Monday, November 5, 2012

Trò chơi đoán ở Trung Quốc

Trò chơi đoán ở Trung Quốc
David Ignatius (WP 3/11/2012)

Khi ngày bầu cử tới gần, sẽ có ích khi nhìn vào quá trình chuyển đổi chính trị mù mờ đang diễn ra tại Trung Quốc trong tháng này. Đó là một gợi nhớ về những lợi ích của nền dân chủ đôi khi hỗn loạn của Mỹ.

Người Trung Quốc đang đối mặt với việc chuyển đổi chính trị mười năm một lần khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chuẩn bị chuyển giao quyền lực cho Tập Cận Bình, người thừa kế được chỉ định từ lâu. Nhưng bên dưới bề mặt đã nấu chín sẵn này, nhiều vấn đề quan trọng vẫn còn đang sôi sụt, với một Đại hội Đảng Cộng sản có tính quyết định dự kiến bắt đầu vào thứ Năm này.

Hãy tưởng tượng nếu thứ Ba này Hoa Kỳ phải quyết định không những tổng thống và các thành viên Quốc hội – mà còn cả quy mô và phạm vi của ngành hành pháp, việc giám sát quân đội và các quy định hiến pháp mới. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc được cho rằng vẫn còn đang mặc cả về tất cả những vấn đề này vào đêm trước của đại hội đảng ở phía sau một bức màn bí mật tạo nguồn cấp cho các tin đồn và các bàn tán vĩa hè.

Việc chuyển đổi chính trị sắp tới sẽ thay thế hầu hết các thành viên của hai cơ quan điều hành chính của đất nước này- Ban thường vụ Bộ Chính trị của đảng và Quân Ủy Trung ương. Điều đáng ngạc nhiên là thậm chí những chuyên gia Mỹ nắm thông tin tốt nhất cũng biết rất ít về các quyết định nhân sự sẽ được thực hiện như thế nào.

Với việc thiếu minh bạch của Trung Quốc, đề tài bí hiểm này chỉ dành chủ yếu cho các nhà quan sát rất am tường về chính phủ Trung Quốc . Tuy nhiên, các được mất về chính trị ở Bắc Kinh trong tháng này có thể cũng quan trọng đối với thế giới như là các được mất về chính trị trong cuộc bầu cử Mỹ. Dưới đây là một số chữ "nếu" lớn mà các chuyên gia đang theo dõi:

● Ban thường vụ Bộ Chính trị sẽ lớn cỡ nào? Có tin đồn rằng số uỷ viên sẽ giảm từ 9 xuống 7 và hai chức vụ bị loại là tuyên truyền và thực thi pháp luật. "Quyết định loại bỏ hai vị trí này và giảm số uỷ viên từ 9 xuống7 gắn chặt với cải cách chính trị," Lí Thành (Cheng Li), một học giả hàng đầu về Trung Quốc tại Viện Brookings lập luận.

Trung Quốc sẽ vẫn là một nhà nước cảnh sát trị, ngay cả khi không thấy có ngành tuyên truyền và thực thi pháp luật trong [Ban Thường vụ] Bộ Chính trị. Và đó có thể là một chế độ độc tài kiên quyết hơn, với một nhóm tinh lọc, họ có thể đạt được sự đồng thuận một cách dễ dàng hơn về các chủ đề gai góc. Tuy nhiên, áp lực cho sự thay đổi đang lớn dần. Và đó sẽ là một nhóm các gương mặt mới - với năm hoặc bảy thành viên mới, tùy thuộc vào kích cỡ của nó.

● Chủ tịch về hưu, Hồ Cẩm Đào, sẽ tiếp tục ngồi lại ở Quân Ủy trung ương không? Tiền nhiệm của ông, Giang Trạch Dân, cũng nắm lấy vấn đề quân sự theo cùng cách, và Hồ Cẩm Đào  có thể cũng muốn được món địa vị và bảo trợ này, làm giảm đi vừa phải sức mạnh của Chủ tịch sắp lên, Tập Cận Bình. Nhưng ở đây câu chuyện cũng về thay đổi. Phần lớn trong số 12 thành viên của Quân Uỷ có khả năng đều sẽ là người mới. Điều này thể hiện sự gặt hái lớn cho quân đội Trung Quốc vốn ngày càng quyết đoán về các vấn đề như là biển Đông.

● Các vấn đề về tham nhũng và ô dù đã nổ bùng trong vụ bê bối Bạc Hi Lai vào tháng Hai vừa qua sẽ trong tầm kiểm soát hay không? Cho đến nay, Trung Quốc đã thực hiện tốt công việc kiềm chế các hậu quả không mong muốn từ việc thanh trừng Bạc Hi Lai, cựu bí thư có sức lôi cuốn của Trùng Khánh. Nhưng Lí Thành thuộc Viện Brookings thấy ra một sự chia rẽ phe phái sâu đậm giữa Hồ Cẩm Đào (có những người đi theo gốc gác từ Đoàn Thanh niên Cộng sản) và Giang Trạch Dân (có những kẻ ủng hộ chủ chốt thường được mô tả là các "thái tử đảng"). Những người ủng hộ Giang Trạch Dân ở thành thị được cho là ủng hộ sự phát triển nhanh tiếp tục, trong khi nhóm Hồ Cẩm Đào chú trọng tới tổ chức đảng và an ninh trong nước để kiểm tra tình trạng bất ổn đi kèm với việc tăng trưởng nhanh.

Thách thức cho Tập Cận Bình sẽ là việc bắt cầu nối cho khoảng cách này, và cho đến nay ông có vẻ khá khéo léo. Ông ta tự mình là một thái tử đảng (cha ông là một trong những cố vấn thân cận của Mao Trạch Đông), nhưng ông cũng đã bắt được các cầu nối đến phe của Hồ Cẩm Đào.

● Đảng sẽ xem xét những thay đổi về điều lệ đảng, có thể qua việc khẳng định rằng đảng nằm dưới quyền nhà nước hay không? Lí Thành dự đoán có thể có pháp lệnh rằng "đảng phải đứng dưới luật pháp chứ không phải đứng trên luật pháp."

Biến động ngầm bên dưới bề mặt phẳng lặng của chính trị Trung Quốc đã nổi rõ lên trong các vụ tiết lộ gần đây về tài sản kếch xù mà các lãnh đạo đảng đã tích lũy: Hồi tháng 6 Bloomberg News báo cáo  rằng đại gia đình Tập Cận Bình có gần $ 1 tỷ tài sản; tháng trước, tờ New York Times ghi nhận rằng gia đình Ôn Gia Bảo, thủ tướng sắp ra đi, ngầm sở hữu tài sản $ 2,7 tỷ USD. Chắc chắn có thể kể những câu chuyện tương tự như thế cho hầu hết các lãnh đạo chóp bu.

Bằng cách nào đó, trong hai tuần tới, ban lãnh đạo thối nát, bí ẩn này sẽ phải vạch đường chỉ lối cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. So ra thách thức của họ làm cho bầu cử dân chủ có vẻ dễ dàng.


Saturday, September 1, 2012

Tất cả những gì bạn biết về Trung Quốc đều sai


Tất cả những gì bạn biết về Trung Quốc đều sai
Có phải chúng ta đang ám ảnh về sự trỗi dậy của nó khi mà chúng ta nên lo lắng về sự sụp đổ hơn?

Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei) 29/8/2012

Trong 40 năm qua, người Mĩ đã không bắt kịp với việc nhận ra các vận may đang suy giảm của các đối thủ nước ngoài. Trong những năm 1970, họ nghĩ rằng Liên Xô là số 1 – vẫn đang lên dù tham nhũng và kém hiệu quả đang phá hủy các cơ quan huyết mạch của một chế độ cộng sản ruỗng nát. Cuối những năm 1980, họ lo rằng Nhật Bản sẽ vượt Mĩ về kinh tế, nhưng chủ nghĩa tư bản bố bịch, điên loạn đầu cơ và tham nhũng chính trị rõ ràng trong suốt những năm 1980 đã dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế Nhật Bản vào năm 1991.

