Sunday, August 23, 2015

Khu vực tranh chấp trong Biển Đông theo Beckman

Khu vực tranh chấp trong Biển Đông theo Beckman


Điều 121 UNCLOS quy định chế độ đảo như sau:
1. Đảo là vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao xung quanh và nằm trên mặt nước khi triều cao.
2. Trừ trường hợp như quy định tại khoản 3, lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền, thềm lục địa của đảo được xác định theo như các quy định của Công ước này áp dụng cho đất liền.
3. [Đảo] đá (rocks) nơi không thể duy trì việc cư trú (sinh sống) của con người hay đời sống kinh tế riêng thì sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
Theo quy định này thì việc nhận ra một thể địa lí là đảo (gồm cả đảo đá) không khó nhưng việc phân biệt giữa đảođảo đá thì rất mù mờ vì yêu cầu về ‘tính ở được’ hoặc ‘đời sống kinh tế riêng’ rất khó thống nhất. Trong lúc soạn thảo Điều 121, nhiều đề xuất đã được đưa và phần lớn trong số đó tập trung vào các tiêu chí liên quan đến kích thước và sự hiện diện của thảm thực vật và / hoặc nguồn nước nhưng không được sự đồng thuận. Sau đó thông lệ / thực hành của các nước cũng như các cơ quan thẩm quyền như toà án quốc tế vẫn chưa đưa ra những tiêu chí giúp làm rõ việc phân biệt này.
Ngoài ra, trong các bên tranh chấp ở Biển Đông chỉ có TQ khẳng định các thể địa lí trong các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, kể cả bãi Scarborough và đảo Pratas có EEZ và thềm lục địa nhưng không xác định đâu là đảo. Họ thậm chí vẽ đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo Hoàng Sa dù TQ không là nước quần đảo. Còn VN và Malaysia, theo hồ sơ nộp cho Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa của LHQ tháng 5/2009, có vẻ có quan điểm rằng các thể địa lí ở quần đảo Trường Sa chỉ là đảo đá. Chưa có bên tranh chấp nào công bố đường cơ sở cho các thể địa lí trong Biển Đông vốn cần để định ra lãnh hải, EEZ hoặc thềm lục đia, nếu có của chúng.
Trong tình hình đó, để có một cái nhìn bước đầu về phạm vi tranh chấp ở Biển Đông (không kể đòi hỏi vô lí toàn bộ phần bên trong đường chữ U mà một số tác giả TQ diễn giải), tác giả Gregory Poling trong bài The South China Sea in Focus: Clarifying the Limits of Maritime Dispute (tháng 7/2013) chỉ dùng điều 121(1) để nhận diện các đảo. Sau đó ông dựa vào những quy định trong UNCLOS cũng như những án lệ đã có để vạch ra EEZ tối đa các các đảo này (sử dụng trung tuyến). Với thực tế là các đảo ở Biển Đông đang có tranh chấp nên các khu vực biển mà các đảo này sinh ra cũng trong tình trạng tranh chấp, trên cơ sở các EEZ vạch được ông đã chỉ ra khu vực biển tối đa có thể có tranh chấp như trong bản đồ sau đây:
Bản đồ của Gregory Poling cho thấy phạm vi tranh chấp tối đa ở Biển Đông so với ‘đường chữ U’
Hai tác giả Robert Beckman và Clive Schofiled trong bài viết Defining EEZ claims from islands: A potential South China Sea change (International Journal of Marine and Coastal Law, 29 (2), 2014, p. 193-243) cũng có cùng cách tiếp cận nhưng nâng thêm một nước nữa. Hai ông dùng thêm hai tiêu chí tối thiểu là kích thước, cùng với sự hiện diện của thảm thực vật để phân biêt đảo với đảo đá.
Căn cứ vào hai tiêu chí vừa nêu và dựa trên các nghiên cứu và bản đồ đã có, hai ông đã chỉ ra có tất cả 28 thể địa lí ở Biển Đông có khả năng là đảo theo nghĩa đầy đủ gòm 15 ở Quần đảo Hoàng Sa, 12 ở Quần đảo Trường Sa cùng với đảo Pratas (TQ gọi là Đông Sa).
Hai tác giả cũng chỉ ra 26 đảo đá gồm 9 ở Quần đảo Hoàng Sa, 16 ở Quần đảo Trường Sa cùng với Bãi Scaborough
Quần đảo Hoàng Sa (hiện hoàn toàn do TQ kiểm soát)

Đảo
Đảo đá
1
Đảo Phú Lâm (Woody Island)
và Đảo Đá (Rocky Islet)
Đá Hải Sâm (Antelope Reef)
2
Đảo Linh Côn (Lincoln Island)
Đá Bông Bay (Bombay Reef),
3
Đảo Tri Tôn (Triton Island)
Đá Lồi (Discovery Reef)
3
Đảo Hoàng Sa (Pattle Island)
Cồn cátTrung (Middle Sand)
5
Đảo Quang Hoà (Duncan Island
Cồn cát Bắc (North Sand)
6
Cồn Cát Tây (West Sand)
Bãi Xà Cừ (Observation Bank)
7
Đảo Quang Ảnh (Money Island)
Hòn Tháp (Pyramid Rock)
8
Đảo Hữu Nhật (Robert Island)
Đảo Ốc Hoa (Quanfu Dao [Đảo Toàn Phú])
9
Đảo Bắc (North Island)
Đá Chim Én (Vuladdore Reef)
10
Đảo Duy Mộng (Drummond Island)

11
Đảo Cây (Tree Island)

12
Đảo Nam (South Island)

13
Đảo Trung (Middle Island)

14
Đảo Bạch Quy (Passuh Keah)

15
Cồn Cát Nam (South Sand).

Tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 10 km² với đảo lớn nhất là Phú Lân có diện tích tự nhiên khoảng 1,5 km².
Quần đảo Trường Sa:

Đảo

Đảo đá

1
Đảo Ba Bình (Itu Aba Island)
T
Đá Loại Ta (Loaita Cay)
u
2
Đảo Thị Tứ (Thitu Island),
P
Đá An Nhơn (Lankiam Cay)
P
3
Đảo Bến Lạc (West York)
P
Đá Hoài Ân (Sandy Cay)
u
4
Song Tử Đông (Northeast Cay)
V
Đá Cô Lin (Collins Reef)
V
5
Song Tử Tây (Southwest Cay)
P
Đá Len Dao (Lansdowne Reef)
V
6
Đảo Trường Sa (Spratly)
V
Bãi Thuyền Chài (Barque Canada Reef)
V
7
Nam Yết (Namyit Island))
V
Đá Công Đo (Commodore Reef)
P
8
Đảo Bình Nguyên (Nansha (n) Island)
P
Đá Louisa (Louisa Reef)
M
9
Đảo Sơn Ca (Sand Cay)
V
Đá Kì Vân (Mariveles Reef)
M
10
Đảo Loại Ta (Loaita Island)
P
Đảo Phan Vinh (Pearson Reef)
V
11
Đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island)
V
Đá Sác Lốt (Royal Charlotte Reef)
M
12
Đảo An Bang (Amboyna Cay)
V
Đá Hoa Lau (Swallow Reef)
M
13


