và Bảo Thuận, có buôn bán ngọc trai.
Tại Ba Tri và Mỏ Cày, tơ sợi và lụa sản xuất trong các vùng quanh đó được tập trung về hai trung tâm này.

CÔNG CHỨC, THƯƠNG NHÂN, CÔNG NGHIỆP
HÀNH CHÍNH
Daroussin, quản trị viên (administrateur) bậc 3, tỉnh trưởng.
Eudel, phụ tá quản trị viên (administrateur adjoint).
Maureau, quản trị viên bậc 5. dân sự vụ, kế toán.
Bonneau, thư kí (commis) bậc 2,
Nguyễn Trung Thu, đốc phủ sứ Ba Tri.
Bùi Thế Xương, tri phủ bậc 1, phụ trách Mỏ Cày.
Cao Văn Ngưu, tri phủ bậc 2.
Bùi Duy Quân, tri phủ bậc 2.
Phạm Đại Độ, tri huyện bậc 2.

HỘI ĐỒNG THUỘC ĐỊA: Diệp Văn Cương.
HỘI ĐỒNG TỈNH: Lê Văn Phương; Lê Sanh Do; Trần Văn Ngo, Đỗ Ngọc Tôn; Phạm Văn Can; Phạm Duy Ngọc; Đặng Ngọc Lan; Mai Văn Nhiên; Nguyễn Văn Du; Huỳnh Trần Thăng; Trần Văn Ky; Trần Văn An; Nguyễn Hiền Vi; Lư Duy Hinh; Bùi Quan Đại; Nguyễn Văn Hớn; Nguyễn Duy Hưng ; Ngô Văn Cày; Nguyễn Văn Hon; Triệu Văn Huân; Tống Phú Nhan; Lê Quan Hóa,
HẢI QUAN VÀ THUẾ VỤ: Blay, 2 kiểm soát viên (contrôleur) bậc 2; Chardigny, nhân viên (préposé ) bậc 4; Pierlovisi, nhân viên bậc 1; Marcantelli, nhân viên bậc 4; Célicourt, nhân viên bậc 3, trưởng hảng ruợu Thái Xương; Collet, nhân viên bậc 3, trưởng chi nhánh (receveur auxiliaire ) Ba Tri, Pouillac, nhân viên bậc 3, trưởng chi nhánh Mỏ Cày.

GIÁO DỤC CÔNG LẬP: E. Maclec, giám đốc trường tỉnh Bến Tre.
TƯ PHÁP
TOÀ SƠ THẨM : Sasias, Chánh án: Habert, Công tố viên Cộng Hoà, đang nghỉ phép; Breffauf, phó thẩm phán, quyền công tố viên Cộng hòa; E. Persuis, lục sự (thư kí toà); Granier và Casinier, nhân viên lục sự.

NGÂN KHỐ: Cugnol, Chánh thư kí (commis principal) bậc 1, phát ngân viên (préposé-payeur).
BƯU ĐIỆN: Nguyễn Văn Bảy, trưởng trạm (receveur); Khổng Hữu Hiền, điện tín viên (télégraphiste ) tại Mỏ Cày; Nguyễn Văn Chân, điện tín viên tại Ba Tri; Nguyễn Văn Lưu, điện tín viên ở Thạnh phú; Lê Quan Kiên và Võ Văn Chưu, điện tín viên.
CẢNH SÁT: Khổng Hữu Ninh, cảnh sát trưởng bậc 2; Huỳnh Văn Luân và Trần Văn Thanh, đột trưởng bậc 2.
HIẾN BINH (CÔNG AN): Cahioni, hiến binh, quyền ủy viên cảnh sát.
CÔNG CHÁNH: Godard, thư kí bậc 1, lục lộ.
CHĂM SÓC Y TẾ : Bác sĩ Brian, 4 sơ châu Âu.
ĐỊA CHÁNH: Leymarie và Serra, chuyên viên đo đạc (géomètres); Vittori và Frassefo, sinh viên đo đạc.

