Monday, May 2, 2016

Bằng chứng lịch sử của Trung Quốc chủ yếu là bịa hay mánh mun

Bằng chứng ‘lịch sử’ trong tuyên bố của Trung Quốc ở biển Đông là gì? Một khảo sát các tài liệu tiền hiện đại có liên quan của Trung Quốc


Johannes L. Kurz

Bài viết trình bày tại hội thảo ‘Reframing the South China Sea’ (Tái định hình biển Đông), Viện Nghiên cứu Châu Á, 11-12/11/2013, Đại học Brunei Darussalam


1. Mở đầu


Điểm khởi đầu cho bài viết này là bản văn do Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công bố trên trang mạng của họ vào ngày 17/11/ 2000.[1] Tài liệu này mang tên “Bằng chứng lịch sử hậu thuẫn chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Nam Sa” (sau đây gọi tắt là “Bằng chứng lịch sử”) được đưa ra để biện minh cho yêu sách của Trung Quốc đối với biển Đông qua việc chỉ ra rằng những người đi biển Trung Quốc là những người đầu tiên đặt tên và ‘khai phá’ nhiều đảo và khu vực tranh chấp.[2] Bài viết này sẽ làm nổi rõ các tài liệu thời tiền hiện đại được nói là mô tả vùng biển Đông, và bàn luận về các cách mà giới học thuật Trung Quốc hiện đại giải thích chúng.[3]


2. Các nguồn


Các học giả Trung Quốc đã xác định một số từ ngữ trong các tài liệu lịch sử đó mà vào lúc này hoặc khác họ tin rằng được dùng để chỉ quần đảo Hoàng Sa [西沙群島:Tây Sa quần đảo], nhóm đảo Pratas [東 沙 群島: Đông Sa quần đảo], bãi ngầm Macclesfield [中 沙 群島: Trung Sa quần đảo], hoặc quần đảo Trường Sa [南沙群島: Nam Sa quần đảo]. Các đoạn văn được trích dẫn từ các tài liệu tiền hiện đại như là bằng chứng về kiến thức liên tục về những nơi này trong các triều đại kế tiếp nhau.

Các tài liệu theo thứ tự xuất hiện của chúng trong “Bằng chứng lịch sử’ là cuốn Dị vật chí [異物志] của Dương Phu [楊孚] thời Hậu Hán (25-220 CE) và Phù Nam truyện [扶南传] của Khang Thái [康泰] thời Tam Quốc ( 220-280 CE).

Đối với thời nhà Đường (618-907) và nhà Tống (960-1279), ngoài việc nêu một cách chung chung về các nguồn cùng việc liệt kê một số các từ địa lí được cho là dùng để mô tả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong hai thời kì này, không có một tài liệu cụ thể nào được chỉ ra.

Đối với thời nhà Nguyên (1279-1368) cuốn Đảo di chí lược [島夷誌略] (Ghi nhận vắn tắt về các đảo của bọn di, 1350) của Uông Đại Uyên [汪大渊] (fl. 1311-1350) đã được nêu tên, đối với đời Minh (1368-1644) là Hỗn nhất cương lí lịch đại quốc đô chi đồ [混一疆理歷代國都之圖] (bản đồ tổng hợp các vùng lãnh thổ và thủ đô qua các triều đại)[4] , và đối với đời Thanh (1644-1911) là Canh lộ bạ [更路簿] (Sổ ghi chép về đường đi [biển đời nhà Thanh]).[5]


2.1 Dị vật chí


Dị vật chí [異物 志] (Ghi chép về các sự vật bất thường) được tập hợp thành một quyển (卷) lần đầu tiên vào thời Đông Hán (25-220 CE) chứa các mô tả về các giống dân và các nước ở biên giới đế quốc Trung Hoa. Mở rộng và bổ sung nhiều lần cho đến đời nhà Đường, công trình này đã bị thất lạc vào cuối thế kỉ thứ 10. Các mảnh còn sót lại đã được Nhà xuất bản Khoa học Kĩ Thuật Quảng Đông [广东科技出版] xuất bản năm 2009, và sau đó bởi Nhà xuất bản Nhân dân Quảng Đông [广东人民出版社] năm 2010.[6] Bản hiện đại trong Dị vật chí tập dật giáo chú dẫn công trình của Hoàng Thái Tuyền [黃泰泉] (1490-1566), cuốn Quảng Đông thông chí [廣東通志] vốn được xác định như là theo đúng bản gốc.[7] Điều này là có vấn đề vì Hoàng Thái Tuyền là tác giả của Quảng Tây thông chí [廣西通志,] chứ không phải Quảng Đông thông chí vốn do tác giả khác tên Quách Phỉ [郭棐] (1529-1602) đời Minh biên soạn. Bất kể dẫn tài liệu nào mới là tài liệu chính xác, điều lạ là tài liệu trước tiên được đem ra để trích dẫn đoạn văn gốc lại là cuốn sách đời Minh. Thật ra còn có một nguồn xưa hơn cho đoạn văn này, đó là Thái bình ngự lãm [太平禦覽], một bách khoa toàn thư được biên soạn dưới triều Thái Tông, hoàng đế thứ hai nhà Tống .[8] Trong mục từ thạch [磁石], Thái bình ngự lãm không nêu sách Dị Vật chí gốc của Dương Phu mà lại nêu Nam Châu dị vật chí [南州異物志][9] (1 quyển) do Vạn Chấn [萬振] thời Tam Quốc (220-280) biên soạn.[10] Ta chỉ có thể đoán rằng những người biên tập Dị vật chí tập dật giáo chú thích dẫn tài liệu nhà Minh hơn các tài liệu cũ hơn vì nó nới rộng kiến thức của Trung Quốc về biển Đông thêm một trăm năm.

Đoạn văn gốc trong Dị vật chí ghi như sau: “Trướng hải khí đầu, thuỷ thiển nhi đa từ thạch, ngoại chước nhân thừa đại thuyền, giai dĩ thiết tham tham chi. Chí thử quan, dĩ từ, bất đắc quá” [漲海崎頭, 水淺而多磁石, 外繳人乘大船, 皆以鐵探探之. 至此關, 以磁,不得過] (Ở những chỗ đá gồ ghề trong biển dâng (trướng hải), nước cạn nhưng có nhiều đá nam châm. Người nước ngoài gia cố tàu lớn của họ với tấm sắt. Khi đến chỗ biển này, họ không thể vượt qua do bị đá nam châm hút).[11]

Phần viết về các [bốn] sắc dân man di (四夷 部: Tứ di bộ) trong Thái bình ngự lãm cung cấp đoạn văn tương tự dẫn từ Nam Châu dị vật chí [南州異物志] như sau: “(Nước) Câu Trĩ [句 稚] nằm cách Điển Du [典 游] 800 lí . ... Có những tảng đá gồ ghề lớn trồi lên khỏi biển dâng (trướng hải). Ở đó nước cạn và có nhiều đá nam châm”.[12]

Trang web của Bộ Ngoại giao dịch đoạn văn có liên quan như sau: “Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá và bãi ngầm trong Nam Hải, ở đó nước cạn và có nhiều đá hoặc đá nam châm” (Trướng hải, khí đầu thuỷ thiển nhi đa từ thạch [涨海崎头,水浅而多磁石]).

Rõ ràng là bản dịch chính thức này diễn giải một cách tuỳ tiện văn bản gốc qua việc thêm vào “những đảo nhỏ, cồn cát, đá và bãi ngầm” và qua việc khẳng định trướng hải [漲海] (‘biển dâng’) là Nam Hải (biển Đông).


2.2 Phù Nam Truyện


Phù Nam Truyện [扶南传] là một tường thuật của Khang Thái [康泰] và Chu Ứng [朱應] về chuyến đi của họ tới Phù Nam (chỗ miền Nam Việt Nam hiện nay) vào thế kỉ thứ 3. Nó cũng thường được gọi là Ngô thời ngoại quốc truyện [吳時外國傳] (Chuyện nước ngoài thời Ngô).[13] Chỉ còn một số mảnh lưu giữ trong bách khoa toàn thư đời Đường và Tống được Trần Giai Vinh [陳佳榮] tập hợp và xuất bản.[14] Tôi đã đọc được đoạn văn ngắn có liên quan từ bản gốc trích dẫn từ Thái bình ngự lãm như sau: “Trong biển dâng (trướng hải 漲 海) ta sẽ gặp nhiều đảo san hô[15] mà từ nền móng của chúng san hô phát triển lên trên.” (涨海中, 到珊瑚洲, 洲底有盤石, 珊瑚生其上也: trướng hải trung, đáo san hô châu, châu để hữu bàn cổ, san hô sinh kí thượng dã).[16]

Trong khi đó Bộ Ngoại giao dịch lại câu này là “Ở Nam Hải, có những đảo san hô và rạn đá; dưới các đảo và rạn đá này là đá mà trên đó các loài san hô đã được hình thành.” Điều mà cách dịch này cố làm là nó quy trướng hải là biển Đông như đã làm trong đoạn văn trước đó, và thay vì dịch [‘san hô châu’] thành ‘các đảo san hô’ thôi, lại thêm vào cả ‘các rạn đá’ nữa. Cách dịch thêm thắt này mở rộng thẩm quyền đối với những kiến tạo địa chất gần như luôn chìm dưới nước. Rõ ràng từ quyết định là từ trướng hải.[17] Roderich Ptak đã chỉ ra rằng lời lẽ cuối cùng về cách giải thích cho từ này chưa được đưa ra, và việc thảo luận về nó vẫn còn đang tiếp diễn.[18] Trong nghiên cứu chi tiết trước đó về từ này, Ptak giải thích rằng trướng hải.– một từ mà ông chỉ dịch là biển trướng (“Zhang Meer”) – là một từ dùng để tả vùng biển ngoài khơi Quảng Đông, xung quanh đảo Hải Nam, và vịnh Bắc Bộ. Mặt khác, khi chú ý tới tất cả các cách mô tả xưa hơn, từ này sẽ bao gồm gần như toàn bộ các khu vực biển phía nam từ Quảng Đông đến Ấn Độ Dương.[19]

Như vậy trướng hải không nhất thiết để chỉ một khu vực địa lí hoặc biển cụ thể mà có vẻ là một từ chỉ định mơ hồ cho một khu vực không xác định.


2.3 Tài liệu đời Đường và Tống


Đáng chú ý là trang mạng không đưa ra một tài liệu cụ thể nào cho hai triều đại Đường và Tống [mà chỉ nói tổng quát là ‘các sách lịch sử và địa lí’].[20]

Để xác định “các sách lịch sử và địa lí” mà họ nêu cần truy lại một số các từ gán ghép địa danh bên trên.[21] Thân Kiến Minh (申建明) tin rằng tất cả những từ đó hoặc chỉ quần đảo Tây Sa hoặc chỉ quần đảo Nansha.[22] Điều này là dễ hiểu khi biết rằng tạp chí [đăng bài của Thân Kiến Minh] do các học giả người Trung Quốc chủ yếu sống ở Trung Quốc biên tập.

2.3.1 Cửu Nhũ Loa Châu [九乳螺洲]

Cửu Nhũ Loa Châu được nêu trong bộ sách quân sự Vũ kinh tổng yếu [武經縂要] (Những điều quan yếu về quân sự, 40 q.), một công trình do Tăng Công Lượng [曾公亮] (998-1078) tập hợp và trình cho vua xem năm 1044.[23] Đoạn văn có liên quan mô tả việc đi từ Quảng Châu ở Quảng Đông, ngầm hiểu là về phía nam:

“Từ Đàm Môn Sơn [Tunmen shan/屯門 山] lợi dụng một gió đông, sau khi đi theo hướng tây nam trong 7 ngày sẽ tới Cửu Nhũ Loa Châu [九乳螺洲]. Sau 3 ngày (đi thuyền) nữa sẽ đến Chiêm Bất Lao Sơn [占不劳山] ở biên giới của nước Hoàn Châu [環州).[24]

Lưu Nam Uy [劉南威] là người đầu tiên chỉ ra rằng Cửu Nhũ Loa Châu ‘phải chỉ quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) (應 指 西沙群島: ứng chỉ Tây Sa quần đảo)’.[25]

Đàm Môn Sơn rất có thể chỉ một khu trại được thành lập vào triều đại nhà Đường ở huyện Bảo An (寳安 縣) để chống lại cướp biển.[26]

Chiêm Bất Lao Sơn có thể chỉ một chuỗi các đảo nhỏ có tên là Cù Lao Chàm ngoài khơi bờ biển Việt Nam gần Đà Nẵng. Còn Hoàn Châu là một nước trong khu vực đó, rất có thể, nhưng không nhất thiết là Champa. Phần địa lí trong Tân Đường thư [新唐書] (chính sử nhà Đường, 1060) của Âu Dương Tu [歐陽修] (1007-1072) đưa ra một mô tả tương tự về khoảng cách và phương hướng, nhưng có hơi khác trong việc định danh:

“Từ Quảng Châu đi thuyền 200 lí theo hướng đông nam sẽ đến Đàm Môn Sơn. Với gió dịu đi về hướng tây, sau 2 ngày sẽ đến Cửu Châu Thạch [九州石]. Đi 1 ngày nữa về hướng nam sẽ đến Tượng Thạch [Xiang shi/象石]. Đi thêm 3 ngày theo hướng tây nam sẽ đến Chiêm Bất Lao Sơn [占不劳山]. Ngọn núi này nằm giữa biển cách nước Hoàn Vương [環王] 200 lí về phía đông”.[27]

Chúng ta có thể giả định rằng Cửu Châu Thạch là một tên khác của Cửu Nhũ Loa Châu. Với hành trình từ Đàm Môn Sơn đến Cửu Châu Thạch/ Cửu Nhũ Loa Châu [theo đoạn trích này] rút ngắn lại đáng kể nên vị trí của chỗ này phải gần Trung Hoa đại lục hơn rất nhiều so với điều Lưu Nam Uy muốn làm cho chúng ta tin (xem thêm bên dưới, Thất Châu [七洲]).