Đảo Trường Sa Đông (Central London Reef)
V
14


Châu Viên (Cuarteron Reef)
C
15


Đá Đông (East London Reef)
V
16


Đá Tây (West London Reef)
V
Các ký hiệu chỉ tên viết tắt của quốc gia đang chiếm đóng: C= Trung Quốc, V= Việt Nam, P=  Philppines, M= Malaysia, T= Đài Loan. X? = (nước X kiểm soát trên thực tế)
Tổng diện tích đất tự nhiên không quá 5 km² với đảo lớn nhất là Ba Bình diên tích khoảng 0,5 km².
(Điều đáng lưu ý từ các danh sách này là trong các thể địa lí do TQ chiếm đóng ở TS, theo nghiên cứu của hai tác giả không có thể địa nào được coi là đảo ngoại trừ Đá Châu Viên chỉ dược coi là đảo đá (chỉ được hường lãnh hải 12 hải lí, không có EEZ và thếm lục địa))
Trên cơ sở đó hai tác giả đã chỉ chỉ ra ảnh hưởng của việc cho các đảo lớn đang tranh chấp được hưởng EEZ trong 3 trường hợp:
- hưởng đầy đủ hiệu lực EEZ về phía biển mở, còn về phía bờ biển các nước thì chỉ vươn tới trung tuyến (dù rằng các án lệ trước nay nói chung chỉ cho các đảo chỉ một phần hiệu lực hoặc thậm chí chỉ ‘khoanh vùng’ các đảo nhưng trung tuyến luôn là điểm khởi đầu trong các vụ phân xử quốc tế).
- hưởng - ½ hiệu lực EEZ (như quần đảo Kerkennah 160 km² của Tunisia, quần đảo Scilly 16 km² của Anh, đảo Cồn Cỏ của VN,…)
- hưởng ¼ hiệu lực EEZ (như quần đảo Malta 316 km², quần đảo San Andrés, Providencia và Santa Catalina của Colombia 53 km² ngoài khơi Nicaragua,  đảo Bạch Long Vĩ của VN…)
Cũng lưu ý rằng theo thông lệ của các toà án quốc tế, các đường phân định trên được tính theo đường cơ sở thông thường chứ không theo đường cơ sở thẳng của các bờ biển đất liền.
Bản đồ thể hiện các điều này như sau:
Trong bản đồ này vị trí các đảo lớn có khả năng tạo ra EEZ cùng lãnh hải 12 nm được vẽ bằng các chấm xanh (dựa theo bản đồ của  I Made Andi Arsana thuộc Khoa Trắc địa và Kĩ thuật Thông tin Địa lí, ĐH Gadjah Mada, Indonesia)


Bản đồ sau đây chỉ là bản đồ trên vẽ lại trên Google Earth với nhiều chi tiết hơn, như có ghi rõ tên các đảo lớn. cho thấy sự ảnh hưởng của đường cơ sở bình thường không sai biệt nhiều với đường cơ sở thẳng trong việc tính EEZ...:
Các đường mãnh:
  • màu xanh có ghi số 1 là trung tuyến theo lí thuyết
  • màu hường nhạt với phân số ½ là đường phân giới theo lí thuyết với các đảo lớn được hường ½ hiệu lực EEZ
  • màu gạch với phân số ¼ là đường phân giới theo lí thuyết với các đảo lớn được hưởng ¼ hiệu lực EEZ
Các đảo với icon màu hường VN đang đóng, màu đò TQ, màu gạch Đài Loan, màu xanh Philippines (trừ Scarborough hiện do TQ kiểm soát trên thực tế)


Đường giới hạn EEZ 200M của VN. Malyasia vẽ theo đường cơ sở thằng (màu sậm hơn) không chệnh lệch nhiều với đường vẽ theo đường cơ sở bình thường (màu nhạt hơn một ít)
Bản đồ sau đây cho thấy phạm vi khu vực tranh chấp theo 3 mức độ của đường phân giới lí thuyết đã nêu so với ‘đường chữ U’:
Khu vực tô xanh ứng với trung tuyến, 2 khu xanh nhạt hơn bên trong ứng với ½ hiệu lực EEZ cho các đảo và 3 khu với bên trong với biên màu gạch ứng với ¼ hiệu lực EEZ cho các đảo.
Do hai tiêu chí kích thước lớn và có cây cỏ chắc chắn khó thoả mản yêu cầu ‘duy trì việc sinh sống của con người và có đời sống kinh tế riêng’ nên ngay cả trường hợp cho các đảo lớn ¼ hiệu lực EEZ vẫn phải xem đó như khu vực tối đa có khả năng tranh chấp (nếu toà chấp nhận một số trong số thể địa lí nêu trên là đảo thì có xác suất cao toà theo trường hợp này khi được yêu cầu phân xử). Nếu trong vụ Philippines kiên TQ đang diễn ra, Toà Trọng Tài làm rõ được yêu cầu tối thiểu của điều đó là gì thì chúng ta sẽ có cơ sở để vạch ra khu vực có khả năng tranh chấp chính xác hơn và chắc chắn có diện tích nhỏ hơn.
Dù sao thì bản đồ này vẫn là một căn cứ tốt để tham khảo tốt giúp các bên đấu tranh với TQ và thương lượng với nhau hoặc khi hợp tác làm ăn với các đối tác nước ngoài, giúp đỡ ngư dân... ở Biển Đông. Chẳng hạn, bản đồ sau đây cho thấy hầu như toàn bộ các lô dầu của VN nằm ngoài 3 khu vực hiệu lực ¼ , chỉ có 3 lô 141-143 là có chồng lấn một phần nhỏ với khu vực hiệu lực  ½ ở vùng Hoàng Sa (chủ yếu do coi Tri Tôn là đảo thay vì đảo đá)..

DisputeAreaMaxPetro.JPG
Gần như toàn bộ các lô dầu khí của VN đều ngằm ngoài khu vực tranh chấp 'hiệu lực 1/4'

Monday, August 17, 2015

Bill Hayton - BIỂN ĐÔNG (Lời bạt)

Lời bạt
(Epilogue)


Tháng 3 năm 2014, ngay sau khi chiếc MH370 của hảng máy bay Maysia mất tích, tàu từ Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Singapore, Indonesia, Thái Lan và Hoa Kì đã lùng sục nhiều khu vực của Biển Đông để tìm kiếm những người sống sót. Đó là một ví dụ chưa từng có về hợp tác trên biển. Tuy nhiên, nếu như địa điểm được cho là nơi xảy ra tai nạn nằm xa về phía Nam và phía Đông thì thế giới có thể đã được chứng kiến lập luận quốc tế khó nghe khi Trung Quốc nằng nặc cho rằng họ phải lãnh đạo bất cứ công cuộc tìm kiếm cứu nạn nào trong ‘đường chữ U’ và các nước khác không chịu hợp tác vì sợ hợp pháp hóa yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Thay vào đó, trong phần của Biển Đông mà các yêu sách lãnh thổ phần lớn đã được giải quyết, tất cả các bên đã làm việc hài hòa với nhau.