Có thể cùng căn bệnh đó đã tấn công người Mĩ khi nói đến Trung Quốc (TQ) hay không? Tin tức mới nhất từ Bắc Kinh là chỉ dấu về sự yếu kém của TQ: suy giảm liên tục về tăng trưởng kinh tế, tràn ngập hàng tồn kho không bán được, các khoản vay xấu tăng lên, bong bóng bất động sản bùng nổ và vòng luẩn quẩn tranh giành quyền lực ở chóp bu, đi cùng với các vụ bê bối chính trị không dứt. Nhiều yếu tố vốn tạo nên động lực cho sự trỗi dậy của TQ, chẳng hạn như thành tố dân số, việc xem nhẹ môi trường, lao động siêu rẽ, và việc tiếp cận hầu như không giới hạn tới các thị trường bên ngoài, thì hoặc đang giảm xuống hoặc đang biến đi.

Tuy nhiên, vận may suy tàn của TQ đâu có báo cho giới tinh hoa Hoa Kì biết, nói chi tới công chúng Mĩ. Sự “chuyển trục về Chậu Á” nhiều thổi phồng của Tổng thống Barack Obama công bố cuối tháng 11 năm ngoái, được đặt trên tiền đề về sự trỗi dậy tiếp tục của TQ. Lầu Năm Góc cho biết rằng tới năm 2020 khoảng 60% tàu Hải quân sẽ trú đóng ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Washington cũng đang xem xét triển khai các hệ thống chống tên lửa đặt trên biển ở Đông Á, một động thái phản ánh sự lo lắng của Mĩ về khả năng tên lửa ngày càng tăng của TQ.

Trong thời gian dẫn đến bầu cử tổng thống Mĩ ngày 6 tháng11, cả đảng Dân chủ lẫn Cộng hòa đều nhấn mạnh đến sức mạnh thấy được của TQ vì lí do an ninh quốc gia lẫn vì thủ đoạn chính trị. Đảng Dân chủ sử dụng phát triển kinh tế của TQ có thể để kêu gọi cho đầu tư của chính phủ nhiều hơn trong lĩnh vực giáo dục và công nghệ xanh. Vào cuối tháng 8, Trung tâm Tiến bộ Mĩ và Trung tâm thế hệ kế tiếp, hai nhóm chuyên gia tư vấn thiên tả, đưa ra một báo cáo dự báo rằng TQ sẽ có 200 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học vào năm 2030. Báo cáo này (cũng ước tính tiến bộ của Ấn Độ trong việc tạo ra vốn nhân lực) vẽ một bức tranh ảm đạm về sự suy giảm của Mĩ và đòi hỏi hành động quyết định. Đảng Cộng hòa biện minh cho gia tăng chi tiêu quốc phòng trong thời kỉ thâm hụt ngân sách trầm trọng một phần bằng cách viện dẫn các dự đoán rằng khả năng quân sự của TQ sẽ tiếp tục phát triển khi nền kinh tế của đất nước này mở rộng. Vị thế của đảng Cộng hòa năm 2012, đưa ra vào cuối tháng 8 tại Hội nghĩ quốc gia đảng Cộng hòa, nói, "Đối mặt với việc tăng cườn quân sự cấp tập của TQ, Hoa Kì và các đồng minh phải duy trì khả năng quân sự thích hợp để ngăn bất kì hành vi hung hăng hoặc cưỡng chế của TQ chống lại các nước láng giềng."

Sự thiếu kết nối giữa các bất ổn đang kéo đến ở TQ với nhận thức dường như không thể lay chuyển về sức mạnh của TQ vẫn tồn tại mặc dù giới truyền thông Mĩ chính xác phủ trọn TQ, đặc biệt là những chỗ yếu kém bên trong của đất nước này. Một giải thích cho sự thiếu kết nối này là giới tinh hoa và người dân Mĩ bình thường vẫn còn nghèo thông tin về TQ và bản chất các thách thức kinh tế của TQ trong thập niên tới Sự suy thoái kinh tế hiện nay ở Bắc Kinh là không theo chu kì mà cũng không phải kết quả của mức cầu bên ngoài còn yếu đối với hàng hóa TQ. Các yếu kém kinh tế của TQ bắt nguồn sâu xa từ: một nhà nước độc đoán lãng phí vốn và bóp chẹt khu vực tư nhân, sự thiếu hiệu quả có hệ thống và thiếu sự đổi mới, một giới chủ chốt cầm quyền tham lam chỉ quan tâm đến việc làm giàu cho chính mình và sự kéo dài các đặc quyền của họ, một khu vực tài chính kém phát triển tồi tệ, và các áp lực sinh thái và dân số chất chồng. Tuy nhiên, ngay cả đối với những người theo dõi TQ, nhận thức hiện hành là mặc dù TQ đã bước vào vận bỉ, các nền tảng của nó vẫn còn mạnh.

Nhận thức các vấn đề trong nước của người Mĩ ảnh hưởng đến cách họ nhìn đối thủ của mình. Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn trong các thập niên 1970 và cuối thập niên 1980 khi mà người Mĩ bỏ lỡ dấu hiệu của suy giảm của các đối thủ tương ứng với sự không hài lòng mạnh mẽ về kết quả hành động của chính phủ Mĩ (chẳng hạn "phát biểu khó chịu" của Tổng thống Jimmy Carter năm 1979). Hiện nay, một TQ có tốc độ tăng trưởng giảm từ 10% xuống 8% một năm (hiện tại) trông có vẻ khá tốt so với một nước Mĩ với tăng trưởng hàng năm mòn mỏi ở dưới mức 2% và tỉ lệ thất nghiệp vẫn còn trên 8%. Trong con mắt của nhiều người Mĩ, các sự việc có thể là xấu ở đó (TQ), nhưng chúng  còn tồi tệ hơn nhiều ở đây (Mĩ).

Nhận thức về một TQ mạnh mẽ và tự đề cao cũng vẫn còn tồn tại do chính hành vi của Bắc Kinh. Đảng Cộng sản cầm quyền tiếp tục khai thác tình cảm dân tộc chủ nghĩa để củng cố uy tín như những kẻ bảo vệ danh dự quốc gia TQ. Các phương tiện truyền thông nhà nước và sách giáo khoa lịch sử TQ đã cho thế hệ trẻ ăn theo chế độ dinh dưỡng với các sự kiện bóp méo, nước lớn hiếu chiến, những dối trá hết mức, và các huyền thoại dân tộc chủ nghĩa mà những điều này dễ dàng kích động tình cảm chống-phương Tây hoặc chống Nhật. Thậm chí đáng lo ngại hơn nữa là lập trường không nhân nhượng của Bắc Kinh đối với các tranh chấp lãnh thổ với các Mĩ đồng minh châu Á cốt lõi của Mĩ, như Nhật Bản và Philippines. Nguy cơ về một cuộc đối đầu về các lãnh thổ biển tranh chấp, đặc biệt là ở biển Đông, có thể dẫn đến xung đột vũ trang thực sự khiến cho nhiều người ở Mĩ tin rằng họ không thể dẹp bỏ cảnh giác đối với TQ.