Thương mại và Công nghiệp
TÍN NGƯỠNG: Danvy, giáo sĩ tông đồ tại Bến Tre
LÒ GẠCH: Trần Tân; lò gạch của phái bộ truyền giáo nước ngoài.
TIỆM GẠO: Lạc Sanh, Đặng Hiệp Hưng Và Nhuận Sanh Xương.
TIỆM GIA VỊ: Nguyễn Văn Nên tự Niên Thanh Kí và Nam Hưng.
TIỆM BÁN SĨ: Quảng Phát Lợi, Lục Châu, Du Kiếm, Diệp Anh, Lý Kiếm, Trương Thái, Diệp Thái, Đặng Xí, Lâm Trân, Huỳnh Chiêu, Trần Thiện, Trần Cẩm, Đặng Châu Cường, Mạch Bình, Lạc Sanh: Tăng Kiều, Trần Thi Nên, Trần Kiết Lâm và Châu Mai.
TIỆM GẠO TRONG TỈNH BẾN TRE : Lục Châu, Trương Thái, Đặng Xí, Tăng Sanh, Lạc Sanh, Hứa Cai, Trần Chương, Sử Ki Quang, Chân May, Huỳnh Đại, Lưu Phi, Hội Hải, Dương Thủy, Dương Thu, Dương Triều, Lê Hoàn, Mạch Bình: Cung Đăng Phương và Trần Kiết Lâm.
TRẠI CÂY: Quảng Dư Long, Kim Thái Hưng, Nam Phước Lợi, Huỳnh Thanh Quang, Cẩm Phương, Quách Lục, Vĩnh Lợi, Quảng Thái Hưng, Du Thái Lợi, Lạc Sanh, Trương Tài, Trần Cư.
TRẠI HÒM: Tư Đê, Nguyễn Văn Nhu, Triệu Văn Ngân, Trần thi Cơ, Trần Văn Giản.
TIỆM THUỐC: Tồn Tế Đường, Hàng Tế Đường, Tồn Tâm Đường, Nhuận Sanh Xương, Cung Đăng Phương.
ĐIỀN CHỦ: Gallois-Montbrun, Gernot, Hamet, Mariani, Giovansili.
TIỆM VẢI: Davandjourpakir, Assonamarikir, Abamadoublé, Mougamadoucadar, Mougamadouseidon.
TIỆM CẦM ĐỒ: Trương Thái.
TIỆM THIẾT: Trần Hương; Tăng Quang; Đinh Tu.
TIỆM GIÀY: Diệp Hương.
KHÁCH SẠN: Lưu Lâm.
TIỆM VÀNG: Nguyễn Vân Mậu.
TIỆM ĐÓNG XE: Mã Bi; Lâm Xuân; Châu Xuân.
NHÀ THẦU: Tăng Kiên.

CÁC KHU VỰC HÀNH CHÍNH

BẾN TRE. Thành phố Bến Tre nằm trên bờ phải rạch Mỹ Lồng, cách chỗ hợp lưu của nó với Hàm Luông khoảng 2 km và cách Sài Gòn 92 km, có một khung cảnh rất thoải mái, nó có những đường phố rộng rất quy củ, một đại lộ rất đẹp ở trung tâm thành phố, một toà Hành chính (toà bố) không thua kém những toà nhà tương tự khác của Đông Dương, một trường học rộng gồm 5 dãy trong đó có 2 dãy lầu, một tòa án sơ thẩm (1re instance), một ngân khố loại 1, một kho hải quan và thuế vụ, một nhà bưu điện, một khu công chánh, một khu địa chính, một nhà sinh với một nữ hộ sinh Pháp, một bệnh viện bản xứ do một bác sĩ và các sơ điều hành, và một nhà việc xã, một ngôi đình xinh đẹp thờ thành hoàng ở giữa một công viên rợp bóng cây, một tòa nhà lớn thông thoáng làm chỗ họp mặt cho hội tương tế giáo chức, bến đò, một bể bê tông cốt thép lớn. v.v.