Những người lạc quan có thể hi vọng rằng màn diễn này có thể dẫn đến một kỉ nguyên mới cùng sống chung ở Biển Đông: một vòng đạo lí về phát triển tin cậy và xây dựng lòng tin. Hợp tác thực tế luôn luôn được chào đón và chắc chắn sẽ là một bước đi đúng hướng nhưng chừng nào mà các tranh chấp tiềm ẩn vẫn chưa được giải quyết thì vấn đề lãnh thổ vẫn sẽ tiếp tục đe dọa hòa bình. Tuy nhiên, trong vòng hai tháng sau khi MH370 mất tích, sự hợp tác đã biến thành xung đột khi Việt Nam phản kháng việc Trung Quốc cố tìm cách khoan dầu ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa. Cả khu vực dường như lại hướng tới sự đối đầu đầy thảm họa tiềm tàng. Mối đe doạ xuất phát từ khả năng rằng một bên tranh chấp có thể sử dụng vũ lực để đuổi bên khác ra khỏi một số đảo san hô xa xôi lẫn từ những rủi ro mà việc xô đẩy chiến lược giữa Trung Quốc và Hoa Kì có thể tạo ra đủ ma sát để làm bùng lên một đám lửa không mong đợi. Hậu quả của cuộc xung đột lớn trong một miền sẽ nhanh chóng lan sang miền khác và biến vòng đạo lí thành vòng luẩn quẩn.


Nếu như không có đảo nào ở Biển Đông thì sẽ không có vấn đề. Sẽ không có đất để chiếm, không có ý thức rằng vùng đất này thuộc về ai, không có cơ sở để dựa vào đó mà đòi hỏi những khu vực rộng lớn của Biển Đông, không có các phương tiện có tiền năng ngăn chặn tuyến đường biển quốc tế quan trọng hoặc châm ngòi cho một cuộc tranh chấp về việc tiếp cận chiến lược. Nhưng những đóm đất đá rãi rác này mà từ đó các lập luận lịch sử và khu vực biển hiện đại tuôn ra, tạo thành sàn diễn cho một cuộc đua tranh quốc tế ráo riết, trong đó địa vị (status) của một nước, hay đúng hơn là của các tầng lớp điều hành nước đó sẽ được đánh giá, ở nước ngoài, nhưng quan trọng hơn là ở trong nước, qua cách họ diễn trò. Chúng ta đã bước vào một thế giới trong đó tâm lí và nhận thức vượt lên trên bất kì các tính toán vật chất về những lợi ích và chi phí thực tế của việc sở hữu những thể địa lí này.


Một số nhà quan sát coi yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông chỉ đơn giản là trò bịp khổng lồ trong một trò chơi poker chiến lược vốn đã cho phép Bắc Kinh có được một chỗ ngồi trong bàn và gây ấn tượng với người xem. Tôi tin rằng vấn đề còn sâu hơn thế. Từ trường tiểu học đến bộ chính trị, ‘đường chữ U’ đã biến thành một tôn giáo thế tục. Huyền thoại này, với nguồn gốc trong thời kì chuyển đổi rối rắm của Trung Quốc từ đế chế sang cộng hòa, sẽ rất khó xua tan. Trong khi số phận của các mỏm đá xa xôi có thể là cái nền hoàn hảo cho các lãnh đạo khi cần để đánh lạc hướng các vấn đề trong nước, các chính phủ càng cao giọng thì càng khó leo xuống và đạt được một giải pháp. ‘Đường chữ U’ sẽ tiếp tục gây độc hại các quan hệ ở Đông Nam Á. Việc vẽ bản đồ chính trị hoá của nhà bản đồ dân tộc trong thế kỉ qua đã trở thành một mối đe dọa cho các cơ hội của một thế kỉ mới của Châu Á mang lại sự thịnh vượng tăng lên cho hàng tỉ người.


Rõ ràng là có một số người trong giới lãnh đạo Trung Quốc muốn thay đổi các điều kiện tranh chấp và đạt được một thích ứng dựa trên các nguyên tắc của UNCLOS. Nhưng có những vận động hành lang mạnh mẽ hơn mà, vì lí do uy tín hoặc lợi lộc, nằng nặc vào yêu sách tối đa. Những nhóm lợi ích trong nước, đặc biệt là quân đội, công ti dầu khí và một số tỉnh ven biển, theo đuổi các hành động vốn gây ra những mối đe dọa đối với thực phẩm, năng lượng và an ninh chính trị của Đông Nam Á. Những hành động này đe dọa sự tin cậy của chính sách Bắc Kinh tư nhận về ‘trỗi dậy hòa bình’ nhưng các lãnh đạo trung ương dường như không muốn kiềm chế cấp dưới của họ. Hiện tại, tính hợp pháp về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản phụ thuộc nhiều hơn vào sự chấp thuận của các vận động hành lang hơn về sự tán thành của thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, việc vận động hành lang càng dẫn chính sách của Trung Quốc đi chệch đường thì nhận thức của các nước láng giềng của Trung Quốc về mối đe dọa Trung Quốc càng mạnh hơn và mong muốn  thực hiện các bước đối trọng càng lớn hơn- dù là thông qua xây dựng quân đội tại chỗ hoặc liên kết chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ hoặc cả hai. Lợi ích chiến lược tổng thể của Trung Quốc đang bị hủy hoại bởi các diễn viên cấp dưới trong chế độ Đảng-nhà nước của họ.


Tuy nhiên, mọi việc có thể đều tốt đẹp: Trung Quốc có thể trỗi dậy một cách hòa bình, Đông Nam Á có thể nhìn về phía Đông Bắc mà không sợ hãi, còn Mĩ và Trung Quốc có thể đạt được sự thích nghi về truy cập trên biển – nhưng chỉ khi Trung Quốc có thể từ bỏ chủ quyền đối với toàn bộ ‘đường chữ U’. Tuy nhiên, nếu quân đội Trung Quốc bắt đầu tin vào sự tuyên truyền của chính họ và cố thực thi yêu sách lãnh thổ bên trong ‘đường chữ U’ thì kết quả sẽ là một cuộc đối đầu trực diện với Mĩ. Hiện giờ, với sức mạnh còn tương đối của họ, điều đó là rất khó xảy ra. Nhưng sẽ được bao lâu cho đến khi các lãnh đạo quân sự Trung Quốc bắt đầu nghĩ rằng họ có thể thắng thế? Vì lợi ích của hòa bình thế giới, các tranh chấp ở Biển Đông cần phải được giải quyết trước lúc đó.