Rối rắm là Hàn Chấn Hoa lại cho rằng Tượng Thạch là từ để chỉ quần đảo Tây Sa,[28] còn Lưu Nam Uy, trái lại, một mực cho rằng Cửu Nhũ Loa Châu là từ để chỉ Tây Sa. Hàn Chấn Hoa nói rằng đoạn văn này trong Tân Đường thư có nguồn gốc từ một tài liệu mang tên Quảng châu thông hải di đạo [廣州通海夷道] (đường biển từ Quảng Châu tới các nuớc di [phía Đông]), do Giả Đam [Jia Dan/賈耽] (730-805) biên soạn. Tôi không kiểm tra được tính chính xác của phát biểu này vì không truy cập được các nguồn liên quan. Điều rõ ràng là ấn phẩm của Lưu Nam Uy năm 1985 và ấn phẩm của Hàn Chấn Hoa năm 1988 dù chỉ cách nhau một khoảng thời gian ngắn nhưng ý kiến về việc từ nào trong các nguồn nhà Đường chỉ quần đảo Tây Sa lại khác biệt rất nhiều.

Cho đến giờ đề cập khác duy nhất theo một nguồn đời Đường có dính dáng với Nam hải (biển Đông) là một đoạn văn trong Cựu Đường thư [舊唐書] (945). Đoạn văn này trong phần địa lí (地歷) như sau: “Nam hải cách huyện Hải Phong [海豐] 50 lí về phía nam, và đây là biển dâng (trướng hải) vốn rộng mênh mông.”[29]


2.3.2 Thiên lí trường sa [千里 長沙] và Vạn lí thạch đường [萬里 石塘]

Cách gán ghép địa lí chủ yếu trong lập luận chính thức cho các thời kì trước nhà Đường là trướng hải chỉ khu vực biển và khí đầu chỉ thể địa lí. Đời Tống, cuốn Chư phiên chí [諸蕃志] (Ghi chép về các nước phiên thuộc) của Triệu Nhữ Quát [趙汝适] (1165? -sau 1225) là một trong những tài liệu đầu tiên có nói đến các gán ghép ‘mới’ tiếp sau là thiên lí trường sa [千里長沙] (bãi cát dài ngàn dặm) và vạn lí thạch đường [萬里石塘] (bờ cát dài vạn dặm). Những từ này xuất hiện trong mô tả về đảo Hải Nam [海南]:

“Cát Dương [Ki-yang/吉陽] nằm ở cực (Nam) bờ biển (Hải Nam), vuợt ra khỏi đó không có đất đai, nhưng ngoài [biển] có hai đảo nhỏ, Ô Lí [烏里] và Tô Cát Lãng [蘇吉浪]. Chiêm Thành đối diện với nó về phía nam, và ở phía tây nó nhìn về phía Chân Lap. Về phía đông (Hải Nam) là “Thiên lí trường sa” (千里 長沙) và “Vạn lí thạch đường” (萬里石塘) và (bên ngoài đó) là đại dương bao la, nơi đó trời và biển hòa sắc với nhau, và tàu thuyền đi qua chỉ chạy theo kim chỉ nam—phải được theo dõi sát sao suốt ngày đêm— vì cái sống và cái chết chỉ phụ thuộc vào một sơ suất rất nhỏ”.[30]

Hàn Chấn Hoa cho rằng cả hai từ này “chỉ chung các đảo ở Nam hải, và từ đầu nhà Tống chúng đã nằm trong khu vực hành chính do Quỳnh Quản [瓊管] thuộc cung đường phía tây của Quảng Đông [廣東 西路瓊 管: Quảng đông tây lộ Quỳnh Quản] quản lí. Từ đó, theo đoạn văn trích dẫn ở trên, thì các đảo ở Nam hải kể từ năm thứ 5 triều Trinh Nguyên [貞元] nhà Đường (789) đã là một phần trong khu vực hành chính của Trung Quốc.”[31] Một lần nữa, chỉ một mô tả về một số mỏm đá xa xôi trong đại dương cũng đủ để khẳng định chủ quyền một khu vực phía nam đảo Hải Nam kể từ thời nhà Đường. Một lần nữa, không có nhiều thông tin được đưa ra, bởi vì chẳng có chút gì, và thay vì lập luận chỉ cứ khăng khăng quả quyết.

Ptak cho rằng cả hai từ này có thể dùng để chỉ chung các bãi cát ngầm và bãi cát, chứ không phải chỉ những đảo hoặc nhóm đảo cụ thể. Đối với ông không có chút bằng chứng nào cho thấy trường sa và thạch đuờng chỉ bất cứ thứ gì, chắc chắn chúng không nằm dưới sự quản lí của các triều đại Tống, Nguyên hay Minh. Tương tự như vậy ông cho rằng không có bằng chứng nào cho việc định cư của nguời Trung Quốc được tìm thấy trong các nguồn có liên quan.[32]


2.4 Tài liệu đời Nguyên


2.4.1 Đảo di chí lược (島夷誌略), 1350

Bản văn chính thức trên trang web của Bộ Ngoại giao đưa ra tiếp một tài liệu thời nhà Nguyên (1279-1368), đó là cuốn Đảo di chí lược [島夷誌略], 1350] (Ghi chép tóm tắt về các đảo của bọn di) của Uông Đại Uyên [汪大渊] (fl. 1311-1350).[33]

Trang mạng trích dẫn cuốn sách này như sau:

“Nền móng của Vạn lí thạch đường bắt nguồn từ Triều Châu. Nó chạy quanh co như một con rắn dài nằm dưới biển. Có thể truy tìm toàn địa mạch của nó. Một mạch như vậy vươn tới Java, một mạch khác tới Bột Nê [渤泥] (hoặc Burni, một vương quốc thời đó ở chỗ mà bây giờ là Brunei trong vùng lân cận đảo Kalimantan) và Cổ Lí Địa Muộn [古里地悶] (một vương quốc khác trên đảo Kalimantan), và một mạch chạy tới phía tây của biển về phía Côn Lôn [崑崙] (nhóm đảo Côn Sơn, nằm bên ngoài cửa sông Cửu Long cách Saigon khoảng 200 hải lí) ở phía xa.[34]

Và kết luận:
“Vạn lí thạch đường ở đây chỉ tất cả các đảo ở biển Đông, bao gồm cả quần đảo Nam Sa.”

Roderich Ptak đã chọn một cách tiếp cận rất thận trọng đối với vấn đề xác định vạn lí thạch đường và các từ có liên quan. Đối với ông trong một số trường hợp chúng có thể chỉ nói tới các nhóm đảo cụ thể, còn trong các trường hợp khác lại là tất cả các đảo đó. Ông lấy Đảo di chí lược làm ví dụ để giải thích rằng vạn lí thạch đường ngoài việc có thể chỉ Tây Sa và Nam Sa cũng có thể bao gồm Đông Sa (Pratas). Lí do cho giả định này là lí do địa lí, vì Triều Châu nằm ở phía bắc của Đông Sa.[35]

Bên cạnh những bình luận khác, bình luận hiện đại cho đoạn văn trong Đảo di chí lược liệt kê các công trình sau đây cũng như các nguồn cho vạn lí thạch đường và các gán ghép biến thể: Tống hội yếu [宋會要] (tổ chức đời Tống); Nguyên sử [元史] (chính sử nhà Nguyên); và Chư phiên chí [諸蕃志].[36]

Điều này có nghĩa là việc gán tên không phải của nhà Nguyên mà ít ra phát xuất từ thời nhà Tống. Do đó, sự liên tục trong kiến thức người Trung Quốc về vị trí này mà trang mạng gợi ra là không vững chắc như những người biên tập trang mạng muốn chúng ta tin theo. Đoạn văn trong Tống hội yếu ghi như sau:

“Những ai muốn đi tới Trung Quốc bằng đường biển, đi trong 5 ngày sẽ tới Ba Tư Lan [波斯蘭] và sau đó sẽ đến Côn Lôn Dương [崑崙 洋], đi ngang qua Chân Lạp [真 臘]. Sau vài ngày sẽ đến Mi(?) Đạt Gia [葿 (?) 達耶], sau vài ngày nữa sẽ đến lãnh thổ của Chiêm Thành [占城]. Đi xuyên qua biển phía đông nam gần (Chiêm Thành) trong 10 ngày, có những bãi đá (thạch đường 石塘) được gọi là vạn lí [萬里] (mười ngàn dặm). Biển ở đó đôi khi cạn, đôi khi sâu."[37]

Điều thú vị là phương hướng đưa ra được tính từ nước Chân Lí Phú [真里富], một nuớc dường như nằm đâu đó phía nam Quảng Châu, và do đó lộ trình trên liệt kê các địa điểm theo thứ tự xuất hiện từ nam đến bắc.

Hơn nữa, Vạn lí thạch đường có được nêu thoáng qua trong phần tiểu sử của Sử Bật [史弼] trong Nguyên sử, viên quan đã được phái đi sứ tới một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á năm 1292: “... khi qua khỏi Thất Châu Dương [七洲洋] và Vạn lí thạch đường, sẽ băng qua lãnh thổ của Giao Chỉ [交趾] và Chiêm Thành ....”[38]

Vạn lí thạch đường trong mô tả này có vẻ nằm ở phía bắc lãnh thổ của Giao Chỉ ở miền Bắc Việt Nam và của Champa ở miền Trung Việt Nam.

Mục vạn lí thạch đường trong Chư phiên chí tôi đã dẫn ở trên. Duơng Bác Văn [楊博文], người tập hợp phiên bản hiện đại, giải quyết vấn đề về việc có quá nhiều gán ghép được tìm thấy trong một số công trình tiền hiện đại bằng cách giải thích rằng “thiên lí trường sa phải chỉ quần đảo Tây Sa của chúng ta, và vạn lí thạch đường chỉ Đông Sa của chúng ta.”[39]

Điểm đặc biệt quan trọng mà ông nêu chỉ lướt qua là cuốn Quỳnh Quản chí [瓊管志], và chúng ta có thể sử dụng công trình này để chỉ ra một cách điển hình một số trích dẫn từ ‘rất nhiều tài liệu lịch sử và địa lí’ đã đi ra theo cách nào.

Quỳnh Quản chí, có lẽ được tập hợp vào đầu nhà Nam Tống, hiện không còn giữ đuợc trọn vẹn, chỉ còn sót một vài mảnh. Dư địa kế thắng [與地繼勝], một sách địa lí do Vương Tượng Chi [王象之] (fl. 1196-sau 1221) đời Nam Tống biên soạn, trích dẫn Quỳnh Quản chí trong mục nói về đồn Cát Dương (吉陽軍: Cát Dương quân) trên đảo Hải Nam như sau: “... Vượt ra ngoài biên giới (Cát Dương) có các đảo Ô Lí [烏里], Tô Mật [蘇密], và Cát Lãng [吉浪], và đối diện nó là Chiêm Thành. Về phía tây là Chân Lạp và Giao Chỉ, và phía đông của nó là thiên lí trường sa và vạn lí thạch đường.”[40]

Chúc Mục [祝穆] (? -sau 1246) cũng trích dẫn cùng nguồn này trong Phương dư thắng lãm [方輿勝覽] (Những cảnh đẹp thế giới),[41] Chư phiên chí, và Tống hội yếu (xem ở trên).

Tống hội yếu cũng có thêm một đoạn ngắn về bãi cát ngầm trong phần mô tả về Chiêm Thành. Tài liệu này ghi: “(Năm 1018) La Bì Đế Gia [羅皮帝加] (sứ của vua Champa) nói: ‘Khi dân nước tôi muốn đi thuyền đến Quảng Châu, gió sẽ thổi thuyền về phía thạch đường [石堂], và do đó mà nhiều năm liên tiếp họ không thể đến (Quảng Châu) được.’”[42] Cách hiểu thạch đường là bãi cát ngầm (thạch đường /石塘) trong trường hợp này xuất phát từ Tống sử, biên soạn trong các năm 1343-1345, vốn theo nguyên văn bản gốc.[43] Rối rắm là Tục tư trị thông giám trường biên [續資治通監長編] (1183), một cuốn sử biên niên triều Bắc Tống, vẫn giữ nguyên dạng thạch đường [石堂].[44] Vì vậy rất khó để đánh giá liệu từ thạch đường này thực sự chỉ các bãi cát ngầm hay là một nơi hoàn toàn khác - mặc dù xác suất chỉ ra rằng không phải vậy.