1. Tổng Bảo An : 6 làng; 3 734 dân có trong sổ bộ, cách tỉnh lị 13,7 km 7.
Gồm các làng An Bình Đông, An Bình Tây, An Lai, An Điền, An Ngãi Trung, Vĩnh Đức Tây.
Ba tri: trên con kinh cùng tên, cách tỉnh lị 31 km, chợ rất quan trọng, buôn bán lụa, bông vải, thuốc lá, tơ tằm rất nổi tiếng. Phủ đường, một kho hải quan, một bưu điện và một trường tổng. Chợ cách biển 7 km.
Chợ Giồng Tre: Chợ rất quan trọng trên rạch Cái Bông.
CHI NHÁNH HẢI QUAN : Nourrison.
TRƯỜNG TỔNG: Trương Văn Ngưu, giáo viên.
BƯU ĐIỆN: Nguyễn Văn Chân, trưởng trạm

2. Tổng Bảo Đức: 6 làng; 1 136 dân có trong sổ bộ, cách tỉnh lị 15 km.
Các làng: Hàm Luông (Long?), Long Hoà, Mĩ Phú, Tân Quy, Tiên Thuỷ, Tiên Thuỷ Tây.
Sóc Sãi (Tiên Thuỷ): trung tâm khá đông dân, hoạt động buôn bán ít quan trọng. Đối diện là cồn Long Hoà, dài 3 km và rộng 1 km. 
TRƯỜNG TỔNG: Võ Văn Pho, giáo viên.

3. Tổng Bảo Hoà: 8 làng; 1 224 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 15 km.
Gồm các làng Bình Lợi, Phú Quới, Phú Thạnh, Phước Đa, Phước Thành, Phước Triệu, Phước Tường, Tân Thủy.
TRƯỜNG TỔNG: Trân văn Ngưu, giáo viên.

4. Tổng Bảo Hựu: 10 làng ; 4 961 dân có trong sổ bộ, cách tỉnh lị 5 km.
Các làng: An Hội: Bình Nguyên, Long Hưng, Long Phú, Long Sơn, Long Thạnh, Mĩ An, Phú Lợi, Phú Nhuận, Phước Mĩ.
An Hội: làng tỉnh lị, nơi sinh của Đốc bộ Báu, quan võ, bắt đầu sự nghiệp từ lính trơn và trở thành tổng đốc, đuổi bọn thảo khấu cướp bóc làng mạc ở các tỉnh miền Trung, đốt cháy nhiều tàu Trung Quốc đến cướp phá bờ biển An Nam.
LÒ GẠCH: Trần Tân.
TRƯỜNG TỈNH: N.....

5. Tổng Bảo Khánh: 7 làng; 1 238 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 20 km.
Các làng: Đại Định, Phong Mĩ, Phong Nẫm, Phú Hữu, Phước Hậu, Phước Hữu, Phước Thạnh.

6. Tổng Bảo Lộc: 11 làng; 3 961 dân có trong sổ bộ, cách Bến tre 10 km.
Các làng: Bình Chánh: Bình Hoà, Bình Khương, Bình Thành, Binh Tiên, Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới, Tân Hào Đông, Tân Thanh Đông, Tân Thanh Trung.
Giồng Trôm (Bình Hoà): kho gạo bán sĩ lẻ khu vực, chợ quan trọng, trung tâm đông dân cư.
Chợ tổng Hay: Chợ do một chánh tổng tên Hay lập và nằm ở trung tâm của một ngôi làng có nhiều cánh đồng lúa. Mua bán gạo và thóc.
TRƯỜNG TỔNG: Lê văn Kiêm, giáo viên.