Đáng buồn thay, độ chênh giữa nhận thức của người Mĩ về của sức mạnh TQ và thực tế về sư yếu kém của TQ có hậu quả bất lợi thực sự. Bắc Kinh sẽ sử dụng các phát ngôn lớn giọng chê trách TQ và các động thái tăng cường quốc phòng của Mĩ ở Đông Á như bằng chứng bọc thép về sự thiếu thân thiện của Washington. Đảng Cộng sản sẽ đổ lỗi cho Hoa Kì về các khó khăn kinh tế và các thất bại ngoại giao của họ. Việc bài ngoại có thể trở thành một nguồn tài sản cho một chế độ đang vật vả vì sự sống còn trong các thời kì khó khăn. Nhiều người TQ đã cho rằng Hoa Kì phải chịu trách nhiệm về leo thang gần đây trong tranh chấp ở biển Đông và nghĩ rằng Mĩ đã kích Hà Nội và Manila vào cuộc đối đầu.

Hiệu quả có ảnh hưởng nhất của việc thiếu liên kết này là làm mất đi cơ hội cho việc suy nghĩ lại về chính sách TQ của Hoa Kì lẫn việc chuẩn bị cho sự gián đoạn có thể có trong lộ trình của TQ trong 2 thập kỉ tới. Trụ cột trung tâm của Chính sách TQ của Washington là việc tiếp tục giữ nguyên hiện trạng (status quo), một thế giới trong đó sự thống trị của Đảng Cộng sản được giả định còn kéo dài nhiều thập kỉ. Các giả định tương tự là cơ sở cho các chính sách của Washington đối với Liên Xô cũ, Indonesia của Suharto, và gần đây hơn là Ai Cập của Hosni Mubarak và Libya của Muammar al-Qaddafi. Trừ hao đi xác suất thay đổi chế độ ở các chế độ độc tài dường như bất khả xâm phạm luôn luôn là một thói quen ăn sâu ở Washington.

Hoa Kì cần phải đánh giá lại các tiền đề cơ bản của chính sách TQ của mình và nghiêm túc xem xét một chiến lược thay thế, một chiến lược dựa trên giả định về sức mạnh suy giảm của TQ và xác suất tăng thêm của một sự chuyển đổi dân chủ chưa lường trước trong hai thập kỷ tới. Nếu một sự thay đổi như vậy xảy tới, bối cảnh địa chính trị của châu Á sẽ biến đổi không nhận ra được. Chế độ Bắc Triều Tiên sẽ sụp đổ gần như sau một đêm, và bán đảo Triều Tiên sẽ thống nhất. Một làn sóng chuyển đổi dân chủ khu vực sẽ lật đổ các chế độ cộng sản ở Việt Nam và Lào. Tuy nhiên, ẩn số lớn nhất và quan trọng nhất là về chính TQ: Liệu một đất nước yếu hoặc đang suy yếu với 1,3 tỉ dân có thể điều tiết một quá trình chuyển đổi hòa bình tới dân chủ hay không?

Tất nhiên sẽ là hấp tấp để loại bỏ hoàn toàn khả năng thích nghi và đổi mới của Đảng Cộng sản. TQ có thể ầm ầm hồi phục trong một vài năm, và Hoa Kì không nên bỏ qua khả năng này. Nhưng cũng không thể loại trừ sự sụp đổ của đảng [CS], và những dấu hiệu bất ổn ở TQ hiện nay đã cho ra các manh mối vô giá cho một sự chuyển đổi đầy chấn động như thế với xác suất cao . Các nhà hoạch định chính sách của Mĩ sẽ phạm thêm một sai lầm chiến lược có tầm lịch sử nếu họ bỏ lỡ hoặc hiểu sai các dấu hiệu này.

Monday, August 13, 2012

TQ leo thang lấn tới giới hạn nguy hiểm


BIỂN ĐÔNG: TRUNG QUỐC LEO THANG LẤN TỚI GIỚI HẠN Ở MỨC NGUY HIỂM
SOUTH CHINA SEA: CHINA ESCALATES BRINKMANSHIP TO DANGEROUS LEVELS

ttp://www.southasiaanalysis.org/papers52/paper5157.html
Tiến sĩ Subhash Kapila
(South Asia Analysis Group – 09/08/2012)


"Nhưng nếu kẻ thù sử dụng phương sách ‘tầm ăn [lá] dâu’ (salami slicing) - tích cóp dần những hành động nhỏ mà không có hành động nào là có thể tạo ra chiến tranh (casus belli), nhưng theo thời gian chúng có thể gộp lại thành một thay đổi chiến lược lớn thì thế nào?
Mục tiêu của chủ trương ‘tầm ăn dâu’ của Bắc Kinh là sẽ thông qua các cuộc tấn công nhỏ nhưng liên tục, tích lũy dần bằng chứng về sự hiện diện lâu dài của Trung Quốc trong lãnh thổ họ tuyên bố chủ quyền, với chủ định tuyên bố đó sẽ làm tiêu tan dần các quyền kinh tế theo UNCLOS và có thể cả quyền quá cảnh của tàu và máy bay là những quyền mà hiện nay được coi là những của cải chung của toàn cầu (global common). Với những "sự kiện mới ngay tại chỗ” thiết lập chậm chạp nhưng tích tụ dần, Trung Quốc hi vọng sẽ xác lập các tuyên bố chủ quyền của họ trên thực tế (de-facto) và trên pháp lí (de-jure)" --- Robert Haddick, Tạp chí Chính sách đối ngoại, ngày 03 tháng 8 năm 2012.



Những quan sát bước đầu
Tranh chấp biển Đông giữa Trung Quốc (TQ) và các nước láng giềng Đông Nam Á mưng mủ trong nhiều thập kỉ đã bước vào giai đoạn mở màn xung đột từ năm 2008-2009 sau khi TQ tuyên bố biển Đông là một ‘lợi ích cốt lõi’ của TQ, và họ sẽ sẵn sàng đi tới chiến tranh để bảo vệ chủ quyền họ tự tuyên bố đối với nó.
Sự quyết đoán như thế của TQ không làm cộng đồng quốc tế ngạc nhiên vì đã quá quen với các động thái trong quá khứ của TQ và xu hướng nổi cộm của họ là dùng xung đột để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ chứ không phải bằng các sáng kiến giải quyết xung đột.

Monday, August 6, 2012

Có thể là một chứng cớ phụ biên giới TQ phía Nam chỉ tới vĩ tuyến 20


VÀI HIỂU BIẾT CỦA PHƯƠNG TÂY VỀ NƯỚC TRUNG HOA ĐẦU THẾ KỈ 19



Carey, Mathew; Lavoisne, M.
Trích dịch từ: A Complete Genealogical, Historical, Chronological, And Geographical Atlas, Geographical and Statistical Map of China. China and the Tributary Kingdom of Corea. For the Elucidation of Lavoisne's Genealogical, Historical, Chronological, & Geographical Atlas, by C. Gros, 1820. No. 64. Philadelphia. Published by M. Carey & Son. J. Yeager, Sc., 1820.

VỊ TRÍ, RANH GIỚI, VÀ KÍCH THƯỚC

Trung Hoa (thuần tuý)#, nằm giữa 20° và 42° vĩ Bắc, và giữa 98° và 123° kinh đông, được bao bọc, ở phía Bắc bởi các nước Hoa Phiên#, phân cách bởi một bức tường thành to lớn, dài 500 lí; ở phía Đông bởi Thái Bình Dương, ngăn cách với Bắc Mĩ; phía Nam bởi (vương quốc) Bắc Kì# và biển [Nam] Trung Hoa; và ở phía Tây bởi vương quốc Tây Tạng và sa mạc Gobi. Trung Hoa có chiều dài là 1 450 dậm, và chiều rộng là 1 240 dậm, toàn bộ chiếm một diện tích 1 298 000 dặm vuông.