Lĩnh ngoại đại đáp [嶺外代 答] (1178) của Chu Khứ Phi [Zhu Qufei/周 去非] (? -sau 1178) là một sách mô tả về phần phía nam đất nhà Tống. Almut Netolitzkỉ không coi trường sa thạch đường [長砂石塘] là một định danh về địa lí, mà dịch nó như là một thuật ngữ địa hình (“eine lange Sandbank” (một bãi cát dài)) mà thôi.[45] Theo chiều ngược lại, Dương Vũ Tuyền [楊武泉], người biên tập hiên đại văn bản gốc, không bất ngờ, cho rằng từ này để chỉ quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Trung Sa  (Macclesfield) trong bài bình luận về đoạn văn này.[46]

2.4.2 Chân Lạp phong thổ kí

Thất Châu [七洲]
Bằng chứng nữa cho yêu sách đối với vùng biển ngoài khơi bờ biển phía đông của đảo Hải Nam được lấy từ Chân Lạp phong thổ kí [真腊風土記] của Chu Đạt Quan [周達觀] (1266-1346).[47] Cuốn sách này là những ghi nhận đầu tay về vương quốc Campuchia. Đoạn văn có liên quan trong bản dịch của Peter Harris là: “Nếu khởi hành từ Ôn Châu [溫州] (Chiết Giang) và đi theo hướng nam-tây nam của la bàn qua Mân [閩] (Phúc Kiến), Quảng [廣], và các cảng nước ngoài, qua Thất Châu Dương và Giao Chỉ Dương, thì sẽ đến Champa ....”[48] Từ có vấn đề và vị trí địa lí của các đảo mà nó đề cập tới là Thất Châu Dương [七洲洋].[49] Trong bản dịch đầu tiên đoạn văn này, Paul Pelliot đồng nhất nó với quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa).[50] Hạ Nãi [夏鼐] đã chỉ ra rằng một số học giả phương Tây cũng tin rằng cụm đảo Thất Châu là Hoàng Sa, và việc gán ghép này là không chính xác.[51] Thay vì chỉ quần đảo Tây Sa, cụm đảo Thất Châu được dùng để chỉ một nhóm các đảo không có người ở ngoài khơi phía đông bắc đảo Hải Nam gọi là nhóm đảo Taya (tiếng Trung: 七洲列島: Thất Châu liệt đảo).

Hạ Nãi còn giải thích thêm rằng Thất Châu liệt đảo là nhóm đảo Cửu Châu (九洲) thời nhà Đường được Âu Dương Tu [欧阳修] nói đến trong Tân Đường thư (xem ở trên).[52] Harris xác nhận cách nhìn này.[53] Do đó việc gán ghép với các quần đảo Tây Sa hay Nam Sa nói nhẹ nhất là có vẻ bừa bãi, và có thể là do các tác giả có liên quan không sẵn sàng hoặc không thể tham khảo các công trình phương Tây trước đó. Ngay cả trong giới học thuật Trung Quốc việc xác định các địa danh cũng không phải đều thống nhất, dù tranh cãi về những điều này không được thực hiện công khai. Điều thú vị là bình luận của Hàn Chấn Hoa không nói chút gì về vị trí của Thất Châu Dương.


2.5 Tài liệu đời nhà Minh


2.5.1 Quỳnh Đài Ngoại kí (瓊台外紀)

Trường Sa thạch đường (長沙 石塘)
Hàn Chấn Hoa nói rằng Quỳnh Đài ngoại kí [瓊台外紀] (1488) của Vương Tá [王佐] (1428-1512) chứa các bằng chứng cho thấy hai từ trường sa [長沙] và thạch đường [石塘] dùng để chỉ hai quần đảo Nam Sa và Tây Sa và rằng vào thế kỉ XIV chúng đã là một phần của đơn vị hành chánh Vạn Châu [万州], bây giờ là Vạn Ninh [万寧] trên bờ biển phía đông đảo Hải Nam.[54] Quỳnh Đài ngoại kí không còn, nhưng được trích dẫn trong Vạn Châu Chí [万州志], do Hồ Đoan Thư [胡端書] và Dương Thượng Cẩm [楊上錦] biên soạn vào đầu thế kỉ 19.[55] Đoạn trích nêu: “Về phía đông của huyện (Vạn Châu) có nhiều bãi cát (trường sa) và bãi cát ngầm (thạch đường) trong vùng biển xung quanh. Mỗi khi bão làm thủy triều dâng lên khiến nhà cửa và đồng ruộng bị ngập lụt, và do đó thiệt hại cho người dân là rất lớn.”[56]

Đoạn trích này cho thấy rõ ràng rằng trường sa và thạch đường là những từ chung để chỉ các cấu tạo địa chất chứ không phải để chỉ các địa điểm cụ thể trong đại dương. Như vậy, khẳng định của Hàn Chấn Hoa phải được tiếp nhận với một mức độ nghi ngờ nào đó. Đoạn trích dẫn ở đây không gợi cho thấy có bất kì sự đánh đồng các bãi cát và bãi cát ngầm với quần đảo Nam Sa hay Tây Sa.[57]

2.5.2 Tinh tra thắng lãm

Các học giả hiện đại chú tâm vào một cuốn sách của Phí Tín [費信] (khoảng 1385- sau 1436), người đi theo Trịnh Hoà [鄭 和 (1371-1433) 3 trong 7 chuyến đi của ông về phía tây. Phí Tín đã ghi lại các chuyến đi này và mô tả những nơi mà đoàn tàu đã đến trong cuốn sách có tên là Tinh tra thắng lãm [星槎勝覽] (Những điều lí thú khi qua lại biển lớn). Từ đáng quan tâm ở đây là Côn Lôn Sơn [崑崙山] (núi Côn Lôn) vốn để chỉ một đảo có tên là Pulau Condore [đảo Côn Sơn] ngoài khơi đồng bằng sông Cửu Long. Đoạn văn đang bàn trong bản dịch như sau:

“Ngọn núi này mọc ở giữa đại dương. Nó đứng vững chắc, giống như một cái giá 3 chân, nhìn về hướng [cả] Chiêm Thành và Pulau Aur (đảo Aur của Malysia). Nó cao và vuông và là điểm trung tâm trong một vùng vuơn rộng ra xa; thủy thủ gọi [chỗ này] là ‘biển Côn Lôn.’
Tất cả các tàu buôn đi đến Tây Dương phải chờ có gió thuận chiều nhờ đó có thể vượt qua [biển Côn Lôn] trong 7 ngày đêm. Họ có một câu nói phổ biến: ‘Trên ngại Thất Châu, dưới sợ Côn Lôn’. Nếu kim la bàn chỉ lạc hướng hoặc lái bị hỏng, người và tàu khó được bảo toàn. Ngọn núi này không sản xuất ra sản phẩm bất thường. Dân không có nhà, họ ăn trái cây rừng, cá tôm. Họ lấy hang động làm nhà và làm tổ trên cây, và chỉ có vậy.”[58]

Những người biên soạn Minh sử [明史] (chính sử nhà Minh, trình năm 1739) rõ ràng là sao chép từ sách của Phí Tín nên có sự giống nhau như in giữa mục nói về núi Côn Lôn trong công trình này với mục tương ứng trong Tinh tra thắng lãm.[59]

Hàn Chấn Hoa giải thích rằng cả đảo Côn Lôn lẫn Côn Lôn Dương đều mô tả quần đảo Nam Sa và vùng biển lân cận, lờ đi điều khẳng định đã được chấp nhận là đảo Côn Lôn chính là Pulau Condore [đảo Côn Sơn].[60]



Kết luận


Tôi chỉ có thể phác thảo ngắn gọn những tài liệu lịch sử và nội dung của chúng ở đây. Sách báo về chủ đề này đầy rẫy; nhưng tôi hi vọng rằng các bạn sẽ nắm bắt được sự khác biệt cơ bản giữa cách diễn giải của các học giả Trung Quốc với cách diễn giải của các học giả phương Tây. Các học giả Trung Quốc có xu hướng cố diễn giải một mẫu thông tin nhỏ theo cách có lợi cho chính phủ, trong khi các học giả phương Tây có lẽ cho thấy một thái độ phê phán hơn đối với các văn bản lịch sử cũng như cách hiểu và cách diễn giải chúng.

Trong việc viết lịch sử theo một cách rất cá biệt và việc kiểm soát kèm theo đó của nhà nước vẫn tiếp tục là một phần trong việc quản lí của Trung Quốc hiện nay, như được minh hoạ chẳng hạn qua việc Trung tâm nghiên cứu lịch sử đảng (中共中央 黨史 研究室: Trung Cộng trung ương đảng sử nghiên cứu thất) đặt dưới sự giám sát của Ủy ban Trung ương đảng Cộng sản, hay cơ quan lưu trữ nhà nước đặt duới quyền kiểm soát của Quốc vụ viện (中央 但感官: trung ương đãn cảm quan).

Khi mà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập và bắt đầu xây dựng các chính sách liên quan đến các nước láng giềng liền kề thì các nhà sử học cung cấp bằng chứng cho các yêu sách chính thức đối với các đảo ở biển Đông.

Trong tất cả các ấn phẩm về lịch sử biển Đông, nhiều tài liệu khác nhau được trích dẫn từ các triều đại kế tiếp như là bằng chứng rằng người dân ở các triều đại đó có các hiểu biết về các quần đảo Tây Sa, Đông Sa, Nam Sa hay Trung Sa. Thật ra, những tài liệu này rất thường là chỉ quy về có một nguồn mà thường đã thất bản (xem ví dụ về Quỳnh Quản chí ở trên).

Điều rất rõ ràng là sự phát triển của việc Trung Quốc ngày càng quyết đoán ngày về các quyền của họ trong khu vực tranh chấp từ cuối những năm 1970 trở đi, vốn không có mặt trong các cuộc thảo luận học thuật trước đó, trùng hợp với sự phát triển kinh tế nhanh chóng của đất nước này.

_____________________

[1] Xem http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19231.htm, truy cập ngày 7.5.2013 cho phiên bản tiếng Anh, và http://www.fmprc.gov.cn/chn//pds/ziliao/tytj/zcwj/t10648m, truy cập ngày 11.9. 2013, cho phiên bản gốc tiếng Trung.

[2] Sách báo nói về chủ đề này rất nhiều. Tìm trên mạng với các từ “Nansha qundao” 南沙群島 (Nam Sa quấn đảo) trong the China Academic Literature Database (Dữ liệu công trình học thuật Trung Quốc) chẳng hạn cho ra 2160 kết quả trong mọi lĩnh vực.

[3] Bài viết của Roderich Ptak về các vùng biển Đông Nam Á tại một hội nghị tổ chức ở Paris năm 1997 dành riêng cho việc nghiên cứu “Địa trung hải của châu Á” (La Méditerranée Asiatique) hết sức hữu ích như là một nguồn tham khảo và hiểu biết về đuờng giao thuơng và những chỉ dẫn lái tàu ghi chép trong các nguồn tiền hiện đại. Xem Roderich Ptak, “Südostasiens Meere nach chinesischen Quellen (Sung und Yuan)” (Vùng biển Đông Nam Á theo các  nguồn Trung Quốc (Tống và Nguyên) “, Archipelago 56 (1998): 5-30. Các bài viết của hội nghị nêu trên đã đuợc công bố duới tên Claude Guillot, Denys Lombard, and Roderich Ptak (eds), From the Mediterranean to the China Sea: Miscellaneous Notes (Từ Địa Trung Hải đến biển Đông: Những ghi chú hỗn hợp) (Wiesbaden: Harrassowitz, 1998). Ngoài ra tôi còn có thêm thuận lợi nhờ bài báo của Ptak có tựa là „Die Paracel- und Spratly-Inseln in Sung-, Yüan- und frühen Ming-Texten: Ein maritimes Grenzgebiet?” (Quần dảo Hoàng Sa và Trường Sa trong các tài liệu xưa thời Tống, Nguyên và Minh: Một khu vực biên giới biển?, trong Sabine Dabringhaus and Roderich Ptak (eds), China and Her Neighbours: Borders, Visions of the Other, Foreign Policy 10th to 19th Century (Trung Quốc và các nuớc láng giềng: Biên giới, Tầm nhìn của nước khác, chính sách ngoại giao thế kỉ 10 tới 19) (Wiesbaden: Harrassowitz, 1997), 159-181.

[4] Bản đồ này là một bản sao thực hiện ở Triều Tiên năm 1402. Nó dựa trên 2 bản đồ làm ra trong thời nhà Nguyên, đó là Thanh giáo quản bị đồ [Shengjiao guangbo tu 聲教廣被圖] do Lí Trạch Dân [Li Zemin 李澤民] soạn năm 1330, và Hỗn nhất cuơng lí đồ [Hun yi jiangli tu 混一疆理圖 ] do Thanh Tuấn [Qing Jun 清浚] soạn năm 1370. Hiên bản đồ này lưu giũ tại thư viện của Đại học Ryokoku 東京龍谷大學. Xem thêm Tôn Quả Thanh [Sun Guoqing 孫果清], Hỗn nhất cuơng lí lịch đại quốc đô chi đồ [Hun yi jiangli lidai guodu zhi tu 混一疆理歷代國都之圖], Ditu 4 [地圖](2005): 89-90.