Trung Quốc là một diễn viên tương đối mới trên trường quốc tế. Trong nhiều thập kỉ họ đã chọn cách cô lập đối với việc tham gia, và chính sách đối ngoại của họ thường là phần nối dài của cuộc đấu đá quyền lực trong nước hơn là kết quả của một quan niệm thống nhất về thế giới bên ngoài. Điều đó đã thay đổi dưới thời Đặng Tiểu Bình và, trước sự ngạc nhiên của nhiều người hoài nghi, từ những năm 1980 lãnh đạo Trung Quốc đã theo đuổi hội nhập với thế giới rộng lớn hơn trên các điều kiện mà họ đã từng coi là của đế quốc hay, ít nhất, là của tư sản. Trung Quốc vẫn đang học cách để đóng vai trò mới này và Biển Đông là nơi mà họ phải đưa ra một số quyết định khó khăn về tầm quan trọng tương đối của các ưu tiên trong nước và quốc tế. Điều chỉnh cảm giác của mình về quyền được hưởng phù hợp với các chuẩn mực hiện đại sẽ không dễ dàng.


Tôi bắt đầu viết cuốn sách này bởi vì tôi, giống như nhiều người khác, tin rằng một số loại xung đột trong hoặc quanh Biển Đông là sắp xảy ra. Trong giai đoạn cuối cùng của nghiên cứu của tôi, tôi đã thay đổi ý kiến. Tôi đã bị thuyết phục rằng các lãnh đạo Trung Quốc hiểu rằng họ chỉ có thể thua trong một cuộc chiến tranh dù họ xem tất cả mọi thứ chưa tới mức làm nổ ra chiến tranh (short of war) như một công cụ chính sách hữu ích. Tôi mong rằng, lúc này lúc khác trong những thập kỷ tới, cuộc đối đầu ở mức độ thấp sẽ leo thang thành các giai đoạn khủng hoảng ngoại giao và quân sự và thậm chí đối đầu siêu cường. Trong quá trình nghiên cứu của tôi, tôi đã thấy một thế giới mới đang được nung đúc quanh Biển Đông. Trung Quốc đang nổi lên, Hoa Kỳ đang tiết giảm và Đông Nam Á đang được điều chỉnh theo những thực tế mới. Hàng loạt sự tương tự đã được huy động để mô tả thế giới mới này. Đặc biệt, đã có nhiều thảo luận về Địa Trung Hải xưa và sự đối đầu không thể tránh khỏi giữa Sparta đang suy tàn và một Athens đang trỗi dậy, tương tự thế giới mới của Biển Đông.


Tuy nhiên, không có gì là không thể tránh khỏi về giai đoạn tiếp theo trong lịch sử của Biển Đông. Đối với tất cả các khoác lác - ở cả hai bờ Thái Bình Dương - về khả năng ngày càng lớn của Trung Quốc , một phân tích thực nghiệm lạnh lùng về những thế mạnh tương đối của quân đội hai nước, và xã hội đằng sau họ, cho thấy Hoa Kì là sức mạnh ưu thế trong tương lai gần. Thay vào đó tôi đưa một tương tự Địa Trung Hải thay thế: một tương tự cho ra một triển vọng phong phú hơn. Đó là một biển nửa kín với một lịch sử chung và hiện tại kết nối mà cái toàn bộ của nó là lớn hơn tổng của các bộ phận của nó. Đó sẽ là một biển với ranh giới thoả thuận dựa trên những nguyên tắc phổ quát và được cai quản bởi trách nhiệm chung để sử dụng các nguồn tài nguyên một cách khôn ngoan nhất, một biển mà trữ lượng cá được quản lý chung vì lợi ích của tất cả, nơi mà các tác động thăm dò dầu và vận tải biển quốc tế được giảm bớt và nơi mà các hoạt động tìm kiếm cứu nạn có thể xảy ra không bị cản trở. Điều đó có thể xảy ra - nếu một đường được vẽ lại.