PHÂN BỐ DÂN CƯ, DIỆN TÍCH



..................................................................................................
14 Quảng Đông Quảng Châu 21 000 000 79 456 50 851 840
15 Phúc Kiến Phúc Châu 15 000 000 53 480 34 227 200

-----------------------Tổng cộng 333 000 000 1 298 000 830 719 300


Báo cáo trên được lấy từ số liệu của phái bộ ngoại giao dưới quyền Bá tước Macartney, do Sir George Staunton biên soạn vào năm 1793, theo yêu cầu của ông, số liệu này được Chow-to-Zhin, một quan Trung Hoa cung cấp, và được lập dưa trên các tài liệu xác thực, lấy từ các công sở ở Bắc Kinh. Tuy nhiên, vì theo số liệu chính thức thu được trong năm 1761, dân số TQ chỉ là 98.214.553 người, nên rất khó tin trong quá trình 32 năm, đã tăng lên gần 135 triệu. Toàn bộ dân số người Hoa chính gốc và Hoa phiên có lẽ vào khoảng 300 000 000.

Friday, August 3, 2012

Phác thảo lịch sử TQ cho tới giữa nhà Thanh


PHÁT THẢO LỊCH SỬ TRUNG QUỐC (THEO THỨ TỰ THỜI GIAN)



Lời giói thiệu Có lẽ việc hiểu biết ít nhiều về LS TQ là cần thiết đối với chúng ta, đặc biệt là đối với những ai quan tâm tới biển Đông,  Xin giới thiệu tài liệu LS ngắn gọn trích từA Complete Genealogical, Historical, Chronological, And Geographical Atlas”, ở trang bản đồ TQ và nước Cao Li chư hầu, in năm 1820 sau chuyến đi TQ của phái bộ ngoại giao Anh do Bá tước Macartney dẫn đầu. Mặc dù sứ mạng không thành công nhưng phái bộ này đã thu thập khá nhiều thông tin về TQ. 


Không nghi ngờ rằng Trung Quốc (TQ) là đế chế cổ xưa nhất của thế giới. Theo ý kiến mới nhất, TQ được thành lập bởi một trong các bộ tộc được hình thành qua sự phát tán của con cháu của Nữ Oa, dưới sự cai trị của vua Nghiêu, sau này đã truyền ngôi cho đồng bạn là Thuấn. Các ý kiến khác cho rằng Phục Hi là người sáng lập chế độ quân chủ này, và hầu hết các tác giả đều xem Phục Hi cũng chính là Nữ Oa. Việc cai trị ở TQ từ thời vua Thuấn đến thời điểm hiện tại, được chia thành 22 triều đại, triều đại đầu tiên trong số đó là nhà HẠ, bắt đầu năm 2198 trước Công Nguyên, được thành lập bởi Đại , người được vua Thuấn ưu ái hơn cả con ruột đã truyền ngôi cho. Triều đại này kéo dài 441 năm, với 17 hoàng đế.

2238 AM Triều đại thứ hai bắt đầu, trước được gọi là nhà THƯƠNG, và sau là nhà ÂN, kéo dài 656 năm, với 30 hoàng đế.

2894 Triều đại thứ ba, nhà CHU, bắt đầu, trong đó Vũ Vương, kéo dài 855 năm, triều đại này đã dựng lên một số tỉnh thành ở vương quốc chư hầu, nhưng vẫn không khuất phục nỗi các chư hầu quá mạnh.

3758 Triều đại thứ tư, nhà TẦN, bắt đầu, và kéo dài 43 năm, dưới 4 hoàng đế, hoàng đế thứ hai là Tần Thỉ Hoàng, để lại một công trình về quyền lực của mình, vẫn còn làm kinh ngạc những người nhìn thấy nó, tức các bức tường thành nổi tiếng, dài khoảng 500 dặm, ngăn cách TQ từ các nước láng giềng phương Bắc. Ông đàn áp các vương quốc chư hầu, và thu hẹp các vương quốc này trở lại tình trạng nhà nước cấp tỉnh trước đó. Phấn khởi với thành công của ông, ông đã trở nên tham vọng muốn được nghĩ là triều đại đầu tiên của TQ, với cách nhìn đó ông đã ra lệnh đốt tất cả các sách vở tài liệu công, và chôn sống người có học nhằm ngăn chặn họ viết lại hồi ức về các sự kiện trong quá khứ.

3801 Triều đại thứ năm, nhà HÁN, bắt đầu với Lưu Bang, vốn xuất thân từ lính, lên ngôi lấy hiệu là Cao Tổ. Trong triều đại của ông, giấy, mực in, và bút lông, vẫn còn được sử dụng ở TQ mặc dù vì bút mực đã được phát minh. Triều đại này kéo dài 424 năm, với 25 hoàng đế.

Tuesday, July 31, 2012

Quan hệ về kế thừa chủ quyền biển Đông của các nước liên quan

QUAN HỆ QUYỀN KẾ THỪA BIỂN ĐÔNG



Biểu đồ 1 cho thấy đến đời Thanh thì ít ra có 4 nước (Thanh, VN, Brunei và Philippines thuộc TBN) cùng chia sẻ chủ quyền đối với biển Đông. Còn theo biểu đồ 2 thì có thể có tới 7 bên chia sẻ chủ quyền đối với biển Đông. Dù có thể còn một vài chỗ tranh cãi như ở mục 3 và 5 (ở biểu đồ 1) hoặc mục 10 và 11 (biểu đồ 2), nhưng nhìn chung tác giả có vẻ đã có cách tiếp cận đúng. Đặc biệt theo quan điểm của tác giả, TQ hiện nay không phải là quốc gia kế thừa chính thống nhà Nguyên (Mông Cổ mới là quốc gia kế thừa chính thống). Theo đó, việc TQ hiện nay đòi hỏi các phần lãnh thổ của nhà Nguyên mở rộng do xâm lược giống như Turkey viện dẫn rằng mình là nước kế thừa đế quốc La Mã (thủ đô Istanbul từng là thủ đô Constantinople của La Mã khi xưa), mà nước Anh (ít ra phần phía Nam) từng thuộc La Mã, vậy Turkey có quyền đòi hỏi chủ quyền đối với Anh(?!) (tác giả dùng ví dụ giả định Úc đòi chủ quyền Canada vì cho mình là nước “kế thừa” đế quốc Anh thay vì ví dụ như trên).



Biều đồ 1 (từ xa xưa cho tới nhà Thanh)

  1. 214 TCN, Tần chinh phục Bách Việt ở Lĩnh Nam.
  2. 207 TCN, nước Nam Việt độc lập (Triệu Đà).
  3. 111 TCN, nhà Hán tiêu diệt Nam Việt.
  4. 544, nước Vạn Xuân độc lập (Lí Bí/Bôn).
  5. 601, nhà Tuỳ tiêu diệt nước Vạn Xuân.
  6. 968, Đại Việt độc lập với Nam Hán.
  7. 971, Nam Hán bị nhà Tống tiêu diệt.
  8. 1279, Mông Cổ (Nguyên) chinh phục Tống.
  9. 1368, nhà Minh đánh đuổi Mông Cổ khỏi Trung Quốc.
  10. 1644, nhà Thanh thay thế nhà Minh.
  11. 192, nước Champa thành lập.
  12. 1692, Việt Nam tiêu diệt Champa.
  13. thế kỉ 1 AD, nước Phù Nam thành lập.
  14. 550, Phù Nam chinh phục Chân Lạp thành chư hầu. Năm 628, Chân Lạp cuối cùng mất nước.
  15. thế kỉ 18, Việt Nam chiếm khu vực đồng bằng sông Cửu Long (sau này là Nam Kì) của Cao Miên (Campuchia).
  16. thế kỉ 15, Vương quốc Hồi giáo Brunei thành lập.
  17. 1571, Tây Ban Nha chinh phục vùng Bắc và Trung Philippines, thành lập nước Philippines thuộc Tây.
(theo The sovereignty inheritance relationship of coastal States in the South China Sea in the ancien times  trên blog của Níbó Lónggēn Guāténg 尼伯龙根·蜗藤)

Biểu đồ 2 (Từ cuối nhà Thanh cho đến nay)
    



1.      1911, Trung Quốc Dân quốc (THDQ) thay thế triều đại nhà Thanh

2.      1917, Chính phủ miền Nam được thành lập

3.      1927, Chính phủ miền Nam đánh dep Bắc thành công, thống nhất Trung Quốc.