[5] Trương Quân Xã [Zhang Junshe 張軍社] và Tôn Anh [Sun Ying 孫櫻] lập luận rằng Canh lộ bạ [Genglu bo 更路簿] là bằng chứng xưa về chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo và bãi ngầm ở biển Đông. Xem bài báo của họ “Tố thuyết Nam hải chư đảo lịch sử đích Canh lộ bạ: Trung Quốc nhân dụng mệnh hoán lai đích hàng hải kinh” [Sushuo Nanhai zhudao lishi de ‘Genglubo’: Zhongguoren yongming huanlai de hanghai jing 訴説南海諸島歷史的更路簿:中國人用命換來的航海經], Banshan luntan 8 [半山論談] (2012) 53-55. Xem thêm bài mới của họ viết cùng với Tổ Tân [Zu Xin 祖新], có tựa là “Canh lộ bạ: Trung Quốc ủng hữu Nam hải chư đảo chủ quyền đích chủ yếu chứng cứ” [Genglubo: Zhongguo yongyou Nanhai zhudao zhuquan de zhuyao zhengju 更路簿:中國擁有南海諸島主權的主要證據], Wenshi zhishi 3[文史知識] (2013): 5-12.

[6] Như Dị vật chí tập dật giáo chú [Yiwu zhi jiyi jiaozhu 異物志輯佚校注].

[7] Dị vật chí tập dật giáo chú [Yiwu zhi jiyi jiaozhu異物志輯佚校注], 212, mục 105.

[8] Về cuốn Thái bình ngự lãm [Taiping yulan] xem Johannes L. Kurz, “The Compilation and Publication of the Taiping yulan and the Cefu yuangui” (Tập hợp và in ấn Thái bình ngự lãm và Sách phủ Nguyên quy, trong Florence Bretelle-Establet and Karine Chemla (eds.), Qu’est-ce qu’écrire une encyclopédie en Chine?. Extreme Orient-Extreme Occident Hors série, 39-76.

[9] Xem Khâu Trạch Kì [Qiu Zeqi 邱澤奇] , “Hán Ngụy lục triều Lĩnh Nam thực vật chí lục khảo lược” [Han Wei Liuchao Lingnan zhiwu ‘zhilu’ kaolüe 漢魏六朝嶺南植物志錄考略] , Zhongguo nongshi 4 [中國農史](1986): 91. Chính tác giả này lại không dẫn mục đang nói chút nào khi cấu trúc lại tập sách xuất bản với tên “Hán Ngụy lục triều Lĩnh Nam thực vật chí lục tập thích tuyển: Vạn Chấn Nam Châu dị vật chí” [Han Wei Liuchao Lingnan zhiwu ‘zhilu’ jishixuan: Wan Zhen Nanzhou yiwuzhi” 漢魏六朝嶺南植物志錄輯釋選: 萬振南州異物志], Zhongguo nongshi 3 [中國農史] (1987): 91-100.

[10] Lí Phuơng [Li Fang 李昉] và cộng sự. (comps), Thái bình ngự lãm [Taiping yulan 太平禦覽] (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 1985), 988.3a (4372).

[11] Dị vật chí tập dật giáo chú [Yiwu zhi jiyi jiaozhu異物志輯佚校注], 212, mục 105.

[12] Thái bình ngự lãm, “ tứ di”  [Taiping yulan, “siyi”’ 4, 太平禦覽 “四夷” 790.7b (3501). Trong trích dẫn, Hàn Chấn Hoa ghi Điển Du [Dianyou/典 游] thành Điển Tốn [Dianxun/典遜]. Xem Hàn Chấn Hoa [Han Zhenhua 韓振華], Ngã quốc Nam hải chư đảo sử liệu hối biên [Woguo Nanhai zhudao shiliao huibian 我國南海諸島史料彙編] (Beijing: Dongfang chubanshe [北京: 東方出版社], 1988), 25.

[13] Về một nghiên cứu về Ngô thời ngoại quốc truyện [Wushi waiguo zhuan吳時外國傳] xem Trần Giai Vinh [Chen Jiarong 陳佳榮], “Chu ứng, Khang thái xuất sử Phù Nam hòa Ngô thì ngoại quốc truyện khảo lược” [Zhu Ying Kang Tai chushi Funan he Wushi waiguo zhuan kaolüe 朱應, 康泰出使扶南和 ‘吴时外國傳’考略], Zhongyang minzu xueyuan xuebao 4.[中央民族學院學報] (1978): 73-79, và Quách Chấn Trạch [Guo Zhenze 郭振澤] và Trương Hoa Đằng [Zhang Huateng 張華騰], “Ngô thời ngoại quốc truyện sơ tham” [Wushi waiguo zhuan chutan ‘吴时外國傳’初探], Yindu xuekan 3 [殷都學刊] (1989): 25-30. Về một mô tả về lộ trình của 2 sứ giả này xem Trần Liên Khánh [Chen Lianqing 陳連慶], “Tôn Ngô thời kì Chu Ứng, Khang Thái đích Phù Nam chi hành” [Sun Wu shiqi.Zhu Ying Kang Tai de Funan zhi xing” 孫吳時期朱應,康泰的扶南之行], Dongbei shida xuebao 4 [東北師大學報] (1986): 32-40, và Hứa Vĩnh Chương [Xu Yongzhang 許永璋], “Chu Ứng, Khang Thái Nam hải chư đảo quốc chi hành khảo luận” [Zhu Ying, Kang Tai Nanhai zhudao guo zhi xing kaolun 朱應,康泰南海諸島國之行考論], Shixue yuekan 12 [史學月刊] (2004): 25-30.

[14] Trần Giai Vinh [Chen Jiarong 陳佳榮], Ngoại quốc truyện [Waiguo zhuan 外國傳]  (Hong Kong: Xianggang Xinhua caiyin chubanshe [香港新华彩印出版社), 2006). Xem bài điểm sách nhiều thông tin của Roderich Ptak in Archipel 74 (2007): 235-237 về cuốn sách này.

[15] San hô châu [shanhu zhou] là một từ mơ hồ khác, tuy nhiên đã đuợc nhiều tác giả Trung Quốc khẳng định dùng để chỉ tất cả các đảo ở biển Đông. Xem chẳng hạn Lưu Nam Uy [Liu Nanwei 劉南威],Trung Quốc Nam hải địa danh luận cảo [Zhongguo Nanhai zhudao diming lungao 中國南海諸島地名論稿] (Beijing: Kexue chubanshe {北京科學出版社}, 1996), 13-14.

[16] Thái Bình ngự lãm [Taiping yulan], 69.3b (327). Xem thêm Hàn Chấn Hoa, Woguo Nanhai, 25. Về san hô xem nghiên cứu của Roderich Ptak, “Notes on the Word shanhu and Chinese Coral Imports from Maritime Asia ca. 1250-1600” (Những ghi chú về từ san hô và việc Trung Quốc nhập khẩu san hô từ vùng biển châu Á), Archipel 39 (1990): 65-80.

[17] Một bàn luận hữu ích và chi tiết hơn về từ này xem Nam Minh Tử [Nanmingzi /南溟子] (tên giả), Truớng hải khảo [Zhanghai kao 漲海考], Zhongyang minzu xueyuan xuebao 1 [中央民族學院學報] (1982): 61-64, 75.

[18] Roderich Ptak, bài bình luận về Ngoại quốc truyện [Waiguo zhuan 外國傳] do Trần Gia Vinh [Chen Jairong 漲海考] tập hợp (Hong Kong: Xianggang xinhua caiyin chubanshe [香港新華彩印出版社], 2006), in Archipel 7 (2006), 236.

[19] Roderich Ptak, “Zhanghai 涨海. Raum und Konzept: Von den Anfängen bis zur Tang-Zeit” (Trướng hải 涨海: Không gian và khái niệm: Từ đầu đến thời nhà Đường), in Shing Müller, Thomas O. Höllmann and Putao Gui (eds), Guangdong: Archaeology and Early Texts. Archäologie und frühe Texte (Zhou – Tang) (Wiesbaden: Harrassowitz, 2004), 241-253.

[20] Bằng chứng lịch sử nêu:”Trong nhiều sách lịch sử và địa lí xuất bản trong thời nhà Đuờng và Tống, quần đảo Nam Sa và Tây Sa được gọi là Cửu Nhũ Loa Châu, Thạch đuờng (nghĩa từng chữ là đảo san hô vòng bao quanh một đầm phá), Trường Sa (nghĩa từng chữ là dãy dài các bãi cát ngầm), Thiên lí thạch đuờng, Thiên lí Trường Sa, Vạn lí thạch đuờng, và Vạn lí truờng sa cùng nhiều tên khác. Trên một trăm loại sách xuất bản trong bốn triều đại Tống, Nguyên, Minh và Thanh đều có nói đến quần đảo Nam Sa duới tên Thạch đuờng hoặc Trường Sa.”

[21] Hàn Chấn Hoa đưa ra một nghiên cứu chi tiết và đào sâu về những tài liệu này trong cuốn sách Ngã quốc chư đảo sử liệu hối biên (Woguo Nanhai zhudao shiliao huibian 我國南海諸島史料彙編.)

[22] Thân Kiến Minh [Shen Jianming 申建明], “China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective” (Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở biển Đông: Góc nhìn lịch sử), Chinese Journal of International Law 1.1 (2002): 105-106.

[23] Về việc tập hợp cuốn sách này xem Lí Tân Vĩ [ Li Xinwei 李新偉], Vũ kinh tổng yếu toàn tu thể lệ sơ khảo [Wujing zongyao zuanxiu tili chukao ‘武經縂要纂’修體例初考], Guojia tushuguan guankan 99.2[國家圖書館觀看] (2010): 27-43.

[24] Tăng Công Lượng [Zeng Gongliang 曾公亮] Vũ kinh tổng yếu,[Wujing zongyao 武經縂要] (Beijing: Jiefangjun chubanshe [北京解放軍出版社], 1988), 21.16a-b (1055-1056).

[25] Lưu Nam Uy [Liu Nanwei劉南威], Nam hải chư đảo địa danh sơ tham [Nanhai zhudao diming chutan 南海諸島地名初探, Lingnan wenshi 2 [嶺南文史] (1985): 97.

[26] Thời nhà Tống, Đàm Môn Sơn [Tunmen shan/屯門 山] cũng được gọi là Đàm Môn [Tunmen 屯門].

[27] Âu Duơng Tu [Ouyang Xiu /歐陽修], Tân Đuờng thư [Xin Tangshu 新唐書] (Beijing: Zhonghua shuju [北京中華書局], 1991), 43A:1153.

[28] Hàn Chấn Hoa, Ngã quốc Nam hải…[Woguo Nanhai…], 30-31.

[29] Lưu Hú [Liu Xu 劉煦] và công sự. (comps), Cựu Đuờng thư [Jiu Tangshu 舊唐書] (Beijing: Zhonghua shuju [北京中華書局], 1991), 41.1715.

[30] Friedrich Hirth and W.W. Rockhill, Chau Ju-kua: On the Chinese and Arab Trade in the Twelfth and Thirteenth Centuries [Triệu Nhữ Quát: Về giao thuơng giữa nguời Hoa và nguời Á Rập trong thế kì 12 và 13] (St. Petersburg: Imperial Academy of Sciences, 1911), 176. Lời văn tiếng Trung có trong Chư phiên chí gíáo thích [Zhufan zhi jiaoshi 諸蕃志校釋,] do Duơng Bác Văn [Yang Bowen 楊博文] biên tập và chú thích (Beijing: Zhonghua shuju [北京中華書局],, 2000), 216. Lưu ý rằng 2 dịch giả này có lẽ dùng một bản in sai so với bản tiếng Trung gốc. Điều này là dễ thấy ở việc gán ghép sai tên các đảo mà đáng lẽ phải là Ô Lí [Wuli 烏里], Tô Mật [Sumi 蘇密], và Cát Lãng [Jilang 吉浪]. Xem thêm bản dịch từ Quỳnh Quản chí [Qiongguan zhi 瓊管志] bên duới mà từ đó đoạn văn này hình như được rút ra.

[31] Hàn Chấn Hoa,  Ngã quốc Nam hải [Woguo Nanhai], 33. Xem thêm khái luận rất khẳng định của Lí Kim Minh [Li Jinming 李金明], “Ngã quốc Nam hải cương vực nội đích thạch đường, trường sa” [Woguo Nanhai jiangyu nei de shitang, changsha 我國南海疆域内的石塘],長沙 (Các bãi ngầm và bãi cát nằm trong cương vực Nam hải của chúng ta), Nanyang wenti yanjiu 93.1 [南洋問題研究] (1998): 30-41. Khái luận này và công trình của Hàn Chấn Hoa rõ ràng nói theo một nghiên cứu công bố trước đó của Lâm Kim Chi [Lin Jinzhi 林金枝], “Thạch đường, trường sa tư liệu tâp lục khảo thích” [Shitang changsha ziliao jilu kaoshi 石塘,長沙資料輯錄考釋], Nanyang wenti 6 [Nanyang wenti yanjiu 南洋問題研究]] (1979): 100-126. Một bài viết mới công bố rất gần đây của Châu Vận Trung [Zhou Yunzhong 周運中] khẳng định rằng toàn bộ khu vực biển đang bàn là lãnh thổ của Trung Quốc. Xem Châu Vận Trung, “Nam Áo khí, vạn lí trường sa, vạn lí thạch đường tân khảo” [Nan Ao qi, wanli changsha, wanli shitang xinkao 南澳氣,萬里長沙,萬里石塘新考], Haijiao shi yanjiu 1 [海交史研究] (2013): 35-43.