-o-o-o-O-o-o-o-


Lời cảm ơn và Gợi ý Đọc thêm
Acknowledgements and Further Reading

SÁCH NÀY cố gắng mô tả các sự kiện trong một số quốc gia, xuyên qua hàng ngàn cây số vuông lãnh thổ và qua 500 năm lịch sử. Ở nhiều chỗ, tôi chỉ có thể đưa ra các phác thảo ngắn ngủi về các sự kiện và tôi biết ơn sâu đậm tất cả các học giả, các nhà nghiên cứu và các nhà phân tích vốn rành rẽ các chủ đề này tốt hơn rất nhiều và đã có ý hoặc vô tình trợ giúp công việc của tôi. Nhiều người trong số các chuyên gia tôi đã tham khảo ý kiến được nêu tên trong cuốn sách; tuy nhiên, tôi thấy cần phải nhìn nhận công việc của họ đúng cách và đưa ra một số hướng dẫn cho các bạn đọc muốn có một sự quan tâm sâu hơn về lịch sử và hiện tại của Biển Đông.
Những ai quan tâm tới giai đoạn tiền sử của vùng Biển Đông nên tham khảo các công trình của Atholl Anderson; Peter Bellwood (đáng chú ý là cuốn sách năm 2004 mà ông đã hiệu đính với Ian Glover,Southeast Asia: From Prehistory to History [Đôngg Nam Á: Từ tiền sử đến Lịch sử], RoutledgeCurzon); và Wilhelm Solheim (đặc biệt là cuốn Archaeology and Culture in Southeast Asia: Unraveling the Nusanta  [Khảo cổ học và văn hóa ở Đông Nam Á: lần theo manh mối người Nusantao], Đại học Philippines Press, 2006). Đối với những giai đoạn lịch sử về sau Kenneth Hall (đặc biệt là A History of Early Southeast Asia: Maritime Trade and Societal Development, 100-1500 [Lịch sử Đông Nam Á xa xưa: Giao thương biển và phát triển xã hội, 100-1500], Rowman Littlefield, 2011) và nhiều bài viết của Derek Hong, Pierre-Yves Manguin, Roderich Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, NicholasTarling và Geoff Wade sẽ là vô giá. Các tổng quan tốt nhất về lịch sử Biển Đông vẫn là The Nanhai Trade: The Early History of Chinese Trade in the South China Sea [Giao thương Nam Hải: Lịch sử xa xưa của Giao thương Trung Quốc ở Biển Đông] của Wang Gungwu, xuất bản lần đầu vào năm 1958 nhưng được tái bản nhiều lần kể từ đó; trong số tác phẩm gần đây của ông về khu vực này có nhiều tác phẩm cũng có tính khai sáng. Những cuốn sách của Anthony Reid (đáng chú ý là hai tập Southeast Asia in the Age of Commerce 1450-1680 [Đông Nam Á trong thời đại thương mại 1450-1680], Yale University Press, 1988 và 1995, và Imperial Alchemy: Nationalism and Political Identity in Southeast Asia [Thuật giả kim đế chế: Chủ nghĩa dân tộc và bản sắc chính trị ỏ Đông Nam Á], Cambridge University Press, 2009) là hướng dẫn lớn lao và là bạn đồng hành.
Lịch sử của Hugo Grotius và Công ti Đông Ấn Hà Lan được viết lại bởi Julia van Ittersum (xem cuốn Profit and Principle: Hugo Grotius, Natural Rights Theories and the Rise of Dutch Power in the East Indies, 1595-1615 [Lợi nhuận và nguyên tắc: Hugo Grotius, Lí thuyết quyền tự nhiên và sự trỗi dậy của thế lực Hà Lan ở Đông Ấn, 1595-1615], Brill Academic Publishers, 2006) và Peter Borschberg (Hugo Grotius, người Bồ Đào Nha, và tự do thương mại trong East Indies, NUS Press, 2011). Robert Batchelor và Timothy Brook đã triệt để khám phá lịch sử và bối cảnh của bản đồ Selden: Batchelor in London, the Selden Map and the Making of a Global City, 1549-1689 [ Batchelor ở London: bản đồ Selden và việc hình thành một thành phố toàn cầu, 1549-1689] (University of Chicago Press, 2014) và Brook Mr Selden’s Map of China: The Spice Trade, a Lost Chart and the South China Sea [Bản đồ Trung Quốc của Ông Selden: Giao thương gia vị, một hải đồ bị mất và Biển Đông] (Profile Books, 2014). Về lịch sử Biển Đông thế kỉ XX, tôi thấy các tác phẩm của FrançoisXavier Bonnet, Ulises Granados, Zou Keyuan và Stein Tønnesson là vô giá.
Về các sự kiện đương đại, các bài viết của Aileen Baviera, David Brown, John W. Garver, Christian Le Mière, Li Mingjiang, Clive Schofield, Ian Storey, Carl Thayer và Mark Valencia là thiết yếu. Về những vấn đề pháp lí tôi đã dựa rất nhiều vào công trình của Robert Beckman và Greg Austin. Chương 6 có vay mượn nhiều ý tưởng của Benedict Anderson (Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism [Cộng đồng tưởng tượng: Những suy tư về nguồn gốc và sự lan rộng của chủ nghĩa dân tộc], Verso, 1991), William Callahan (đặc biệt là China: The Pessoptimist Nation [Trung Quốc: Quốc gia bi lạc quan], Oxford University Press, 2012), Andrew Chubb, Caroline Hau, Kuik Cheng Chwee, Tuong và Brantly Womack (China and Vietnam: The Politics of Asymmetry [Trung Quốc và Việt Nam: Chính trị về bất đối xứng], Cambridge University Press, 2006). Các trao đổi với Patricio Abinales, Ari Dy và Benedict Kerkvliet đã giúp tôi có được những suy nghĩ về chủ nghĩa dân tộc Philippines có trật tự.
Về mặt thực tiễn trong nghiên cứu của tôi, tôi rất muốn cảm ơn rất nhiều những người đã tạo điều kiện đi lại và nghiên cứu và phát triển suy nghĩ của tôi qua những hiểu biết sâu xa có giá trị của họ. Ở Trung Quốc, Tiến sĩ Wu Shicun, Tiến sĩ Hong Nong, Tiến sĩ Kang Lin và các thành viên khác của đội ngũ nhân viên tại Viện Nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc vô cùng hiếu khách và cởi mở. Tại Bắc Kinh, Yanmen Xie và Daniel Pinkston của Nhóm Khủng hoảng Quốc tế, Andrew Chubb và các học giả tại Bắc Kinh và Đại Học Thanh Hoa không muốn được nêu tên rất hào phóng về thời gian và sự tinh thông của họ.
Tại Philippines tôi cũng đã được Consuelo Garcia và Colin Steley chăm sóc tận tình. Alma Anonas-Carpio giúp đỡ lớn lao trong sửa chữa và dịch thuật. Victor Paz, Lace Thornberg và các cán bộ của Khoa Khảo cổ học của Đại học Philippines đã mở các cánh cửa của thời tiền sử cho tôi. Tôi rất biết ơn sự giúp đỡ và những hiểu biết sâu sắc của Rommel Banlaoi, Renato Cruz de Castro và Myrna Velasco tuyệt vời của Manila Bulletin
Nhiều người tại Đại học Quốc gia Singapore cung cấp cái nhìn sâu sắc và chuyên môn, trong đó có Giáo sư Wang Gungwu tại Viện Đông Á, Hooman Peimani tại Viện Nghiên cứu Năng lượng và đội ngũ nhân viên tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, đặc biệt là Ian Storey, Rodolfo Severino và John Miksic. Ở những nơi khác ở Singapore, tôi đã có các cuộc thảo luận thú vị và quý giá với Yen Ling Song thuộc Platts Energy, Pamelia Lee, Tsutomu Hidaka của NYK, Bryan Ma tại IDC, Tony Regan tại TriZen và Mark Harris cùng các thành viên khác và nhân viên của SEAPEX. Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược cho phép tôi tham dự cuộc họp Đối thoại Shangri-La ở Singapore và Đô đốc Kazumine Akimoto vui vẻ cho tôi dự một hội nghị chuyên gia do Quỹ Nghiên cứu chính sách biển của Nhật Bản tổ chức ở đó.
Bộ Công an Việt Nam từ chối câp visa cho tôi (họ không tha thứ tôi vì cuốn sách tôi viết trước đây về Việt Nam) nhưng các thành viên của nhóm nghiên cứu Việt Nam đã cho tôi sự giúp đỡ quý báu. Tôi đặc biệt cảm ơn Balazs Szalontai, Shawn McHale, Alex Vuving và Brett Reilly. Nga Phạm, Ngọc Nguyễn và các thành viên khác của Ban Tiếng Việt của BBC cũng rất giúp đỡ.
Tại Thái Lan, Ake Tangsupvattana và Đại uý Wachiraporn Wongnakornsawang của Đại học Chulalongkorn rất hào phòng về thời gian và ý tưởng. Trung úy Evan Almaas và các thành viên khác của nhóm nghiên cứu vấn đề công cộng của Thủy quân lục chiến Hoa Kì tạo điều kiện giúp đỡ tôi tham dự cuộc tập trận Cobra Gold.
Những người khác có những đóng góp quan trọng bao gồm Ramir Cloma, cháu trai của Đô đốc Tomas Cloma; gia đình của Gerald Kosh; Vlado Vivoda của Đại học Griffith tại Úc; Wendell Minnick Defense Newsg; Shane Worrell của Phnom Penh Post; Dương Danh Huy; Kerry Brown; và Nora Luttmer. Tại Anh, Zhang Xiaoyang giúp tôi việc dịch tiếng Trung và Pinnhueih Lee ở Đài Loan, người mở kho lưu trữ báo chí của Trung Hoa Dân Quốc cho tôi cũng làm việc đó. Cảm ơn tất cả.
Tôi thích thú những trao đổi email tuyệt vời với cựu Giám đốc Bảo tàng Biển Hồng Kông, Stephen Davies, và với FrançoisXavier Bonnet của IRASEC (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á đương đại), nhà ngoại giao đã hưu Mĩ David Brown và Carl Thayer của Học viện Lực lượng Quốc phòng Úc. Ba ông cùng Ian Storey và Stein Tønnesson đã xem lạit bản thảo của tôi và làm phong phú nó với nhiều ý kiến. Tôi chân thành cảm ơn họ. Người biên tập đáng mến và kiên nhẫn của tôi tại Yale University Press, Heather McCallum, giúp tôi giữ được tập trung và, tôi hi vọng, dễ đọc; rất biết ơn cô.
Vợ tôi, Pamela Cox, và con chúng tôi, Tess và Patrick, không phiền trách việc vắng nhà dài ngày của tôi và nhiều chồng giấy lớn xung quanh nhà với lòng ưu ái và sự thông hiểu. Tình yêu sâu đậm nhất của tôi dành cho họ.