4.   1937, Nhật xâm lược toàn TQ. 1942 phát động chiến tranh Thái Bình Dương, lần lượt chiếm các nước ven biển Đông. 1945, Nhật Bản bị đánh bại. Chủ quyền của Nhật Bản đối với biển Đông là do xâm lược, và do đó nói giao lại sau chiến tranh (biểu thị bằng đường chấm chấm) là không công bằng.

5.      1945, THDQ khôi phục kiểm soát toàn bộ Trung Quốc.
6.      1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh bại Quốc Dân Đảng, Quốc Dân Đảng rút về Đài Loan. Trung Quốc cùng một lúc có hai chế độ ở Bắc Kinh và Đài Bắc.
7.      1885, Việt Nam bị Pháp đưa vào chế độ vào bảo hộ.
8.      1946, Pháp lấy lại thuộc địa Đông Dương.
9.      1954, theo hiệp định Genève, Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam chia thành miền Bắc Việt và Nam Việt ở vĩ tuyến 17 độ Bắc. Về quyền lợi trên biển, Nam Việt Nam sở hữu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Bắc Việt sở hữu Vịnh Bắc Bộ.
10.   1955, Việt Nam Cộng Hoà thay thế nước Việt Nam, nắm quyền chế độ miền Nam Việt Nam.
11.  1975, Việt Nam Cộng Hoà bị Mặt trận giải phóng miền Nam và Bắc Việt Nam tiêu diệt, lập ra nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
12.  1976, miền Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam kết hợp, thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
13.   giữa thế kỉ 19 Vương quốc Hồi giáo Brunei bắt đầu nhường lại đất đai, lập ra Sarawak và Sabah thuộc Anh.
14.  1888, Vương quốc Anh và Brunei, Sarawak và Sabah đã ký một thỏa thuận để biến chúng thành nước bị bảo hộ, hình thành nên Bắc Borneo thuộc Anh.
15.  1945, Vương quốc Anh lấy lại Bắc Borneo thuộc Anh.
16.  1967, Sarawak và Sabah độc lập cùng với Malaysia và Singapore sớm hình thành Liên bang Malaysia. Brunei vẫn tiếp tục là lãnh thổ ở nước ngoài của Anh.
17.  1984, Brunei độc lập.
18.  1898, Tây Ban Nha thất bại trong cuộc chiến tranh Tây Ban Nha-Mĩ, nhượng lại Philippines cho Hoa Kì, Philippines thuộc Tây Ban Nha thành Philippines thuộc Mĩ.
19.  1946, Philippines độc lập.
20.  Từ giữa cho đến cuối thế kỉ 19, Hà Lan thôn tính dần dần của Vương quốc Hồi giáo Nam Borneo sáp nhập vào Đông Ấn thuộc Hà Lan.
21.  1945, Hà Lan nỗ lực để khôi phục lại sự cai trị Đông Ấn thuộc Hà Lan đi đến chiến tranh với các lực lượng độc lập.
22.  1949, Hà Lan công nhận độc lập của Indonesia.

(theo Sovereign inheritance relationship of the relevant countries of the South China Sea in modern times trên blog của Níbó Lónggēn Guāténg尼伯龙根·蜗藤)
-------------------------


Sunday, July 22, 2012

Suy nghĩ vượt khung: Vấn đề biển Đông và Công ước LHQ về Luật Biển


Suy nghĩ vượt khung: Vấn đề biển Đông và Công ước LHQ về Luật Biển (Các lựa chọn, hạn chế và triển vọng)

Thinking Outside the Box: The South China Sea Issue and the United Nations Convention on the Law of the Sea (Options, Limitations and Prospects)
Lowell B. Batista* (Philippine Law Journal Vol. 81- 2006)


........................................................

B. Đánh giá các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ theo quy định của Luật quốc tế

Tuyên bố chủ quyền của TQ đối với toàn bộ biển Đông dựa chủ yếu vào các ghi chép lịch sử quá lắm chỉ là bằng chứng của quyền sở hữu mới chớm. Mặc dù không thể tranh cãi rằng TQ đã có những tiếp xúc đầu tiên với các hòn đảo của biển Đông, nhưng TQ đã không viện ra được bằng chứng cho thấy họ đã thực thực thi việc chiếm cứ hiệu quả, hòa bình và liên tục với chứng cứ thuyết phục.

Tuyên bố chủ quyền của Đài Loan, chủ yếu cũng tương tự như của TQ, cũng dựa trên cùng bằng chứng lịch sử. Do đó, yêu sách của họ cũng có cùng một điểm yếu trên. Tuy nhiên, việc chiếm cứ liên tục và hòa bình của Đài Loan ở đảo Ba Bình từ năm 1956 tạo nên một thực thi chủ quyền có hiệu quả có thể làm thành cơ sở trong luật quốc tế.

Yêu sách của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa bị các điểm yếu sau đây: thứ nhất, các cơ sở lịch sử tuyên bố của mình còn lửng lơ, thứ hai, vấn đề kế tục tuyên bố của Pháp là mong manh; thứ ba, có những gián đoạn trong sự kiểm soát của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa; và thứ tư, các phát biểu của chính phủ Bắc Việt Nam trước đây ủng hộ yêu sách của TQ làm suy yếu đáng kể yêu sách hiện tại của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Yêu sách của Philippines xoay quanh tiền đề rằng những đảo này là đất vô chủ (terra nullius) hoặc chưa có ai tuyên bố và bỏ trống vào thời điểm Cloma phát hiện. Dường như có hai lỗ hổng trong tuyên bố này: thứ nhất, lập luận rằng các đảo terra nullius là mong manh và không thể tìm được chỗ dựa trong thực tế, thứ hai, lập luận rằng chính phủ Philippines đã kế tục tuyên bố của Cloma, một cá nhân hành động theo năng lực cá nhân, là đáng nghi vấn. Tuy nhiên, thực tế Philippines đã thực thi chủ quyền và chiếm cứ hòa bình 8 trong số các đảo trong biển Đông từ năm 1978, điều đó có thể có ưu thế trong luật pháp quốc tế.

Tuyên bố của Malaysia chủ yếu dựa trên một sự hiểu sai Công ước LOS. Chế độ của thềm lục địa theo quy định theo Điều 76 của Công ước LOS chỉ đơn thuần cho các quốc gia ven biển có quyền yêu sách các nguồn tài nguyên dưới đáy biển thuộc về nó, nhưng không ủng hộ pháp lí một tuyên bố chủ quyền đối với các đảo nằm ở thềm lục địa của nó. Tuy nhiên, yêu sách của Malaysia vẫn có thể có ưu thế áp dụng theo quy định của luật quốc tế, bằng cách dựa theo một tiêu chuẩn pháp lí khác. Lí lẽ cho điều này là Malaysia chiếm cứ hòa bình và liên tục của các đảo mà họ yêu sách mà không có nước nào khác yêu sách hoặc bị bất kì nước đang yêu sách quần đảo Trường Sa chiếm cứ.