[32] Ptak, “Die Paracel- und Spratly-Inseln” (Quần đảo Hoàng sa và Trường Sa), 161-165.
[33] Về một nghiên cứu cho tài liệu này, xem Roderich Ptak, “Images of Maritime Asia in Two Yuan Texts: Daoyi zhilüe and Yiyu zhi” (Hình ảnh của vùng biển châu Á trong 2 tài liệu nhà Nguyên: Đảo di chí lược và Dị vật chí), trong Journal of Sung-Yuan Studies 25 (1995): 47-76.

[34] Lưu ý rằng bản văn gốc tiếng Trung bỏ đi một vài thông tin có nêu trong bản dịch tiếng Anh. Mục gốc có trong Đảo di chí lược giáo thích [Daoyi zhilüe jiaoshi 島夷誌略校釋], do Tô Kế Tình? [Su Jiqing 蘇繼廎] hiệu đính và biên tập (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 2000), 318. Tham khảo thêm bản dịch đoạn này trong Ptak, “Die Paracel- und Spratly-Inseln”, 166-167.

[35] Roderich Ptak, “Jottings on Chinese Sailing Routes to Southeast Asia, Especially on the Eastern Route in Ming Times”, trong Jorge M. dos Santos Alves (coord.), Portugal e a China: Conferências nos Encontros de Historía Luso-Chinesa (Lisbon: Fundação Oriente, 2001), 121.

[36] Về đoạn văn này trong Chư phiên chí [Zhufan zhi 諸蕃志] xem Hàn Chấn Hoa,  Ngã quốc Nam hải [Woguo Nanhai], 32-33. Xem thêm bản dịch đoạn văn trích dẫn ở trên trong 2.3.2.

[37] Tống hội yếu tập cảo [Song huiyao jigao 宋會要輯稿], do Từ Tùng [Xu Song 徐松] tập hợp (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 1997), 197, “fanyi” [蕃夷] 4.99 (7763).

[38] Nguyên sử [Yuan shi 元史] (chính sử nhà Nguyên), do Tống Liêm [Song Lian 宋濂] (1310-1381) và cộng sự tập hợp. (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 2005), 162.3802

[39] Xem Chư phiên chí giáo thích [Zhufan zhi jiaoshi 諸蕃志校釋], 222, chú thích 3.

[40] Vuơng Tuợng Chi [Wang Xiangzhi 王象之], Dư địa kế thắng [Yudi jisheng 與地繼勝] (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 2003), 127.3b (3622). Lưu ý rằng Tô Kế Tình? [Su Jiqing 蘇繼廎] ghi sai thành quyển 27 của Dư địa kế thắng [Yudi jisheng 與地繼勝] trong bình luận về Đảo di chí luợc [Daoyi zhilüe 島夷誌略] là quyển mà Quỳnh Quản chí [Qiongguan zhi 瓊管志] trích về vạn lí thạch đuờng. Xem thêm bàn luận về nguồn này trong Ptak, “Die Paracel- und Spratly-Inseln”, 165, cước chú 14.

[41] Chúc Mục [Zhu Mu 祝穆], Phuơng dư thắng lãm [Fangyu shenglan 方輿勝覽] (Beijing: Zhonghua shuju [北京: 中華書局], 2003), 43.775.

[42] Xem Hàn Chấn Hoa,  Ngã quốc Nam hải [Woguo Nanhai], 42, và Tống hội yếu [Song huiyao 宋會要], 197, “fanyi” [蕃夷] 4.69 (7748).

[43] Thoát Thoát [Tuotuo 脫脫] và cộng sự , Songshi [宋史] (Bejing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 1977), 489.14083.

[44] Lí Đảo [Li Tao 李燾] (1115-1184), Tục tư trị thông giám trường biên [Xu Zizhi tongjian changbian] (Beijing: Zhonghua shuju [北京: 中華書局],, 2004), 92.2125.

[45] Almut Netolitzki, Das Ling-wai tai-ta von Chou Ch’ü-fei: Eine Landeskunde Südchinas aus dem 12. Jahrhundert (Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi: Địa lí Nam Trung Quốc từ thế kỉ thứ 12) (Wiesbaden: Steiner, 1977), 16.

[46] Chu khứ Phi [Zhou Qufei 周 去非], Lĩnh ngoại đại đáp giáo chú [Lingwai daida jiaozhu 嶺外代答校注], do Duơng Vũ Tuyền [Yang Wuquan 楊武泉] biên tập và chú giải (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 1999), 37.

[47] Hàn Chấn Hoa,  Ngã quốc Nam hải [Woguo Nanhai], 49-50.

[48] Peter Harris (transl.), Zhou Daguan: A Record of Cambodia, the Land and Its People (Chu Đạt Quan: Ghi chép về Campuchia, đất đai và con nguời)(Chiang Mai: Silkworm Books, 2007).

45. Bản gốc của đoạn văn xem Chu Đạt Quan [Zhou Daguan 周達觀], Chân Lạp phong thổ kí giáo chú [Zhenla fengtuji jiaozhu 真腊風土記校注], do Hạ Nãi [Xia Nai 夏鼐 ] chú giải (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 2000), 15.

[49] Cùng cách gán tên đuợc dùng trong công trình đồng thời với cuôn sách của Chu Đạt Quan [Zhou Daguan 周達觀]. Xem Ngô Tự Mục [Wu Zimu 吳自牧] (ca. 1256-after 1334), Mộng luơng lục [Mengliang lu 夢粱錄] (Xuehai leibian 學海類編), 12.15a (232).

[50] Paul Pelliot, “Mémoire sur les coutumes du Cambodge” (Hồi ức về phong tục của Campuchia), Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient 2 (1902): 137-138.

[51] Ông ta dẫn W.F. Mayers, W.P. Groeneveldt, and F. Hirth. Tôi không truy cập đuợc W.F. Mayers, “Chinese Explorations of the Indian Ocean During the 15th Century”, China Review 3 (1875). Đoạn văn có liên quan trong W.P. Groeneveldt thấy có trong Historical Notes on Indonesia and Malaya Compiled from Chinese Sources (Djakarta: C.V. Bhratara, 1960), 25. Nguồn Groeneveldt dùng là phần tiểu sử của Sử Bật [Shi Bi] trong Nguyên sử [Yuanshi] (xem bên trên). Cuốn sách của ông xuất bản lần đầu ở Batavia năm 1880. Việc Hạ Nãi trích dẫn một cuớc chú của Hirth trong cuốn Chau Ju-kua vốn làm cơ sở để Groeneveldt xác nhận Thất châu duơng [Qizhou yang] là ‘vùng biển Hoàng Sa’ là đúng. Xem Hirth and Rockhill, Chau Ju-kua, 185, cuớc chú 4.

[52] Chân Lạp phong thổ giáo chú [Zhenla fengtu jiaozhu 真腊風土記校注], 25-26.

[53] Harris, Zhou Daguan… [周達觀: Chu Đạt Quan], 87.

[54] Hàn Chấn Hoa,  Ngã quốc Nam hải [Woguo Nanhai], 50.

[55] Có vẻ rằng đoạn văn có liên quan trong các phiên bản hiện đại trong văn bản này trích từ bản chính của Vạn Châu chí [Wanzhou zhi 万州志] và không phải là một trích dẫn từ Quỳnh Đài ngoại kí [Quongtai wai ji]. Tôi không truy cập đuợc bản Vạn Châu chí năm 1828 mà Hàn Chấn Hoa tham khảo.

[56] Vạn Châu chí [Wanzhou zhi 万州志], 3.285, trong Vạn Châu chí (nhị chủng [er zhong 二种]) (Haikou: Hainan chubanshe [海口:海南出版社], 2004), do Lí Diễm [Li Yan 李琰] và cộng sự biên soạn.

[57] Xem thêm các nghiên cứu cũ hơn của Hàn Chấn Hoa về Thất Châu duơng, Thất Châu duơng khảo [Qizhou yang kao 七洲洋考], Nanyang wenti 3 [南陽问题](1981): 1-31, và Tống Thụy tông dữ Thất Châu Dương [Song Ruizong yu Qizhou yang” 宋瑞宗與七洲洋], Nanyang wenti 3  [南陽问题] (1981): 32-53.

[58] Lời văn tiếng Trung có trong Phí Tín [Fei Xin 費信], Tinh tra thắng lãm giáo chú [Xingcha shenglan jiaozhu 星槎勝覽校注], do Phùng Thừa Quân [Feng Chengjun 馮承鈞] biên tập và chú giải (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 1954), 8-9. Bản dịch tiếng Anh: Fei Hsin, Hsing-ch’a sheng-lan: The Overall Survey of the Star Raft, do J.V.G. Mills dịch, Roderich Ptak biên tập và chú giải (Wiesbaden: Harrassowitz, 1996), 40.

[59] Trương Đình Ngọc [Zhang Tingyu 張廷玉] và cộng sự, Minh sử [Mingshi 明史] (Beijing: Zhonghua shuju [北京:中華書局], 1974), 324.8394-8394.

[60] Hàn Chấn Hoa,  Ngã quốc Nam hải [Woguo Nanhai], 54.

Wednesday, April 27, 2016

TẬP CẬN BÌNH LÀ AI?

TẬP CẬN BÌNH LÀ AI?

Who Is Xi? (New York Review of Books 12-5-16)

Andrew J. Nathan

(bản dịch đã đăng trên viet-studies ngày 27/04/2016)


Các công trình được điểm trong bài:

Xi Zhongxun zhuan (习仲勋传: Tập Trọng Huân Truyện) [Tiểu sử Tập Trọng Huân] Ban biên tập Tiểu sử Tập Trọng Huân, Bắc Kinh: Zhongyang Wenxian Chubanshe (Trung ương văn hiến xuất bản xã), 2 tập, 1 283 trang (2013).

Xi Jinping: Red China, the Next Generation (Tập Cận Bình: Trung Quốc đỏ, thế hệ kế)
Agnès Andresy, Đại học Mỹ, 157 tr., $ 60,00

Zoubutong de “hongse diguo zhilu” [走不通的红色帝国之路”Tẩu bất thông đích “hồng sắc đế quốc chi lộ” (Đi không thông chính là “Con đường Đế quốc đỏ”], một bài viết của Lý Vĩ Đông ( 李伟东/Li Weidong), có ở www.letscorp.net/archives/56290

China’s Future (Tương lai của Trung Quốc), David Shambaugh, Polity, 203 trang, $ 59,95.; $ 19,95 (giấy)


Hơn một nửa nhiệm kỳ 5 năm đã qua với tư cách là chủ tịch Trung Quốc và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc — dự kiến là nhiệm kỳ đầu trong ít nhất hai nhiệm kỳ— việc Tập Cận Bình đàn áp lan rộng đối với xã hội dân sự và đề cao tệ sùng bái cá nhân đã làm thất vọng nhiều nhà quan sát , cả Trung Quốc lẫn nước ngoài, vốn thấy ông ta do di sản gia đình và kinh nghiệm sống nhất định phải là một nhà cải cách tự do. Nhiều người nghĩ Tập Cận Bình tất phải hiểu được sự nguy hiểm của sự độc tài của Đảng qua kinh nghiệm gia đình ông dưới thời cai trị của Mao. Cha của ông, Tập Trọng Huân (1913-2002), đã gần như bị xử tử trong một cuộc xung đột bên trong Đảng năm 1935, đã bị thanh trừng trong một cuộc đấu khác vào năm 1962, bị “lôi ra” và chịu nhục hình trong cuộc Cách mạng Văn hóa, và đã được nới lỏng cho nghỉ hưu sau một cuộc đối đầu khác trong Đảng năm 1987. Trong cuộc Cách mạng Văn hóa, một chị cùng cha khác mẹ của Tập Cận Bình đã bị dày vò đến mức phải tự tử. Ngay chính Tập Cận Bình, con của một “kẻ chạy theo tư bản” bị “đưa về nông thôn” để lao động cùng với nông dân. Những khó khăn gay gắt đến mức như được thuật lại rằng ông đã cố để trốn thoát, nhưng bị bắt và đưa trở lại.

Không ngạc nhiên là sau đó cả hai cha con đều cho thấy một sự hết lòng vì công cuộc cải cách trong suốt sự nghiệp của họ. Dưới thời Đặng Tiểu Bình, ông Tập cha đã tiên phong trong cải cách mở cửa ở tỉnh Quảng Đông phía nam và đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập đặc khu kinh tế Thẩm Quyến. Năm 1987, chỉ có một mình ông trong các uỷ viên Bộ Chính trị không bỏ phiếu thanh trừng nhà lãnh đạo Đảng tự do Hồ Diệu Bang. Chàng Tập con khởi nghiệp như là một nhà quản lý khiêm tốn, thực dụng, ủng hộ tăng trưởng, lúc đầu ở vùng nông thôn và sau đó ở Phúc Kiến, Chiết Giang và Thượng Hải, ba tỉnh cởi mở với thế giới bên ngoài nhất của Trung Quốc. Trong chặng cuối cùng của hành trình leo lên quyền lực, ông đã được ưu ái chọn hơn đối thủ Bạc Hy Lai, người đã đề cao các chính sách theo kiểu cách mạng Văn hoá tại siêu đô thị Trùng Khánh.