========================
Chương 7: Ngoại giao

Bill Hayton - BIỂN ĐÔNG (Lời mở đầu)

Bản đồ

(Ba bản đồ đầu do người dịch vẽ lại trên Google Earth dựa theo ba bản đồ trong bản gốc Tiếng Anh, các thông tin chính thức của các bên liên quan và bản đồ trung tuyến của marineregions.org)



SCSBillHayton.JPG

Bản đồ Biển Đông thể hiện các yêu sách của các bên (ĐLB của TQ, lục giác của Philippines, hình gần như chữ nhật của Brunei, các đường 200nm của Việt Nam, Malaysia, Philippines, đường 350nm của Việt Nam) và một số biên giới biển đã thoả thuận (ở Vịnh Bắc Bộ và phần phía Nam của Biển Đông) cùng các trung tuyến với giả định các bên đều có cùng hiệu lực (đường xanh nhạt, nhỏ nét)




ParacelsBillHayton.JPG
Bản đồ quần đảo Hoàng Sa vẽ từ Google Earth cho thấy 2 nhóm đảo An Vĩnh (với vị trí một số đảo thể hiện bằng màu xanh nhạt) và nhóm Trăng Khuyết hay Lưỡi Liềm (với vị trí một số đảo thể hiện bằng màu đỏ gạch)
SpratlysBillHayton.JPG
Bản đồ quẩn đảo Trường Sa vẽ từ Google Earth cho thấy một số vị trí chiếm đóng của các bên: VN (hường), TQ (đỏ), Đài Loan (đỏ gạch), Malaysia (xanh nhạt), Philippines (xanh).


TheoryEquidisLineCol.jpg

Các yêu sách biển và EEZ hiện có từ các đảo lớn nhất (với các trung tuyến) và đường biên lãnh hải 12 nm từ các đảo đá (chỉnh từ bản đồ của I Made Andi Arsana of the Dept. of Geodetic and Geomatic Engineering, Faculty of Engineering, Gadjah Mada University, Indonesia)
Các chấm xanh là lãnh hải 12 nm của các thể địa lí có khả năng thoả mản tiêu chuẩn đảo
---------------------------------------------------


Lời mở đầu

(Introdution)


Một ngày trong tương lai, từ đảo Luzon của Philippines hai chiếc tàu tàu đánh cá có thể ra đi hướng về phía Tây trong vùng biển rộng. Họ sẽ trên đường tới một đảo san hô từng có lần được đặt tên theo tên cảng họ vừa rời đi, Bajo de Masingloc. Hơn 300 năm qua đảo san hô này có rất nhiều tên. Người Tây Ban Nha cũng gọi nó là Bãi cạn Maroona, người Anh gọi nó là Bãi cạn Scarborough, Quốc dân đảng Trung Quốc đặt tên cho nó Rạn đá Min'zhu (Dân chủ) , Cộng sản Trung Quốc đổi tên thành Hoàng Nham (Đá [màu] Vàng) -và gần đây nhất và ít phù hợp nhất, người Philippines yêu nước cho nó cái tên mới là Bãi cạn Panatag (Tĩnh Lặng). Khi họ đến nơi, đoàn người trên tàu sẽ thấy rất ít: chỉ đỉnh của một ngọn núi nổi lên từ đáy biển 4.000 mét bên dưới. Một tháp đá duy nhất đá đứng một mình giữa Biển Đông.

Nếu nó chỉ thấp hơn 3 mét, ngọn núi sẽ không đáng chú ý ngoài sự nguy hiểm nó sẽ gây ra cho tàu bè qua lại. Nhưng ngay cả lúc triều cao một vài mỏm đá vẫn chọc lên khỏi mặt nước, mỗi mỏm chỉ vừa đủ lớn để đứng lên trên. Và vì định nghĩa chính thức của đảo là ‘một khu đất hình thành tự nhiên có nước bao quanh, nằm trên mặt nước khi triều cao’, những mỏm đá vài mét tạo nên cả một sự khác biệt.[1] Quyền sở hữu được công nhận đối với một đảo cho chủ sở hữu các quyền đối với biển, với cá bơi lội xung quanh nó và các khoáng sản có thể nằm trên hoặc dưới đáy biển. Gần đây hơn, quyền sở hữu còn có ý nghĩa nhiều hơn nữa. Đối với một số người, nó đã trở thành sự khác biệt giữa niềm tự hào và nỗi nhục , giữa đia vị cường quốc và cũng nước tầm thường. Chính vì vậy mà vào ngày này trong tương lai hai chiếc tàu đánh cá đang cố gắng để đi tới đó.

Vào ngày giả định này, hai tàu đó đang chở những người Philippines đang vẫy cờ: đại biểu Quốc hội, cựu sĩ quan quân đội và người từng biểu tình trên đường phố. Dưới bóng đêm che phủ họ cố gắng len qua một tàu Cảnh sát biển Trung Quốc: ở đó để chỉ ngăn chặn một cuộc xâm nhập như thế. Họ gần như đạt được điều mình muốn. Trong khi tàu Trung Quốc đang tuần tra ở phía xa của đảo san hô họ lách nhanh tới lối vào đầm phá. Đó là một động tác nguy hiểm. Lối vào rộng 350 mét, nhưng các dòng chảy và sóng đẩy con tàu gần như nằm lên trên rạn đá. Ngay lúc đang đến gần họ nghe thấy một tiếng súng và đêm được sáng lên bởi một pháo sáng trên đầu. Một chiếc ca nô đang chuồi về phía họ với tốc độ cao và một loa tay gào to một cảnh báo bằng tiếng Anh: ‘Đây là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa xưa. Các vị phải rời khỏi khu vực này ngay lập tức. Rời ngay nếu không chúng tôi sẽ buộc phải có hành động.’ Nhưng người Philippines cứ tiếp tục: họ đang gần như ở bên trong đầm phá. Một cảnh báo tiếp: ‘Nếu không rời khỏi ngay lập tức, chúng tôi sẽ có hành động vũ trang đối với các vị. Hãy quay tàu trở lại’. Với chiếc đầu chỉ cách cửa đầm phá 10 mét, một phát súng nữa. Lần này không phải là pháo sáng. Đạn bay tung toé mặt nước.