Brunei tuyên bố chủ quyền rạn san hô Louisa, đó là một thể địa lí ngầm dưới mặt biển có thể có ưu thế áp dụng chính đáng theo luật quốc tế trên cơ sở Điều 76 của Công ước LOS. Tuy nhiên, Brunei phải chứng minh rằng các rạn san hô này nằm bên trong phần mở rộng của thềm lục địa của họ. Mặt khác, Brunei tuyên bố chủ quyền bãi ngầm Ba Kè, cũng khẳng định tương tự trên cơ sở các nguyên tắc thềm lục địa mở rộng, có thể không thoả đòi hỏi của Công ước LOS vì Vùng trũng East Palawan chia tách bãi ngầm Ba Kè với Brunei và ngắt ngang sự kéo dài tự nhiên thêm lục địa của họ.
............

Saturday, July 21, 2012

Con đường giải quyết tranh chấp ở Nam Hải - Quốc tế hóa vấn đề Nam Hải



Con đường giải quyết tranh chấp ở Nam Hải - Quốc tế hóa vấn đề Nam Hải

-----------------------------------------------------------------------------------------
Hu Zi dịch
Chu Phương(周方)

Chủ nghĩa yêu nước cũng cần phải thực sự cầu thị (dựa vào thực tế giải quyết), nếu không cũng chỉ là mong ước viển vông, không ai phục tùng cái dâm ý đó cả. Nam Hải là lãnh hải của Trung Quốc hay là vùng biển quốc tế (công hải)? Vấn đề này cần phải dựa vào thực tế để giải quyết, trong lịch sử loài người, chỉ có một quốc gia đã từng ôm trọn đại dương mà không có ai tranh chấp cùng, đó chính là cường quốc đã từng huy hoàng ngang dọc qua khắp các lục địa Âu - Á - Phi, ôm cả Địa Trung Hải, đó chính là đế quốc La Mã. Đáng tiếc là cái thời này đã một đi không trở lại rồi. Bất luận là Trung Quốc hay là nước nào khác, muốn độc chiếm Nam Hải là không thể nào. Cho dù là thông qua chiến tranh chiếm được trong chốc lát, trong tương lai sẽ là chiến tranh và đổ máu qua lại không ngừng nghỉ. Chiến tranh không thể là phương hướng phát triển cho một thế giới văn minh trong tương lai. Ngày nay, nếu Trung Quốc muốn khống chế Nam Hải mà không bị các quốc gia xung quanh can thiệp, phản ứng lại thì cách duy nhất là đoạt lấy nó thông qua các thủ đoạn kinh tế “chinh phục” các quốc gia xung quanh, kiến lập nên một vòng cung ôm lấy xung quanh Nam Hải “đế quốc kinh tế La Ma". Nếu không làm như vầy, tranh chấp Nam Hải sẽ không có biện pháp nào giải quyết rốt ráo cả.

Những người cộng sản thường ở trong mâu thuẫn “dành cả đời đấu tranh chống lại cường hào ác bá, cuối cùng lại biến thành địa chủ ác ôn” dành cả cuộc đời hô hào “Giai cấp vô sản toàn thế giới đoàn kết lại” , tiến tới xây dựng “đất nước cộng sản” thường cầm gươm súng đứng lên. Đều thường tự khen mình là người vĩ đại đối với chủ nghĩa quốc tế, nhưng lại chỉ vì một miếng đất bé tí teo hay là vì cái gọi là “quốc bảo” mà oánh nhau sứt đầu mẻ trán. Từ trước tới nay đều là từ ngữ đao to búa lớn “với giai cấp phong kiến như thủy hỏa bất dung” , trong thực tế thì cái mộng tưởng kế tục toàn bộ địa bàn bị những di sản “lãnh thổ” bị lãng quên phá hỏng.

Trước mắt, cái gọi là “Tam Sa Thị” mới thành lập lại chứng minh đầu óc không được tỉnh táo của người “nước lạ” nào đó, đồng thời dẫn sự cảnh giác không cần thiết của những nước láng giền và cả công luận quốc tế. thành phố Tam Sa với tổng diện tích hơn 2.6 triệu km2 là một con số kinh nhânngười vẽ ra cái thành phố Tam Sa này còn ngây thơ hồn nhiên tới mức mang cả toàn bộ Nam Hải” quy hoạch” thành một cái thành phố địa cấp. Làm như thế này có thực tế không? Có khả năng thành hiện thực không? Có tin cậy không? Mày đọc xong có tin là thật không?

Về vấn đề Nam Hải, cho dù chúng ta cam tâm tình nguyện bảo vệ cũng chắc gì đã được quốc tế công nhận. trên thực tế không hề tồn tại cái gọi là “đường biên giới” và cả cái gọi là “chủ quyền” “toàn vẹn lãnh thổ” nào cả. Cho dù có một số ít người nêu lên câu hỏi cơ bản nhất cũng là đơn giản nhất: Nam Hải là lãnh hải của Trung Quốc hay là vùng biển quốc tế (công hải) ? Nếu không làm cho rõ vấn đề này, chẵng những vấn đề tranh chấp trên biển không thể giải quyết được, người dân trong nước cũng mơ mơ hồ hồ về vấn đề lãnh thổ của quốc gia, cứ tiếp tục thế thì chiến tranh là cái đích của chúng ta!

Đầu tiên, bất luận là từ lịch sử hay trên thực tế thì Nam Hải trước nay không phải là lãnh hải của Trung Quốc, sau này cũng không có khả năng. Không những thế, trong thực tế Trung Quốc trước nay chưa hề có những hành động thực thi chủ quyền trên toàn bộ Nam Hải. Điều đáng cười là thứ duy nhất mà có thể biểu thị cái quyền làm chủ đó của Trung Quốc chính là cái “bản đồ Trung Quốc” mà chúng ta in ra nhưng lại không được chấp nhận bởi quốc tế. Chúng ta từ hồi nhỏ ngày ngày xem cái bản đồ này mà lớn lên, hầu như trước nay chẳng có hoài nghi nào đối với những vùng bên trong cái vạch màu đỏ đỏ được xưng danh “biên giới” trên biển kia có thực sự thuộc về chúng ta hay không. Cái thành phố Tam Sa mới đẻ ra kia lại một lần nữa cưỡng hóa ấn tượng đối với chúng ta – một ấn tượng sai lầm và tai hại về cái “biên giới Trung Quốc” không tồn tại kia. Nguyên nhân là vì cái Nam Hải này trước nay chưa từng thuộc về Trung Quốc.

Thành phố Tam Sa thành lập rồi, vấn đề phát sinh cũng theo đó mà tới: theo như ý nghĩ của người vẽ ra Tam Sa, cả cái Nam Hải rộng lớn đều thuộc về Tam Sa Thị, tự nhiên cũng thuộc tỉnh Hải Nam, tất cả cũng là thuộc về Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Tất cả những điều này có thực tế không???

Giả sử Nam Hải là lãnh hải Trung Quốc, Trung Quốc sao lại có thể “vui mừng” cho phép tàu thuyền nước ngoài không thông qua sự cho phép của chính phủ Trung Quốc lại tự do đi lại trong “Trung Quốc Nam Hải” ? Giả sử chính phủ chúng ta cho rằng có quyền đối với toàn bộ “Trung Quốc Nam Hải” “Chủ quyền không thể tranh cãi” và đồng thời với nguyên nhân sức mạnh quốc gia hay một nguyên nhân bất khả kháng nào đó, ít nhất cũng phải có một âm thanh phản đối kháng nghị với tàu thuyền các nước đi qua chứ?