Vì tất cả những lý do này, khi thăng tiến lên vị trí chóp bu Tập Cận Bình đã được nhiều người dự kiến sẽ theo đuổi tự do hóa chính trị và cải cách thị trường. Thay vì vậy, ông đã khôi phục rất nhiều đặc điểm nguy hiểm nhất trong cách cai trị của Mao: độc tài cá nhân, tuân thủ ý thức hệ cưỡng bức, và bức hại tùy tiện.

Chìa khóa cho nghịch lý này là việc Tập Cận Bình có vẻ tôn kính một cách phi lý Mao. Quan điểm của Tập Cận Bình về Mao lộ ra trong tiểu sử chính thức của cha ông do các học giả của Đảng biên soạn, mà tập một được xuất bản khi Tập Cận Bình gần nắm được quyền tối thượng và tập hai ra sau khi ông đã trở thành Tổng bí thư đảng và Chủ tịch nước. Mô tả việc ông Tập cha gần như bị xử tử năm 1935, cuốn sách nói rằng Mao đã cứu mạng ông ta, ra lệnh thả ông ra với nhận xét rằng đầu không giống như hành lá: nếu cắt ra nó sẽ không mọc trở lại. Mao sau đó đề cử Tập Trọng Huân làm một quan chức ở Diên An và sau năm 1949 làm quan chức hàng chóp bu ở Bắc Kinh.

Đối với việc thanh trừng Tập Trọng Huân năm 1962, cuốn tiểu sử đổ lỗi cho Khang Sinh (康生/Kang Sheng), trưởng mật vụ của Mao, chứ không phải là cho chính Mao, và cho rằng Mao đã bảo vệ Tập Trọng Huân bằng cách đưa ông ta đến làm việc tại một nhà máy ở tỉnh an toàn cách xa khỏi cơn bão chính trị ở Bắc Kinh. Khi cuộc Cách mạng văn hóa nổ ra một vài năm sau đó và Hồng vệ binh “lôi” Tập Trọng Huân ra khỏi việc làm ở nhà máy này để hành hạ thể xác và “đấu tranh”, cuốn tiểu sử nói rằng thủ tướng Chu Ân Lai đã cho giam họ Tập trong một doanh trại quân đội gần Bắc Kinh như một cách để bảo vệ ông ta. Không nghi ngờ những câu chuyện này được xoa nắn lại để trình bày Mao theo cách Tập Cận Bình muốn ông ta được thấy. Nhưng chúng có căn cứ trong thực tế lịch sử và giúp giải thích sự phức tạp của mối quan hệ của Tập Cận Bình với di sản của Mao. Như Tập Cận Bình nói mấy năm sau, “Nếu Mao không cứu cha tôi thì tôi không có mặt ở đây ngày hôm nay.”

Việc Tập Cận Bình tôn thờ Mao không phải là điều dị thường riêng lẻ. Nó cũng được nhiều người trong giới quý tộc cộng sản kế thừa chia sẻ mà họ, như Agnès Andresy chỉ ra trong cuốn sách về Tập Cận Bình, vốn hình thành nên hầu hết lãnh đạo chóp bu cũng như phần lớn giới chủ chốt doanh nghiệp của Trung Quốc hiện nay. Hồi năm 1981 Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng công của Mao vượt hơn tội (trong một ý kiến không chính thức) theo“tỉ lệ 7 trên 3.” Nhưng trong thực tiễn Đặng Tiểu Bình từ bỏ gần như mọi thứ mà Mao cổ vũ. Trái ngược với sự đồng thuận của phương Tây rằng Đặng Tiểu Bình đã cứu hệ thống sau khi  gần như bị Mao làm chìm, Tập Cận Bình và rất nhiều quý tộc đỏ khác cảm thấy rằng chính Đặng Tiểu Bình đã đi gần đến chỗ huỷ diệt di sản của Mao.

Việc họ tôn thờ Mao khác biệt với những hoài niệm đơn giản của cựu các Hồng vệ binh và các thanh niên được phái xuống vốn nhớ mơ hồ về một giai đoạn của chủ nghĩa lý tưởng chưa trưởng thành. Thay vì vậy, như nhà tư tưởng ủng hộ dân chủ Lý Vĩ Đông (李伟东/Li Weidong) viết trong một bài tiểu luận trên mạng nhiều bàn luận, “Đi không thông là 'Con đường của Đế quốc Đỏ’”, con cái của các công thần sáng lập tự coi mình là người thừa kế “thiên hạ“, một thế giới rộng lớn mà cha mẹ họ đã chinh phục dưới sự lãnh đạo của Mao. Cha mẹ họ có gốc gác ở các vùng nông thôn nghèo nàn và đứng lên cai trị một đế chế. Thế hệ thứ hai hưởng đặc quyền sống trong một đất nước vốn đã “vươn dậy” và được toàn cầu tôn trọng và nể sợ. Họ không trù định làm thế hệ “đánh mất đế quốc.”

Chính logic này đã thúc đẩy Lưu Nguyên (刘源/Liu Yuan), con trai cựu chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ, người bị Mao thanh trừng và đưa đến một cái chết đau khổ, hậu thuẫn Tập Cận Bình trong việc làm sống lại các ý tưởng và các biểu tượng của Mao; và cũng logic này đã chuyển con cái của nhiều nạn nhân nổi bật khác của Mao hình thành nên các nhóm tôn vinh di sản của Mao, như Hiệp hội con cái của Diên An Bắc Kinh và Hiệp hội đề cao văn hóa của những nhà sáng lập Quốc gia Bắc Kinh.[i]

Các thái tử đảng dường như đầu tư ý nghĩa sinh học theo nghĩa đen trong “huyết thống luận” về sự tinh khiết chính trị vốn phổ biến trong giới chủ chốt con cái các Hồng vệ binh trong cuộc Cách mạng văn hóa: “Nếu cha là anh hùng con sẽ là hảo hán, nếu cha là phản động con sẽ là trứng thối” (老子英雄儿好汉,老子反动儿混蛋/laozi yingxiong er haohan, laozi fandong er huaidan: Lão tử anh hùng nhân hảo hán, lão tử phản động nhân hỗn đản). Họ không thấy có chút mai mỉa khi cổ vũ Tập Cận Bình tấn công các quan chức tham nhũng dù Mao đã thanh trừng chính cha mẹ họ như là những “kẻ chạy theo tư bản nắm quyền lực.” Họ bào chữa rằng việc thanh trừng của Mao là một sai sót. Nhưng họ thấy các quan chức hiện nay đổ vào phục vụ Đảng là vì đảng đang nắm quyền lực chứ không phải vì họ được thừa hưởng tinh thần hy sinh cách mạng từ cha ông. Bọn cơ hội đó là sâu mọc đang ăn mòn di sản cách mạng.

Di sản của Mao cũng đang bị các thế lực khác đe dọa. Tập Cận Bình nắm quyền vào một thời điểm mà chế độ phải đối đầu với một loạt các thách thức gay gắt vốn đều đạt đến giai đoạn nguy cấp cùng một lúc. Chế độ phải quản lý một nền kinh tế chậm lại; phải xoa dịu hàng triệu công nhân bị sa thải; phải chuyển nhu cầu từ các thị trường xuất khẩu sang tiêu thụ trong nước; phải xốc các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ hoạt động kém hiệu quả nên hình; phải xua tan một đống các khoản vay ngân hàng xấu khủng và các khoản đầu tư không hiệu quả đang treo lơ lửng; phải cải thiện tình trạng biến đổi khí hậu và sự tàn phá môi trường vốn làm lớp trung lưu mới khó chịu; và phải giảm quy mô và nâng cấp quân đội. Về mặt quốc tế, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc thấy chính mình bị buộc phải đáp ứngmột cách quả quyết áp lực ngày càng tăng từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, và các chế độ Đông Nam Á khác nhau đang cố gắng chống lại việc bảo vệ chính đáng của Trung Quốc đối với các lợi ích ở những nơi như Đài Loan, quần đảo Senkaku, và biển Đông.

Lãnh đạo nào đối mặt với rất nhiều vấn đề lớn phải cần rất nhiều quyền lực, và Mao cung cấp một mô hình về cách mà quyền lực như thế có thể được nắm giữ. Tập Cận Bình lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và hệ thống thứ bậc quân sự qua vị trí chủ tịch ở mỗi tổ chức này. Nhưng hai người tiền nhiệm liền trước của ông, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, thực hiện các vai trò này trong hệ thống lãnh đạo tập thể, trong đó mỗi uỷ viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị phụ trách một chính sách hay tổ chức cụ thể và hướng dẫn nó mà không có sự can thiệp nhiều từ các quan chức cấp cao khác.

Mô hình này không tạo ra quyền lãnh đạo đủ quyết định để đáp ứng Tập Cận Bình và những kẻ ủng hộ ông. Vì vậy, Tập Cận Bình đã phải cho các uỷ viên khác của Ban Thường vụ Bộ Chính trị, đứng bên lề ngoại trừ trưởng ban tuyên truyền Lưu Vân Sơn (刘云山/Liu Yunshan) và Trưởng ban giám sát chống tham nhũng Vương Kỳ Sơn (王岐山/Wang Qishan). Ông đã nắm vị trí chủ tịch của 7 tổ quan trọng nhất trong 22 “tổ lãnh đạo” chỉ đạo chính sách trong các lĩnh vực cụ thể, bao gồm Tổ lãnh đạo đào sâu cải cách toàn diện trung ương mới thành lập, tổ này đã loại Thủ tướng Lý Khắc Cường ra khỏi việc quản lý kinh tế. Và Tập Cận Bình đã lập ra Hội đồng An ninh Quốc gia để điều phối các vấn đề an ninh nội bộ.

Tập Cận Bình mô phỏng Mao trong việc thực hiện quyền lực thông qua một nhóm thân cận các trợ lý mà ông có thể tin cậy do họ đã chứng tỏ lòng trung thành cá nhân của họ trong những giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp của ông, chẳng hạn như Lật Chiến Thư (Li Zhanshu), chủ nhiệm tổng văn phòng của Ủy ban Trung ương ĐCSTQ đầy quyền lực. Như học giả Lý Thành (Cheng Li) nêu trong China Leadership Monitor, Lật Chiến Thư công bố một bài báo hồi tháng 9 năm 2014, nói rằng làm việc như một trợ lý trong việc xây dựng chính sách đòi hỏi “sự trung thành tuyệt đối” và rằng nhân viên trong tổng văn phòng “nên hành động và suy nghĩ theo cách phù hợp cao nhất... với các đơn đặt hàng từ Uỷ ban Trung ương do Tổng Bí thư Tập Cận Bình lãnh đạo.”[ii] Những người được Tập Cận Bình bảo trợ chiếm các vị trí trọng yếu trong bộ máy phụ trách về an ninh, giám sát công việc các quan chức, và tuyên truyền. Không giống như các nhân viên nhiều quyền lực trong chính quyền trước đây, các trợ lý của ông tránh tiếp xúc với người nước ngoài và thậm chí với các quan chức bên ngoài nhóm riêng của Tập Cận Bình.

Tập Cận Bình cũng đi theo mô hình của Mao trong việc bảo vệ quyền cai trị của mình chống lại đảo chính. Chiến dịch chống tham nhũng đã làm cho ông có rất nhiều kẻ thù, và đã có nhiều tin đồn về các âm mưu ám sát. Tuy nhiên, như James Mulvenon và Cheng Li đã chỉ ra, tương ứng, Tập Cận Bình đã thắt chặt kiểm soát trực tiếp quân đội qua cái gọi là “Chủ tịch Phụ trách chế [Quân ủy Trung ương]”, và ông kiểm soát quân đoàn bảo vệ trung ương – chịu trách nhiệm theo dõi sự an toàn của tất cả các lãnh đạo — thông qua vệ sĩ trưởng lâu năm, Vương Thiếu Quân (Wang Shaojun).[iii] Theo những cách này Tập Cận Bình kiểm soát môi trường thực tế của các lãnh đạo khác, cũng giống như Mao đã làm thông qua thuộc hạ trung thành Uông Đông Hưng.

Tập Cận Bình truyền sự tự tin kiểu Napoleon vào tầm quan trọng của nhiệm vụ của ông và sự thành công tất yếu của nó. Trong giao tiếp cá nhân ông được cho là niềm nở và thoải mái. Nhưng tính cách công cộng được chăm chút cẩn thận của ông lại đi theo Mao trong việc thể hiện sự có mặt dửng dưng và vẻ mặt bất động mà việc đó dường như để truyền dẫn sự chịu đựng hoặc sự khó xiêu lòng, tùy thuộc vào việc ông đang ngồi nghe một phát biểu nhàm chán hoặc đang đưa ra một phát biểu. Các cơ quan tuyên truyền cố sức để tạo ra một hình ảnh “Bố Tập” thấy muốn ôm ghì vào, và Tập Cận Bình có vẻ thực sự được công chúng ngưỡng mộ, mặc dù điều này đã thay đổi khi nền kinh tế chậm lại.[iv] Nhưng chiến dịch chống tham nhũng ảnh hưởng đến rất nhiều người của ông còn đang tiếp tục, giới chủ chốt trong quan chức và trí thức hàng đầu đọc biểu hiện của ông như là bí hiểm và đáng sợ.