Trên hai tàu đánh cá các ông gốcquân đội đang thúc giục thuyền trưởng tiếp tục đi tới. Họ đã bị bắn trước đó. Họ không phải bị đe dọa. Họ đã đi quá xa để phải bỏ cuộc bây giờ. Họ sẽ cắm các lá cờ của họ trên mảnh lãnh thổ này của Philippines. Một vụ cháy nổ ra trên boong. Một thủy thủ bị giết; một đại biểu quốc hội bị bắn trúng ở vai và hai nhà hoạt động khác bị thương nặng. Nhưng bây giờ hai chiếc tàu đang ở trong đầm phá - và người phe quân đội rút vũ khí cá nhân và bắn trả lại. Tàu cao tốc Trung Quốc lùi lại, nhưng con tàu mẹ đang chặn lối ra duy nhất của đầm phá. Hoảng loạn trên tàu bị đạn bắn thủng. Cứu cấp ban đầu được thực hiện và các trợ lí của Quốc hội sử dụng điện thoại vệ tinh để gọi điện cầu cứu và xin giúp đỡ. Phỏng vấn trực tiếp được đưa ra cho các phóng viên truyền hình không nói kịp thở. Tại Manila, đám đông vây quanh Bộ Quốc phòng và toà lãnh sự Trung Quốc, đòi hỏi hành động. Tại Bắc Kinh, đám đông khác ném đá vào toà đại sứ Philippines, chiến tranh trực tuyến bùng nổ, các trang web bị hack và tẩy xóa. Mọi người đều kêu gọi có hành động. Chính phủ Trung Quốc từ chối cho phép hai tàu đánh cá rời khỏi đầm phá, nói rằng hai tàu này đã tiến vào lãnh thổ của họ bất hợp pháp và phải bị xử lí theo pháp luật. Chính phủ Philippines đòi hỏi phả thả hai tàu này và tất cả mọi người trên tàu và phái tàu chiến lớn nhất, chiếc BRP Gregorio del Pilar, tới hiện trường.

Người Trung Quốc không lùi bước, vì vậy tàu Gregorio bắn một phát súng cảnh cáo. Không phản hồi. Lực lượng đặc biệt của hải quân Philippines được phái leo lên tàu Trung Quốc, đánh nhau bằng tay nổ ra trên đài chỉ huy, hơi cay được sử dụng và một người nào đó bắt đầu nổ súng. Sau đó, hai máy bay Trung Quốc cố ném bắn phá tàu Gregorio. Họ bắn trượt, nhưng đó là giọt nước tràn li: sau khi đã rút lực lượng đặc biệt về, Gregorio nả pháo vào tàu Trung Quốc, trúng gần đuôi tàu. Nó khập khiễng chạy đi và các nhà hoạt động Philippines thoát khỏi đầm phá và được chuyển lên tàu Gregorio để điều trị vết thuơng. Sự khiêu khích là quá mức chịu đựng của Bắc Kinh. Trong khi thế giới kêu gọi bình tĩnh và kiềm chế, một đội quân được phái đi khởi hành từ Tam Á, bộ chỉ huy hạm đội Nam Hải trên đảo Hải Nam.

Bảo hiểm hàng hải vượt khỏi trần, các chuyến tàu vận chuyển container bị hủy bỏ, các chuyển bay bị đổi lộ trình, các đường cung cấp chất bán dẫn bị gián đoạn và đúng vào lúc đó mạng lưới hậu cần bắt đầu tê liệt. Ngư dân ngưng đánh cá, chợ búa trống rỗng, công nhân đô thị bị đói, các nhà hoạt động trở nên giận dữ hơn, giá dầu tăng vọt, các chính trị gia hét to hơn, cảnh báo khốc liệt hơn: tất cả không có kết quả. Người Trung Quốc thực hiện cuộc đổ bộ đầu tiên lên Đảo Parola (Song Tử Đông), phía Bắc của quần đảo Trường Sa, hàng trăm km về phía Tây Bãi cạn Scarborough. Đơn vị trú đóng nhỏ nhoi  của Philippines chỉ có thể kháng cự chiếu lệ. Nhưng cách đó 3 km, lực lượng Việt Nam đóng trên Đảo Song Tử Tây trang bị tốt hơn và xem hành động này là một mối đe dọa chết sống. Với pháo và tên lửa trên bờ họ nhắm vào hạm đội Trung Quốc. Cả hai bên đều gọi không quân yểm trợ.

Cuộc giao tranh lan ra khắp tất cả các đảo khác trong Quần đảo Trường Sa - đổ bộ được thực hiện trên các rạn san hô và các bãi cát trên một khu vực rộng lớn của đại dương. Washington lặp đi lặp lại các đe dọa về lợi ích quốc gia sống còn về tự do trên biển. Mĩ chuyển các nhóm tàu sân bay vào khu vực; các tàu ‘làm dáng’từ các nước khác tham gia cùng họ trong một màn phô diễn về quyết tâm quốc tế. Cuộc đối đầu giữa tàu Trung Quốc và Mĩ ngày càng trở nên ngày càng căng thẳng: có va chạm trên biển và tàu ngầm chơi trò mèo vờn chuột dưới sóng biển. Tàu chiến của Nhật Bản được lệnh hộ tống tàu chở dầu. Trong thời đại hậu Fukushima công nghiệp điện của nước này cứ 6 giờ cần một tàu chở dầu cặp bến để giữ cho điện luôn chạy trên lưới. Chính phủ Ấn Độ đề nghị trợ giúp cho đối tác chiến lược Việt Nam, tăng mức được thua thậm chí cao hơn. Và sau đó một người nào đó ở Delhi xác định rằng đây là thời điểm tốt nhất để giành lại lãnh thổ đã mất ở Himalaya ...