Giả sử nếu chính phủ chúng ta có toàn quyền đối với Nam Hải, vậy thì bây giờ động võ đuổi hết những kẻ chiếm đóng thì cũng có thể xem là hợp với lẽ trời chính đáng chứ? Thậm chí tàu đánh cá cũng không được phép bén mảng tới.
Vốn cho rằng đối với vấn đề Nam Hải, chỉ có lòng yêu nước thôi là không bao giờ đủ cả. Cần phải có cả tinh thần thực tế lẫn pháp luật. Nói cho cùng thì Trung Quốc là một thành viên của cộng đồng quốc tế, cần phải giống như tuyệt đại đa số các nước khác tuân theo lệ quốc tế hay những chuẩn mực mà quốc tế công nhận để quy chuẩn và điều chỉnh những vấn đề mang tiếng quốc tế. Trên bình diện quốc tế, Trung Quốc tuyệt đối không thể học tập Bắc Hàn, làm thế chỉ có nước trở thành kẻ bị xa lánh, rơi vào bốn bề đối diên với địch, nguy cơ trùng trùng.

Đối với vấn đề xác định lãnh hải, lãnh thổ thì luật quốc tế có quy định rất rõ ràng. Đem Nam Hải ra bàn, rõ ràn xung quanh nơi này không phải chỉ có duy nhất Trung Quốc, Nam Hải không phải được bao quanh bởi lãnh thổ Trung Quốc, Nam Hải không thể là nội hải của Trung Quốc được. Đã không phải là nội hải, lẽ đương nhiên càng không phải là Trung Quốc lãnh hải.
Trong thực tế, xung quanh Nam Hải ngoài Trung Quốc còn có các quốc gia khác, đây là sự thật mà chúng ta cần chấp nhận. Trừ phi chúng ta không thừa nhận Việt Nam, Philippin và các quốc gia xung quanh khác không phải là quốc gia, chi bằng dùng vũ lực “thu hồi” , cái này thì tao không có ý kiến ý cò gì.
Nam Hải đã không phải là nội hải và lãnh hải của Trung Quốc, vấn đề Nam Hải sẽ dính dáng lien quan tới các quốc gia khác, dính dáng tới quan hệ quốc tế phức tạp. Như vậy thì vấn đề Nam Hải chính xác là một vấn đề quốc tế. Đã là “quốc gia không phân lớn nhỏ, nhất luật bình đẳng” là một nguyên tắc được quốc tế công nhận rộng rãi, bao gồm cả Trung Quốc bên trong, vậy thì Trung Quốc đối với việc xử lí vấn đề Nam Hải cũng phải tính đến quyền lợi hợp pháp của các quốc gia láng giềng. Cái lối suy nghĩ cứng nhắc đánh chết cũng không thừa nhận đây là vấn đề quốc tế chỉ làm trò cười cho dư luận quốc tế, càng đừng nói tới chuyện phá nổi thế kẹt hiện nay.
Đồng dạng như thế, về chuyện giải quyết vấn đề Nam Hải, nếu như Trung Quốc cố ý độc hành với quan điểm và cách hành xử từ xưa đến nay để giải quyết các tranh chấp quốc tếvấn đề Nam Hải vĩnh viễn không có giải quyết được.

Nói như vậy, Trung Quốc đầu tiên phải nhìn vào thực tế, thừa nhân Nam Hải là một vấn đề quốc tế, cần phải tiếp thu ý kiến kí cò của dư luận quốc tế, cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế và dùng nó để giải quyết tranh chấp.
Có một vấn đề cần nói rõ chính là người Trung Quốc chúng ta khi nói đến vấn đề” lãnh thổ” thường là nói mê nói sảng lung tung tùng phèo thời cổ đại và đương đại với nhau. Mỗi khi nhắc đến lãnh thổ Trung Quốc, có rất nhiều người đều kích động nhớ lại thời nảo thời nào thì chính quyền Trung Hoa đã thực thi quyền làm chủ của mình đối với một vùng đất nào đó, và có vẻ như cho đó là minh chứng hợp pháp cho đòi hỏi của chính quyền Trung Quốc hiện nay đối với nơi đó với luận điệu” chủ quyền không thể chối cãi”.
Có thể bạn không biết chứ Trung Hoa cổ đại và Trung Quốc hiện nay không phải là một . Giữa hai thực thể này ngoài việc kế thừa ở một chừng mực nhất định nào đó về văn hóa ra, căn bản không có tí liên hệ nào cả(nguyên văn là “không có một hào một xu nào quan hệ cả”). Nếu nói một cách nghiêm túc, Trung Quốc đương đại và Trung Quốc hiện đại không những quan hệ xa cách cả dặm, càng cách xa Trung Quốc cổ đại như là lông bò với lông ngựa.
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hiện tại chúng ta có thể khống chế vùng lãnh thổ chính là lãnh thổ của chúng ta, muốn nhiều hơn nữa thì chỉ có thể thông qua kể chuyện, đàm phán, đấu tranh chính trị hay thậm chí là chiến tranh. Cái đó thì phải trông vào bản lĩnh kể chuyện cũng như sức mạnh về kinh tế và quân sự của bọn mày rồi.

Vấn đề là: Thế giới hiện nay có cần thiết phải dùng biện pháp chiến tranh để tranh giành lãnh thổ? Có cần thiết phải dùng vũ lực để phát triển?

Tôi sợ nhất là có bọn nào đó thích mang chuyện triều nhà Nguyên ra để nói, bọn họ cũng không dừng lại tí mà nghĩ, vào thời Nguyên thì Trung Quốc ở đâu? Vào triều Nguyên thì Trung Quốc chỉ là một “quốc thổ” trong “Tứ đại khu vực” .
Tôi khâm phục nhất là một vị tài xế người dân tộc Mông Cổ có trò chuyện qua với tôi, năm kia đi Nội Mông Cổ chơi, ngồi trong xe việt dã do người lái xe dân tộc Mông Cổ lái, trên đường chúng tôi trò chuyện thoải mái với nhau, tôi có vô ý hỏi một câu này: “Mấy năm nay các phong trào hoạt động đòi độc lập cho Tân Cương, Tây Tạng hoạt động mạnh, hình như không thấy có phong trào đòi độc lập cho Nội Mông?”

Tài xế trả lời làm cho tôi phải kính nể “chúng tao đã từng thống trị Trung Quốc, còn muốn độc lập cái gì nữa”. Đúng vậy, một dân tộc đã từng để dẫm một nửa thế giới dưới gót giày thì quả nhiên có khí độ to lớn.
Lấy một ví dụ nữa thời nhà Nguyên. Có một dạo nói về vấn đề Tây Tạng, luôn có người thích lấy Văn Thành công chúa lên Tây Tạng ra nói. Sau đó sao lại không có ai nhắc tới nữa vậy? nguyên nhân rất đơn giản, có người đặt nghi vấn: “nếu như nói Văn Thành công chúa tiến vào Tây Tạng làm cột mốc cho Trung Quốc bắt đầu thực thi chủ quyền ở Tây Tạng, thì Văn Thành công chúa chỉ là vợ của Tùng Tán Can Bố, vợ lớn của ông ta là công chúa Nepal, vậy thì công chúa Nepal vào Tây Tạng có ý nghĩa gì?”
Như vậy vấn đề Tây Tạng có thể nói trong câu “Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Tây Tạng (Datlai Lama cũng không phủ nhận ở điểm này)” (đây là lời thằng viết nhá, chứ mềnh ko nghĩ thế) . Những thứ khác đều là vứt đi, không có giá trị gì, nếu có bản lĩnh thì vác súng tới mà cướp!

Quay lại vấn đề chính, nhìn lại làm sao để giải quyết vấn đề tranh chấp nóng bỏng trước mắt ở Nam Hải.