Trên hết, Tập Cận Bình đã theo Mao trong đòi hỏi tuân thủ về ý thức hệ. Ông đã viện dẫn “Bài nói tại Diễn đàn Diên An về Văn học và Nghệ thuật” của Mao trong việc giải thích lý do tại sao văn hóa và nhân viên truyền thông phải thể hiện “tính Đảng” và phục vụ như là “miệng lưỡi” của Đảng và đã sử dụng nghị quyết mà Mao đã viết cho của Hội nghị Đảng ở Cổ Điền (古田/Gutian) năm 1929 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc Đảng kiểm soát của quân đội. Ông đã cảnh báo các đảng viên chống lại việc “bàn luận vô trách nhiệm” (枉议/wangyi: uổng nghị) và các học giả chống lại các “giá trị phổ quát.”Như David Shambaugh báo cáo trong cuốn sách gần đây của ông China’s Future (Tương lai của Trung Quốc):

Hiện đã có một chiến dịch đàn áp không ngừng đối với tất cả các dạng bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động xã hội; Internet và các phương tiện truyền thông xã hội đã phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn; thánh giá và nhà thờ bị phá hủy; người Duy Ngô Nhĩ và người Tây Tạng bị bức hại ngày càng lớn hơn; hàng trăm luật sư nhân quyền đã bị bắt giữ và đưa ra xét xử; tụ họp công cộng bị hạn chế; nhiều loại ấn phẩm bị kiểm duyệt; sách giáo khoa nước ngoài bị chính thức bị cấm ở các lớp học đại học; trí thức bị đặt  dưới sự giám sát chặt chẽ; các tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài và trong nước đã chịu áp lực điều tiết của chính phủ chưa từng có và nhiều tổ chức đã bị buộc phải rời khỏi Trung Quốc; các cuộc tấn công vào các “thế lực thù địch nước ngoài” diễn ra đều đặn; và bộ máy an ninh “duy trì sự ổn định” đã che kín toàn đất nước .... Trung Quốc hiện nay hà khắc hơn bất cứ lúc nào kể từ thời kỳ sau Thiên An Môn 1989-1992.

Nhưng Tập Cận Bình khác với Mao theo những cách quan trọng. Ông có thông tin chính xác hơn Mao, nhờ hệ thống tình báo và phân tích mở rộng, có tổ chức, và chuyên nghiệp, và nhờ vào những gì ông đã thu thập được trong chuyến đi trong nước và ra nước ngoài. Ông dùng kiểu toà án nội bộ Đảng và kết tội tham nhũng hơn là hò hét Hồng vệ binh và cáo buộc xét lại để thanh trừng đối thủ, và dùng công an chính trị hơn là phong trào quần chúng để đàn áp bất đồng chính kiến. Mao là một nhà tư tưởng và tác giả văn học; Tập Cận Bình có những ý tưởng tầm thường nhưng có chủ ý và phù hợp hơn trong việc ra quyết định. Thói quen cá nhân của ông có vẻ có trật tự so với cung cách hỗn loạn của Mao trong việc tiêu dùng thời gian. Sau cuộc hôn nhân thất bại ngắn ngủi đầu, Tập Cận Bình lập gia đình ổn định với Bành Lệ Viên (彭丽媛/Peng Liyuan), một ca sĩ nổi tiếng khởi nghiệp trong quân đội. Quan hệ của họ có vẻ theo ước lệ nhàm chán; thậm chí ở thành phố Bắc Kinh đầy tin đồn không có gì nổi lên cho thấy rằng ông là một kẻ ham thích sắc dục như Mao. (Cũng không có những tin đồn tạo ra những cáo buộc rằng cá nhân Tập Cận Bình là tham nhũng, mặc dù Bloomberg News cho thấy chị và anh rể của ông đã làm ra rất nhiều tiền.[v])

Và Tập Cận Bình không là nhà cách mạng. Ông không hề tìm cách đảo lộn Trung Quốc cũng không quay ngược đồng hồ trở lại thời công xã nông thôn và nền kinh tế kế hoạch. Thay vào đó, ông tuyên bố, không được phép phủ nhận “hai thời kỳ ba mươi năm” ”— tức là kỷ nguyên của Mao và thời kỳ cải cách hậu Mao sau đó. Trung Quốc phải kết hợp sự vững chắc của chủ nghĩa Mao với cải cách hiện đại hóa.

Tuy nhiên, cải cách mà ông có trong đầu khác với những gì nhiều nhà quan sát, cả Trung Quốc lẫn phương Tây, mong muốn. Sau khi tiến lên vị trí quyền lực, tuyên ngôn chính sách đầu tiên do chế độ của ông đưa ra nêu rằng “thị trường nên đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực,” nhưng đã trở nên rõ ràng rằng các lực lượng thị trường được dùng có chủ ý như là một công cụ để thêm sinh lực hơn là để huỷ diệt, các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tài chính nhà nước “vô địch quốc gia” tiếp tục được hưởng sự bảo trợ của nhà nước và chiếm phần lớn trong nền kinh tế. Tập Cận Bình hiểu những tổ chức này là trụ cột của quyền lực nhà nước và sẽ không bao giờ giao quyền kiểm soát nền kinh tế cho các doanh nghiệp mà Đảng không kiểm soát.

Tập Cận Bình muốn “cai trị bằng pháp luật”, nhưng điều này có nghĩa là sử dụng các tòa án một cách tích cực để thực hiện việc đàn áp chính trị và thay đổi phong cách làm việc của bộ máy quan chức. Ông muốn cải tổ các trường đại học, không phải để tạo sự tự do học thuật kiểu phương Tây nhưng để đưa các học giả và sinh viên vào vòng kiểm soát (kể cả những người nghiên cứu ở nước ngoài). Ông đã phát động tổ chức lại toàn diện của quân đội, điều này một phần có ý định là để làm cho nó hiệu quả hơn trong chiến đấu, nhưng cũng để tái khẳng định lòng trung thành của quân đội với Đảng và cá nhân ông. Mục đích tổng thể của cải cách là để giữ cho Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn nắm quyền lực.

Mục tiêu mà Tập Cận Bình nêu ra cho Trung Quốc là đạt được “một xã hội khá giả vừa” (小康社会/xiaokang shehui: tiểu khang xã hội) vào dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày thành lập Đảng vào năm 2021, và “một xã hội hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa” (社会主义现代化社会/shehuizhuyi xiandaihua shehui: xã hội chủ nghĩa hiện đại hoá xã hội) vào dịp kỷ niệm lần thứ 100 thành lập ngày thành lập nước CHNDTH Quốc vào năm 2049.

Những mục tiêu này nghe có vẻ khiêm tốn nhưng táo bạo. Mục tiêu cho năm 2049 được nói là bao hàm một mức GDP bình quân đầu người là US$ 30,000, và các nhà hoạch định Trung Quốc ước tính rằng nếu đạt được mục tiêu đó thì Trung Quốc sẽ tạo ra hơn 30 % GDP của thế giới trong năm đó, vào khoảng một lần rưởi hơn so với tỷ lệ do Hoa Kỳ tạo ra hiện nay. Điều đó sẽ tạo ra một quyền lực toàn cầu rất lớn. Tuy nhiên, năm 2049 vẫn là một chặng đường dài. Còn bây giờ, Tập Cận Bình sẽ không ngần ngại phản công nếu ông tin rằng “lợi ích cốt lõi” của nước này xung quanh ngoại vi của nó đang bị đe dọa, nhưng ưu tiên của ông về cơ bản vẫn là trong nước.

Tập Cận Bình đã tự làm mình mạnh mẽ hơn Đặng hay thậm chí Mao trong một số cách. Dù Đặng là người có kết luận cuối cùng về các vấn đề chính sách khó, nhưng ông ta vẫn cố gắng để tránh can dự vào chính sách hàng ngày, và khi bị buộc phải đưa ra những quyết định lớn thì trước hết ông tìm sự đồng thuận trong một nhóm nhỏ các lãnh đạo cấp cao. Mao có thể đưa ra bất kỳ quyết định nào mà ông muốn bất chấp ý chí của các lãnh đạo cấp cao khác, nhưng vào mỗi lúc ông chỉ chú ý đến một vài vấn đề. Tập Cận Bình có vẻ đang điều khiển trọn một loạt chính sách quan trọng hàng ngày mà không cần tham khảo ý kiến các lãnh đạo cấp cao khác hoặc các bậc lão thành về hưu.

Ông ta thậm chí có thể đi xa hơn nữa. Có những chỉ dấu gợi rằng ông sẽ tìm cách phá vỡ hạn định hai nhiệm kỳ 5 năm nắm quyền mới được thiết lập và sẽ ngồi tiếp một hoặc thậm chí nhiều nhiệm kỳ nữa. Ông đã tự chỉ định mình là “cốt lõi” của ban lãnh đạo, một địa vị mà Hồ Cẩm Đào, người tiền nhiệm liền trước đã không nắm lấy cho mình. Tại thời điểm này trong nhiệm kỳ đầu lãnh đạo chúng ta mong thấy một hoặc hai chính trị gia trẻ tuổi mới nổi như người thừa kế tiềm năng hiện ra, và sẽ được tấn phong trong Đại hội Đảng 19 năm tới, nhưng chưa thấy có những dấu hiệu như vậy. Một trong những tin đồn lan truyền ở Bắc Kinh là các đội biên tập viên đang biên soạn một cuốn sách về “tư tưởng” (sixiang/思想) của Tập Cận Bình, việc này sẽ đặt ông ta lên ngang hàng với Mao như một người đóng góp cho lý thuyết Marxist của Trung Quốc, một địa vị mà chưa có người kế nhiệm nào của Mao tới giờ nhận lấy.

Việc Tập Cận Bình chú tâm vào quyền lực đặt ra mối nguy hiểm lớn cho Trung Quốc. Không ai nói lên điều đó tốt hơn Đặng Tiểu Bình, trong bài phát biểu, “về việc Cải cách hệ thống Lãnh đạo Đảng và Nhà nước,” đưa ra vào ngày 18 tháng 8 năm 1980:

Quá chú tâm vào quyền lực có khả năng làm nẩy ra quy tắc tùy ý của cá nhân với cái giá phải trả cho lãnh đạo tập thể, và nó là một nguyên nhân quan trọng của bộ máy quan chức trong tình cảnh hiện tại ... . Kiến thức, kinh nghiệm và năng lượng của bất cứ ai cũng đều có hạn. Nếu một người nắm giữ quá nhiều vị trí cùng một lúc thì khó có thể hiểu thấu hết các vấn đề trong công việc của mình và quan trọng hơn, sẽ ngán đường các đồng chí thích hợp hơn nắm các vị trí lãnh đạo.

Chính để tránh những vấn đề này mà Đặng Tiểu Bình đã xây dựng một hệ thống các chuẩn mực ngầm theo đó các lãnh đạo cao cấp bị giới hạn chỉ hai nhiệm kỳ, các uỷ viên ban Thường vụ Bộ Chính trị phân chia các vai trò lãnh đạo với nhau, và các nhà lãnh đạo cấp cao đưa ra quyết định có tham khảo ý kiến với các nhà lãnh đạo khác và những bậc lão thành đã về hưu.

Với việc đảo lộn hệ thống của Đặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình đang treo sự sống còn của chế độ vào khả năng của ông trong việc chịu một khối lượng công việc khổng lồ và không phạm sai lầm lớn. Ông dường như đang dọa các phương tiện truyền thông đại chúng và các quan chức ngoài nhóm thân cận không được nói với ông sự thật. Ông đang cố kìm nén sự đa dạng ngày càng tăng của các lực lượng xã hội và trí thức đang trên đà phát triển mạnh hơn. Ông có thể đang phá vỡ, thay vì xây dựng nên sự đồng thuận trong giới chủ chốt kinh tế và trí thức cũng như giới lãnh đạo chính trị về con đường phát triển của Trung Quốc. Với việc chỉ đạo khởi tố tham nhũng Chu Vĩnh Khang, cựu uỷ viên ban Thường vụ Bộ Chính trị về hưu, cùng với thuộc hạ của các quan chức cấp cao đã nghỉ hưu khác, ông đã phá vỡ quy tắc rằng các lãnh đạo về hưu sẽ an toàn một khi rời khỏi chức vụ, làm dấy lên câu hỏi liệu ông sẽ có thể an toàn khi rời khỏi chức vụ không. Khi ông tách khỏi con đường của Đặng Tiểu Bình, ông có nguy cơ phá hoại khả năng thích ứng và khả năng phục hồi mà những cải cách của Đặng Tiểu Bình đã gian khổ tạo ra cho chế độ hậu Mao.

Khi các thành viên của nhóm quý tộc đỏ quanh Tập Cận Bình bọc quanh các toa xe của họ để bảo vệ chế độ, một số công dân thu mình vào việc sùng bái tôn giáo hoặc tiêu dùng cá nhân, những người khác thì gửi tiền của và con cái ra nước ngoài, và một cảm giác sắp xảy ra khủng hoảng đang lan tỏa khắp xã hội. Không ngạc nhiên là chế độ của Tập Cận Bình hành xử như thể nó phải đối mặt với một đe dọa đang hiển hiện. Với sức mạnh và nguồn lực mà ông điều khiển, sẽ là liều lĩnh để dự đoán rằng nỗ lực củng cố sự cai trị độc tài của ông sẽ thất bại. Nhưng nỗ lực này có nguy cơ tạo ra chính cuộc khủng hoảng chính trị mà nó tìm cách ngăn ngừa.