7. Tổng Bảo Ngãi : 5 làng; 1 241 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 9 km.
Các làng: An Hiệp, Mĩ Thành, Sơn Hoà, Sơn Thuận, Tân Thành Đông.
Cái Nứa (Sơn Hoà): chợ và trung tâm khá đông dân.
TRƯỜNG TỔNG: Võ Văn Pho, giáo viên.

8. Tổng Bảo Phước 7 làng; 2 818 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 20,9 kim.
Gồm các làng An Ngãi Tây, Hưng Lễ, Hưng Nhượng, Hưng Phong, Tân Hào, Tân Hưng, Thạnh Phú Đông.
Hương Điểm (Tân Hào): chợ quan trọng, dân số đông đúc, nhà việc đẹp, ngôi chùa rất nổi tiếng hàng năm tiếp đón hàng ngàn người hành hương đến từ nhiều địa điểm của Nam Kì. Bến đò cho phép đò ghe cập vào ở phía trước chợ vốn nàm ở cuối ngọn rạch Bến Tre. Mua bán gạo, cơm dừa, trái cây.
Chợ Giồng Quéo (An Ngãi Tây): chợ quan trọng, buôn bán gạo.
TRƯỜNG TỔNG Ng. Văn Thưởng, giáo viên

9. Tổng của Bảo Thành 15 làng; 4 156 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 9 km.
Các làng: Lương Hoà, Long Mĩ, Lương Phú, Lương Quới, Lương Thạnh, Lương Thạnh Tây, Mỹ Điền, Nhơn Sơn, Phong Điền, Phú Điền, Phú Long, Phú Thuận, Phú Tự, Tú Điền.
Mĩ Lồng (Mĩ Thạnh): chợ lớn nằm trên bờ phải của sông Bến Tre; có thể đến đó bằng đò và bằng đường bộ, tuyến đường trực tiếp dài 6 km. Có một nhà việc đẹp, một ngôi chùa Hoa. Nó đã từng là chợ nổi tiếng nhất trong tỉnh.
TRƯỜNG TỔNG: Lê văn Sửu, thầy giáo.

10 Tổng Bảo Thuận : 11 làng; 3 415 dân có trong sổ bộ; 32 km từ Bến tre.
Các làng: Đồng Xuân, Hoà Binh, Mĩ Chánh, Mĩ Hoà, Mĩ Nhơn, Mĩ Thành, Phú Ngãi, Phước Tuy, Tân Điền, Tân Thanh và Tân Trang.
Giồng Trôm(?): trên bờ phải của sông Ba Lai, kho trung chuyển mua bán trong khu vực, chợ có nhiều hàng hoá, trung tâm đông dân, chợ cá lớn ở cửa rạch Giồng Trôm.
TRƯỜNG LÀNG: Nguyễn Văn Hưu, giáo viên.

11. Tổng Bảo Trị : 8 làng; 3.493 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 38 km.
Các làng An Hoà Tây, An Thuỷ, Bảo Hoà, Bảo Thạnh, Phú Lễ, Tân Hoà, Vĩnh Đức Đông và Vĩnh Đức Trung.
Chợ Xã Diệu (An Hoà Tây): một chợ khá quan trọng.
Bảo Thạnh: đây là nơi có ngôi mộ của Phan Thanh Giản dưới sự chăm sóc của các cháu trai của vị quan vĩ đại, nhà triết học này mà hành động cao cả của ông được tất cả dân An Nam biết đến.

12. Tổng Minh Giáo: 10 làng; 3.102 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 18 km.
Các làng: An Thạnh, Khánh Thạnh, Phú Hữu, Quới Hưng, Tân Hưng, Tân Nhuận, Tân Quới, Tân Thạnh, Tích Khánh và Vĩnh Khánh.
An Thạnh: trên bờ phải của rạch Băng Cung, trung tâm khá quan trọng.
Băng Tra: cách Bến Tre 5 năm giờ, trung tâm quan trọng, buôn bán gạo và các loại trái cây. Nhà việc ở giữa một nơi rất đông dân.
Chợ Thom (An Thạnh): trên bờ phải Băng cung, chợ đặt rất đúng chỗ, một số đình chùa, cách Mỏ Cày 6 km.