Tàu thuyền nước ngoài tự do đi lại ở Nam Hải, các nước láng giềng chiếm giữ hầu hết các đảo và đá ngầm, ngư dân các nước từ đời đời kiếp kiếp đều đánh cá ở các ngư trường này, gần đây thì các nước tha hồ hút dầu khí….Những cái này nói lên điều gì??? Nói lên rằng Trung Quốc không thể và cũng không có khả năng làm chủ toàn bộ vùng biển Nam Hải, trước mắt cũng không thể” thu hồi” toàn bộ “lãnh thổ bị chiếm đóng” . Mang toàn bộ Nam Hải để vào trong cái thành phố Tam Sa mới đẻ cũng chả có tác dụng gì. Có bản lĩnh thì mày thử mang cả Thái Bình Dương vẽ vào trong bản đồ đi xem nào (há há câu này hay)

Vậy thì, muốn thực hiện việc giải quyết vấn đề Nam Hải một cách hòa bình thì phải làm thế nào? Chỉ có thể dùng biện pháp hòa bình, thông qua con đường đàm phán hòa bình, hoan nghênh sự tham gia của dự luận quốc tế. Nam Hải đã không phải là nội hải và lãnh hải của Trung Quốc, vậy thì cùng quốc tế khai thác Nam Hải là một lựa chọn tất yếu. Mọi ý đồ thông qua vũ lực và biện pháp chiến tranh để giải quyết vấn đề Nam Hải đều là tư duy cũ, là một hành động đi lùi lại.
Hiện nay âm thanh kêu gọi chiến tranh ở trong và ngoài nước có vẻ như rất mạnh, đến độ điếc cả tai. Nghe kĩ một chút thì ngoài một số mù quáng ăn theo ra, hò hét to mồm nhất là những kẻ có ý đồ hay những đại diện của các tập đoàn lợi ích. Nước nào cũng vậy cả thôi

Làm cái tàu sân bay đi, sản xuất hàng loạt J-20 nào, tích cực đầu tư phát triển tên lửa tầm xa thôi… Đối với những người không thể phát tài nhờ chiến tranh hay những người không thích chiến tranh, tôi chỉ nói một câu “đừng có mở mồm hò hét theo nữa, lo mà xem nhà chúng mày không bị dỡ ra là may rồi.” Phát triển quân sự, chuẩn bị chiến tranh đối với nhân dân không bao giờ là chuyện tốt cả, những kẻ kiếm tiền nhờ chiến tranh vĩnh viễn là kẻ thù của nhân dân.

Nói một câu, con đường giải quyết tranh chấp Nam Hải trong tương lai chỉ có thể là Trung Quốc và các nước trên thế giới hòa bình phát triển kết hợp với nhau. Các nước xung quanh Nam Hải cũng như các thế lực khác, quốc gia có năng lực cùng nắm tay nhau khai thác Nam Hải, bảo vệ hòa bình cũng như môi trường sinh thái Nam Hải.

Từ xưa, Trung Quốc luôn lập quốc bằng văn hóa, cho đến ngày nay, Trung Quốc mới lần đầu dùng ý định vừa tiếp tục bảo vệ nền văn hóa truyền thống, đồng thời đầu tư phát triển kinh tế, học cách dùng kinh tế để giao hảo với dư luận thế giới. Giả như Trung Quốc và các nước xung quanh Nam Hải dùng biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bắt tay nhau hợp tác, cùng nhau phát triển, tương lai với hạt nhân là Trung Quốc, cùng với các nước xung quanh Nam Hải là những đối tác hợp tác thân thiết, Nam Hải biến thành “nội hải” của “đế quốc kinh tế La Mã” – Khu vực kinh tế vùng Nam Hải” hoặc là “Cộng đồng kinh tế Nam Hải” (giống kiểu EU) cũng không phải là mơ tưởng không có thực. Trên thực tế, hiệp ước các nước Đông Nam Á còn cách mục tyêu này không xa. Tất nhiên điều đầu tiên là Trung Quốc không thể đối đầu với họ, nếu không thì không còn gì để nói cả.

Có thể có người nói rằng tôi thuộc loại người theo chủ nghĩa lí tưởng. Tuy nhiên thế giới hòa bình phát triển là mong ước cao nhất của nhân loại. Có người nào lại suốt ngày chỉ mơ ước chiến tranh? Trừ phi đó là con bệnh nghiện chiến tranh hay những kẻ mưu lợi vào chiến tranh.
Cũng cần phải cảnh giác với một số kẻ muốn đưa Trug Quốc vào cuộc chạy đua vũ trang, nhảy vào chiến tranh để những kẻ này bán vũ khí. “Mối đe dọa Trung Quốc” cũng được, mang chiêu bài Trung Quốc cũng xong, những nước này đều có mục tiêu là làm yếu Trung Quốc, đạt được mục đích riêng của bọn họ. Mọi lời kêu gọi vũ lực từ dân chúng chỉ càng là đổ thêm củi lửa vào màn kịch “yêu ma hóa Trung Quốc” của những thế lực nước ngoài.

Một số người ở nước ngoài đối với tương lai họ nhìn thấy rất rõ. Họ lo lắng Trung Quốc sẽ mang cả cách thức phát triển như hiện tại để đi tới tương lai, sẽ có ngày trở thành số 1 thế giới. Nhưng bọn họ có một điểm không thể hiểu rõ, đó chính là Trung Quốc tự cổ chí kim đều không phải dùng vũ lực để chinh phục các quốc gia và dân tộc khác. Trong một thời gian dài, thủ đoạn chinh phục duy nhất của Trung Quốc đó chính là dùng văn hóa, bây giờ có thêm kinh tế, nhưng sẽ không bao giờ là quân sự. Bởi vì quan niệm truyền thống của Trung Quốc không cho phép, đạo lí Khổng Mạnh không cho phép. Bản tính của người Trung Quốc cũng không cho phép.

Mỗi lần tôi lái xe trên đường cao tốc đi qua Sơn Đông, đều nhớ rõ câu danh ngôn  “Sơn Đông hiếu khách đón chào bạn!” Sơn Đông là nơi của lễ nghĩa, thậm chí người Sơn Đông còn được xưng là người kế thừa kiểu mẫu của văn hóa Trung Hoa, Sự hiếu khách của Sơn Đông cũng chính là hình ảnh thu nhỏ của Trung Quốc. Trung Quốc hiếu khách làm cho chiến tranh tránh xa.

Có thể có người nói sự khoan dung, nhẫn nhịn của Trung Quốc chỉ làm cho các nước láng giềng càng ngang ngược, đến hiếp đáp Trung Quốc. Sự thật là thế này? Chúng ta chỉ nhìn thấy tàu thuyền của quân đội Hoa Kỳ đi khăp nới trên thế giới quản chuyện nhà người, thế chúng mày đã nhìn thấy tàu thuyền của Trung Quốc đi tranh chấp không ngừng với các nước xung quanh chưa? Nước Mỹ có suốt ngày yêu cầu các nước lân bang tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ không?

Có thể nói, mấu chốt là Trung Quốc chúng ta cần phải phát triển, cần phải hùng mạnh, có đủ sức mạnh mới đủ sức chấn nhiếp và bảo vệ quyền lợi của bản thân. Nước Mỹ có thể có cả trăm điều làm người ta chán ghét, nhưng sức mạnh Mỹ thì người ta không thể không nể phục. Nước Mỹ đáng để cho Trung Quốc học tập nhất chính là nắm bắt mọi cơ hội để phát triển vươn lên hùng mạnh. Bí mật giàu mạnh của nước Mỹ không nằm ở chiến tranh mà ở kì tích bảo vệ nền hòa bình kéo dài trên trăm năm ngay trên chính nước Mỹ. Trên thế giới nào có siêu cường nào được may mắn như thế không? Có lẽ là không có.
Hòa bình phát triển luôn tốt hơn chiến tranh phá hoại, hòa bình càng có lợi hơn đối với sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.