Đó chỉ là một kịch bản và thậm chí khi tôi viết điều này thì nhiều người tốt đang cố sức tìm những cách để ngăn chặn nó không bao giờ diễn ra. Nhưng cũng có những lực lượng đẩy Châu Á theo hướng ngược lại. Cạnh tranh kinh tế, logic của siêu cường và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đang làm tăng nguy cơ hội xung đột. Biển Đông là nơi đầu tiên mà tham vọng của Trung Quốc đã đến mặt đối mặt với quyết tâm chiến lược của Mĩ. Hàng chục tay chơi khác, từ các nước vừa cho tới các chính trị gia nhỏ nhen, đang tìm cách thủ lợi từ cuộc đối đầu diễn ra. Lợi ích đang được đánh giá và các liên minh được hình thành và chỉnh đổi: quan hệ đối tác chiến lược, các hiệp ước phòng thủ hỗ tuơng - một mạng lưới các cam kết ràng buộc thế giới với tương lai của khu vực này. Điều gì xảy ra nếu có ai đó bắn một hoàng tử? (vụ hoàng tử  Áo – Hung Franz Ferdinand bị ám sát ngày 28 tháng 6 năm 1914 được coi là ngòi nổ của Thế chiến thứ nhất - ND)


**********

Để hiểu được tầm quan trọng của Biển Đông với thế giới rộng lớn hơn, hãy bay từ Sân bay Changi của Singapore vào một ngày trời trong và, khi bạn lên cao, nhìn xuống mặt nước bên dưới. Hàng trăm tàu thuyền, từ những chiếc tàu đánh cá nhỏ nhất cho đến các tàu vận tảthô lớn nhất, lắp đầy các tuyến đường thuỷ: tàu kéo, tàu đánh cá, tàu container, tàu chở xe, tàu hàng chuyển tải mọi thứ của cuộc sống hiện đại. Dầu hướng về phía Đông tạo năng lượng cho các nền kinh tế khổng lồ ở đầu kia của Biển Đông: Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Về phía Tây là các dòng sản phẩm đủ loại từ các xưởng của thế giới: phần cứng và phần mềm, mũ nón, giày dép. Dự đoán tốt nhất cho thấy hơn một nửa thương mại đường biển của thế giới đi qua Eo biển Malacca, cùng với một nửa lượng khí thiên nhiên hóa lỏng và một phần ba lượng dầu thô của thế giới. Nếu tàu thuyền ngừng chuyển động thì không bao lâu đèn điện ở một số nơi trên thế giới sẽ bắt đầu tắt đi.

Biển Đông vừa là điểm tựa của thương mại thế giới và một lò lửa xung đột. Có những trận chiến vào năm 1974 và 1988 và đã có hàng chục cuộc đối đầu bạo lực kể từ đó. Hoa Kì đã can dự vào từ đầu và Ấn Độ đã bắt đầu có quan tâm. Khu vực này đáng được chúng ta chú ý tuy nhiên, ngoài một nhóm nhỏ các học giả, các chuyên gia được trả lương và những kẻ đam mê khác, nó rất ít được hiểu rõ. Phần lớn trong số những chân lí được chấp nhận về các tranh chấp, được lặp đi lặp lại trong hầu hết các phương tiện truyền thông, thì hoặc là không đúng sự thật hoặc chưa được chứng minh. Biển Đông không phải giàu tài nguyên dầu và khí đốt một cách đặc biệt, các căn cứ quân sự trên các đảo tranh chấp không có tính ‘chiến lược’ một cách đặc biệt vì hầu như tất cả đều có thể bị phá hủy với một phát tên lửa duy nhất, các tranh chấp lãnh thổ liên quan đến 6 quốc gia, không phải 5, vì Indonesia cũng bị ảnh hưởng mặc dù họ giả vờ không liên quan và các ‘yêu sách lịch sử’ của các bên tranh chấp thật ra chỉ là mới đây.

Phần lớn các tài liệu quan trọng về Biển Đông - ít nhất là trong Tiếng Anh - có thể truy nguồn các tài liệu tham khảo ban đầu của chúng từ hai công trình học thuật phương Tây: bài viết năm 1976 của nhà sử học người Đức, Dieter Heinzig, mang tên ‘Disputed Islands in the South China Sea’ (Các đảo tranh chấp ở Biển Đông), và cuốn sách năm 1982 của các nhà địa lí Mĩ Marwyn Samuels, Contest for The South China Sea (Cuộc thi thố giành Biển Đông). Chúng là những mảnh công trình tiên phong và ấn tượng, mang lại nhiều hiểu biết cần thiết về chủ đề này. Nhưng lịch sử mà cả hai cuốn sách kể lại dựa phần lớn vào các bài báo đăng trên các tạp chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi họ xâm lược Quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974. Một đã được công bố trong ấn bản tháng 3 năm 1974 của Nguyệt san thập niên 70 (Ch'i-shi nien -tai yüeh-k’an [Thất thập niên đại nguyệt san]) và hai trong ấn bản tháng 5 năm 1974 của Minh Báo (Ming Pao). Những bài báo này rõ ràng là không phải là những mảng học thuật trung tính: chúng có ý định biện minh cho cuộc xâm lược. Không thể trách Heinzig và Samuels về việc này. Có rất ít các tài liệu khác có thể tham khảo vào thời điểm đó.

Tuy nhiên, bằng cách dựa vào các công trình lúc đầu (và các công trình dựa trên những công trình này), quá nhiều học giả và nhà bình luận, trên thực tế, vẫn còn cho phép ba bài báo Trung Quốc này đóng khung toàn bộ cuộc tranh luận về Biển Đông, 40 năm sau khi chúng được công bố. Kiến thức về lịch sử và tình hình hiện tại về Biển Đông đã tăng lên nhanh chóng kể từ đó, cho phép các nhà nghiên cứu phải xem xét lại các điều chắc chắc cũ. Có quá nhiều loại tài liệu mới này đang nằm chờ đuợc đọc trong tạp chí khoa học. Tôi hi vọng rằng bằng cách đưa một số trong công trình đó vào tầm chú ý rộng rãi hơn, cuốn sách này sẽ góp phần vào việc thay đổi các điều kiện của cuộc tranh luận.

Có nhiều thứ hơn nữa vể Biển Đông hơn là tranh cãi có vẻ thuộc loại Lilliput (vặt vãnh) đối với các mỏm đá cằn cỗi. Nhiều nền văn hóa bí ẩn thịnh rồi suy xung quanh bờ biển của nó, những kẻ xâm lược đến rồi đi, những cơn gió thương mại và chiến tranh đã kết nối trực tiếp Biển Đông với số phận của các đế quốc xa xôi trong nhiều thế kỉ. Lịch sử của nó cũng là một lịch sử toàn cầu. Tương lai của nó phải là một mối quan tâm toàn cầu. Trong thời đại của chúng ta, những gì xảy ra ở Biển Đông sẽ xác định tương lai. Việc trỗi dậy của Trung Quốc sẽ dẫn tới tranh chấp giữa các siêu cường hay không? Liệu các lãnh đạo Trung Quốc có ý định chơi theo luật chơi quốc tế hoặc thách thức chúng? Liệu Hoa Kì có ý chí để giữ vững lập trường của mình? Các nước Đông Nam Á sẽ được hay thua từ cuộc thi thố siêu cường? Việc săn lùng hydrocarbon đã và đang ảnh hưởng đến xung đột như thế nào? Trên tất cả, có thể làm gì để ngăn chặn chiến tranh nổ ra? Các nguồn tài nguyên của Biển Đông có thể chia sẻ công bằng cho hàng trăm triệu người dân, chủ yếu là người nghèo sống xung quanh bờ của nó theo cách nào? Mời đọc tiếp.


Yangon, Myanmar tháng 12 năm 2013





[1] Công ước Liên HIệp Quốc về Luật Biển, Điều 121.


_____________________________________________________________________