13. Tổng Minh Đạt: 11 làng; 3 487 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 11 km.
Gồm các làng của An Phước, Đa Phước, Đinh Phước, Hiêp Phước, Hội An, Hội Phước, Tân Binh, Tân Hội, Thành Bình, Thanh Hoa và Thanh Thuỷ.
Mỏ Cày: ở bên một con rạch cùng tên, một chợ khá quan trọng, dân số đông đúc, buôn bán gạo, lụa tơ tằm và khăn xếp có giá trị cao, nhà việc thanh lịch, phủ đường, một trường tổng, một nhà kho Hải quan và thuế vụ và một văn phòng Bưu điện.
HẢI QUAN: Biaise, Jules, trưởng trạm.
TRƯỜNG TỔNG: Nguyên Văn Cao, giáo viên.
BƯU ĐIỆN: Khổng Hữu Hiền, trưởng trạm

14. Tổng Minh Hoà: 7 làng; 1 719 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 10 km.
Gồm các làng Hòa Bình, Tân Đức, Tân Lộc, Tân Thiện, Tân Thông, Thanh Xuân, Thanh Sơn

15. Tổng Minh Huệ: 6 làng; 1 959 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 18 km.
Các làng: An Thới, Ngãi Đăng, Phú Trạch, Thới Trạch, Thanh Thiên, Từ Sơn.

16. Tổng Minh Lí: 7 làng; 2 063 dân có trong sổ bộ; cách Bến Tre 13 km.
Gồm các làng Gia Thành, Mĩ Sơn, Phú Hiệp, Phú Hội, Tân Ngãi, Trương Thành, Vĩnh Thành.
Tổng (Minh Lý) được hình thành từ làng Vĩnh Thành, và Phú Hội có biệt danh là công viên của tỉnh; có các loại thực vật và trá cây các loại, hồng xiêm (sabotier), ca cao, cà phê, măng cụt, sơ ri (cerisier), vải, long nhãn, vv... vườn cây ăn quả dài mút mắt. Xứ đạo, nhà thờ xinh đẹp, tượng đài Gothic, tu viện, 170 nữ tu, trại trẻ mồ côi, 250 trẻ em, chỗ trú, trường học. Các ngành công nghiệp chính là sấy trầu và sản xuất tơ lụa có giá trị cao, một lò gạch.
Tổng Minh Lí Là quê hương của linh mục Philipe Phan Văn Minh, bị hành hình ngày 3 tháng 7 năm 1853 và được Giáo Hoàng Léon XIII phong thánh vào năm 1901.
BƯU ĐIỆN: Nguyễn Văn Sang.

17. Tổng Minh Phú: 5 làng, 1.775 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 32 km.
Các làng: Đại Điền; Đông Phú; Quới Điền, Tân Khánh; Thới Thạnh.
Làng Đại Điền: trung tâm khá đông dân, chợ rất lớn, nhiều cửa tiệm người Hoa, nhiều đình chùa, cách Bến Tre ba giờ.
TRƯỜNG TỔNG: Nguyễn Tân Minh, giáo viên.

18. Tổng Minh Quới; 9 làng: 3 877 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 28 km.
Các làng: An Bình, An Định, Hương Mĩ, Phước Thạnh, Tân Hoà, Tân Hương, Tân Tập, Tân Trung, Tập Khánh.
Cái Quao (An Định): cách Bến Tre ba giờ, chợ lớn, mua bán gạo.
Chợ Cầu Móng (Hương Mĩ): được gọi như vậy vì nó gần một cầu có hình cầu vồng (móng).Trung tâm khá đông dân, nhà việc, 3 đình/chùa.
Làng Tân Hương: trung tâm khá quan trọng, ba chùa, nhà việc.
TRƯỜNG TỔNG CÁI QUAO: Trần Văn Qui, giáo viên.

19. Tổng Minh Thiện: 7 làng, 1 435 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 10 km.
Các làng: Nguơn Khánh: Phù Mĩ, Phước Hạnh, Tân Phú Tây, Truug Mĩ, Vĩnh Hoà, Vĩnh Thuận.
Ba Vát (Phước Mĩ Trung): chợ rất quan trọng, trung tâm rất đông dân, vị thế đẹp trên sông, mua bán trái cây.
TRƯỜNG TỔNG: Trần Văn Nhuận, giáo viên.

20. Tổng Minh Thuận: 8 làng, 2 496 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 18 km.
Gồm các làng Bình Thành, Đông An, Đông Thành, Gia Khánh, Hưng Nhơn, Tân Thanh, Tân Thanh Tây, Thanh Trung.
Giồng Keo (Tân Thanh Tây): chợ rất quan trọng, dân số rất đông, nhiều cửa tiệm người Hoa buôn bán gạo.
TRƯỜNG TỔNG: Nguyễn Khắc Minh, giáo viên.

21. Tổng Minh Tri ̣: 7 làng, 3 296 dân có trong sổ bộ, cách Bến Tre 38 km.
Các làng: An Nhơn, An Quy, An Thạnh, An Thuận, Giao Thạnh; Thạnh Phong, Thạnh Phú.
Giồng Miễu (Thạnh Phú): chợ rất quan trọng ở một ngôi làng nằm giữa những cánh đồng lúa rộng lớn. Mua bán lúa lớn.
Chợ Bến Dinh, chợ nhỏ ít quan trọng.
TRƯỜNG TỔNG: Nguyễn Hữu Hạnh, giáo viên.
BƯU ĐIỆN: Ng. Hữu Nghĩa, trưởng trạm.

---------------
(trang 731 [791], phần ghi chép về Mĩ Tho)

22. Tổng Hoà Quới: 24 làng; 6 082 dân có trong sổ bộ, cách Mĩ Tho 25 km.
Các làng: Châu Hưng, Giao Long, Long Phụng, Phú Ngãi, Phú Nhơn, Phú Thạnh, Phú Thuận, Phú Vang, Phước Bình, Phước Hậu, Phước Hoà, Phước Khánh, Phước Thiệu, Phước Thới, Tân Hưng, Thới Lai và Vang Quới.
Giao Hoà: trung tâm quan trọng, trên bờ trái sông Mĩ Tho, ngay cửa kinh có cùng tên mà ven bờ phải có nhiều nhà cửa, 150 cư dân.
An Hoá: nằm ở đầu kia kinh Giao Hòa, dân số thấp.
Trường tổng.
BƯU ĐIỆN: Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Bông.
Rạch Miễu: trung tâm khá đông dân: 400 người; chợ quan trọng; gạo, cau, chuối, dừa, nhà việc, chùa, bến đò.
Các làng Quới Sơn, Nguyệt Thành, An Hoá, Tân Thạch, làm dừa.

23. Tổng Hòa Tính. 11 làng, 3.612 đăng ký, cách Mĩ Tho 24 km.
Các làng: Bình Đại, Định Trung, Lộc Tân, Lộc Thuận, Phú Long, Phước Thuận, Tân Định, Thạnh Lộc, Thọ Phú, Thới Thuận, Thừa Đức.
Những làng này trồng tràm, bông vải và khai thác củi.

Thọ Phú: trên bờ phải của sông Ba lai ở ranh giới cuối cùng của tỉnh gần biển Đông, dân số rất dày đặc, làng chài  cá tôm phong phú.

---------------------------
(xem bản song ngữ)