[ii] Cheng Li, “Tập Cận Bình Jinping’s Inner Circle (Part 4: The Mishu Cluster I),” China Leadership Monitor, số 46 (Đông 2015).
[iii] James Mulvenon, “The Yuan Stops Here: Tập Cận Bình Jinping and the ‘CMC Chairman Responsibility System,”, và Cheng LiTập Cận Bình Jinping’s Inner Circle (Part 5: The Mishu Cluster II),” China Leadership Monitor, số 47 (Hè 2015).
[iv] Từ Xi Dada (习大大: Tập đại đại) sử dụng chữ “đại”.” Trong môt số tiếng địa phương nó có nghĩa là cha, ông, hoặc chú Tập Cận Bình.
[v] Xem “Xi Jinping Millionaire Relations Reveal Fortunes of Elite,” Bloomberg News, ngày 29 tháng 6, 2012.

Sunday, April 10, 2016

Bia chủ quyền xưa của TQ ở biển Đông: Nguỵ tạo bằng chứng có chủ trương

KHẢO CỔ VÀ YÊU NƯỚC: CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN CỦA TRUNG QUỐC Ở BIỂN ĐÔNG[1]




François-Xavier Bonnet


 (bản dịch đã đăng trên Tuổi trẻ ngày 10/04/2016 có rút gọn đôi chút)


 "Nghệ thuật tuyệt đỉnh của chiến tranh là  chinh phục kẻ thù mà không phải đánh," Tôn Tử.

"Điều hay tuyệt đỉnh là phá vở sự kháng cự của địch mà không cần phải đánh," Tôn Tử.


Tóm tắt :

Nhiều tác giả viết về yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa nêu thời gian phái đoàn Trung Quốc chính thức đầu tiên tới quần đảo này là năm 1902. Tuy nhiên, không ai trong số những tác giả đó có thể đưa ra bất kì tài liệu nào về việc diễn ra.chuyến đi này. Trên thực tế,tư liệu của Trung Quốc lại cho thấy chuyến đi đó chẳng hề xảy ra. Thay vào đó là một chuyến đi bí mật xảy ra nhiều thập kỉ sau đó để cấy bằng chứng khảo cổ giả trên các đảo này để củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc. Mưu chước tương tự cũng đã được áp dụng ở quần đảo Trường Sa: các bia chủ quyền năm 1946 trên thực tế đã được đặt sau đó 10 năm, vào năm 1956.


Giới thiệu :

Giáo sư Marwyn Samuels, trong cuốn sách nổi tiếng của ông "Contest for the South China Sea” (Cuộc thi thố vì biển Đông) đã trách cứ học giả phương Tây nào nói phái đoàn Trung Quốc đầu tiên tới quần đảo Hoàng Sa xảy ra năm 1909. Thay vì vậy, ông khẳng định rằng chuyến đi đầu tiên này diễn ra vào năm 1902. Theo Samuels, chuyến đi thẩm tra đầu tiên này do Đề đốc Lí Chuẩn chỉ huy và là nỗ lực đầu tiên để thực hiện công ước Pháp - Thanh  1887, khẳng định quyền của Trung Quốc đối với các đảo này.[2] Kể từ công trình khai phá này của Samuels, việc dẫn sự kiện ‘không thể tranh cãi’ đó vào các sách báo liên quan đến các tranh chấp ở biển Đông đã biến thành chuyện thông thường. Tuy nhiên, không ai trong số các tác giả sau này có thể chứng minh đuợc nhận định này.


Chiến dịch khảo cổ thập niên 1970 và chuyện kể truờng thiên:

Từ năm 1974 đến 1979, số cuộc khảo cổ đã được quân đội Trung Quốc (PLA) và các nhà khảo cổ học tiến hành tại quần đảo Hoàng Sa. Trong số các hiện vật mà những đoàn khảo cổ tìm được là đồ sứ thuộc các thời kì khác nhau, phế tích của chùa miếu và một số bia/mốc chủ quyền. Những bia này đề năm 1902, 1912 và 1921. Năm 1973, tạp chí Thập kỉ 70 (七十年代:Thất thập niên đại) ở Hong Kong,, đã đăng ảnh một bia chủ quyền khắc năm 1902 được tìm thấy trên một đảo nhỏ của quần đảo Hoàng Sa.[3] Báo Hong Kong Standard (香港郵: Hương Cảng bưu báo) tuờng thuật những phát hiện ngày 6 tháng 3 năm 1979 trong một bài báo có tựa đề "Bia chứng minh cho chủ quyền xa xưa." Cả hai bài báo này, đều có đăng ảnh một bia năm 1902, đã trở thành nguồn thông tin duy nhất vế chuyến đi “không thể chối cãi" năm 1902 cho các học giả như Hungdau Chiu và Choon-ho Park và Marwyn Samuels vào năm 1982. Trước năm 1979, không học giả phương Tây hay Trung Quốc nào có đề cập đến sự tồn tại của chuyến đi năm 1902. Chuyến đi chính thức có ghi nhận trong lịch sử nhà Thanh là chuyến thẩm tra của Đề đốc Lí Chuẩn năm 1909.


Chuyến đi ‘ma’ trong quần đảo Hoàng Sa:

Có một lí do đơn giản vì sao không một học giả nào có thể tìm ra được tài liệu lịch sử nào về chuyến đi năm 1902: nó chẳng hề xảy ra. Thay vào đó bằng chứng về chuyến đi năm 1902 đã được nguỵ tạo ra muộn hơn nhiều: năm 1937.

Tháng 6 năm 1937, truởng khu hành chánh 9 của Trung Quốc, Hoàng Cuờng (黄强/Huang Qiang), đã được phái đến quần đảo Hoàng Sa với hai nhiệm vụ: Một là kiểm tra các báo cáo rằng người Nhật đã xâm chiếm các đảo này và hai là tái khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với chúng. Theo các hồ sơ về chuyến công tác này của ông đề ngày 31/7/1937, ông rời Quảng Đông vào ngày 19/6 và đến quần đảo Hoàng Sa vào ngày 23/6. Trong cùng ngày, ông đến 4 đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa trong nhóm An Vĩnh [Amphitrite] (đảo Phú Lâm [Woody], đảo Đá [Rocky], đảo Lincoln [Ling Zhou/玲洲: Linh Châu] và đảo Bắc [Bei/]). Ngày hôm sau, 24/6, ông quay trở lại Hải Nam.

Chuyến công tác ngắn và bí mật này đã được các nhà sử học Trung Quốc Hàn Chấn Hoa (Han Zenhua/韩振华), Lâm Kim Chi (Lin Jin Zhi/林金枝), Ngô Phượng Bân (Wu Feng Bin/吴凤斌) kể lại trong công trình chuyên đề "Ngã quốc Nam hải chư đảo sử liệu hối biên" được xuất bản năm 1988.[4] Tuy nhiên, nếu họ có công bố báo cáo đề ngày 31/7/1937,  họ đã quên, dù có ý thức hay không, công bố phụ lục của báo cáo này. May thay, phụ lục bí mật đó đã được Ủy ban đia danh tỉnh Quảng Đông công bố năm 1987 trong một cuốn sách có tựa đề "Sưu tập tài liệu về địa danh các đảo ở biển Đông." Phụ lục này đưa ra các chi tiết về hoạt động của Hoàng Cường ở quần đảo  Hoàng Sa.[5]

Trong phụ lục này, Hoàng Cường giải thích rằng, theo kế hoạch, tàu của ông đã chở theo 30 bia chủ quyền. Trong số đó, có 4 bia thuộc thời nhà Thanh, những bia khác thuộc năm 1912 (Trung Hoa Dân Quốc tròn một tuổi) và năm 1921. Tuy nhiên, ông không mang theo bia năm 1937 do đây là chuyến công tác bí mật. Nhóm của ông tìm đuợc 4 bia thời nhà Thanh, có khắc năm 1902, tại thành phố Quảng Đông. Theo phụ lục báo cáo của ông, nhóm của ông chôn các bia này, ghi nhận tọa độ địa lí của chúng ở 4 đảo. Trên đảo Bắc, họ chôn 2 bia khắc năm 1902 và 4 bia đề năm 1912. Trên đảo Lincoln (Ling Zhou), đội chôn 1 bia khắc năm 1902, 1 bia năm 1912 và 1 bia năm 1921. Trên đảo Phú Lâm 2 bia khắc năm 1921 đã được chôn. Cuối cùng, trên đảo Đá (Shi Dao/石岛: Thạch đảo), họ chỉ đặt 1 bia khắc năm 1912.

Tóm lại, năm 1937 phái đoàn đã đặt tổng cộng 12 bia trên các đảo, trong đó có 3 bia ghi năm 1902. Các bia này đã bị quên lãng từ 1937 đến 1979 nhưng sau đó đã được các nhà khảo cổ và PLA."phát hiện ra" từ năm 1974 đến năm 1979. Điều này gần như chắc chắn là lời giải thích cho câu văn bí ẩn trong cuốn sách của Samuels khi ông viết rằng các bia năm 1902 được cho là đã bị mất trong chiến tranh thế giới II.[6]


Những bí ẩn của các dấu chủ quyền ở quần đảo Trường Sa:

Hầu hết các sách, bài viết, và tuyên bố chính thức nêu rằng Trung Quốc đã chiếm lại quần đảo Trường Sa vào năm 1946 từ tay Nhật và đã dựng các bia chủ quyền trên một số đảo. Chuyện này đã được tác giả  Đài Loan Truơng Chấn Quốc (Zhang Zhen Guo/(张振国) kể lần đầu tiên  trong cuốn sách của ông "Chuyến đi đến Nam Sa" [Nansha xing/南沙行: Nam Sa hành] được viết vào năm 1957, nhưng được xuất bản năm 1975,[7]

Trương Chấn Quốc, đội phó trong chuyến đi của THDQ tới quần đảo Trường Sa năm 1956 (đối phó với Thomas Cloma), đã viết rằng trong chuyến đi năm 1946 do tư lệnh Mạch Uẩn Du (Mai Yun Yu/麦蕴瑜) lãnh đạo, đoàn đã nắm quyền kiểm soát của 3 hòn đảo, cụ thể là đảo Taiping [太平] (đảo Itu-Aba/Ba Bình), Nam Wei [南威岛: Nam Uy] (đảo Trường Sa) và đảo Xi Yue [西月島:Tây Nguyệt] (đảo West York/Bến Lạc). Trên 3 đảo này, nhóm của Mạch Uẩn Du dựng các bia chủ quyền khắc năm 1946,[8]

Tuy nhiên, khi cuốn sách của Trương Chấn Quốc xuất bản vào năm 1975, Mạch Uẩn Du vẫn còn sống và đã đọc nó. Điều đó là một cú sốc đối với ông! Thật ra, ông nhìn nhận rằng dù nhóm của ông đã có đến đảo Ba Bình vào tháng 12 năm 1946, phá hủy các bia của Nhật và đã trồng hai bia chủ quyền (phía Bắc và Nam của đảo) nhưng họ chưa hề đi đến đảo Trường Sa và đảo Bến Lạc.

Thật ra, theo các hồ sơ chính thức, khi Thomas Cloma của Philippines tuyên bố sở hữu đối với quần đảo Trường Sa (Freedomland) vào năm 1956, Đài Loan đã có 3 lần tuần tra quần đảo này (2 tàu từ 2 tới 14 tháng 6, 3 tàu từ 29 tháng 6 đến 22 tháng 7 và 2 tàu từ 24 tháng 9 tới 5 tháng 10). Trong những lần tuần tra này, binh sĩ đã tổ chức lễ chào cờ và dựng bia chủ quyền trên 3 đảo Ba Bình, Trường Sa và Bến Lạc. Tuy nhiên, các bia này khắc năm 1946 nhưng chỉ mới đưa tới Nam Sa 10 năm sau đó, vào năm 1956, như một mưu gian.[9]


Khảo cổ và yêu nước: Tính chính trị của các bia chủ quyền

Các nhà khảo cổ có thành thật khi họ tìm thấy các cột mốc ở quần Hoàng Sa? Hoặc giả họ đã được PLA, vốn biết rõ chuyện này, kèm cặp? Chúng ta không biết đuợc. Tuy nhiên, nếu chúng ta thêm màn diễn của quần đảo Trường Sa vào, chúng ta có thể nhìn thấy một mưu đồ phức tạp và có hệ thống hơn về viêc nguỵ tạo hồ sơ. Hai màn diễn này cho thấy những hạn chế của việc dựa vào các hiện vật khảo cổ nhằm cố gắng giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Vật thể có thể là đích thật (từ các bảo tàng chẳng hạn), nhưng được chôn rất trễ sau này. Trong cuộc chiến tranh tâm lí đối với các đảo ở biển Đông, thủ đoạn gian xảo này có thể trở thành thực tế. Điều này có vẻ là những gì đã xảy ra trong những vụ việc này. Các huyền thoại đã xuất hiện trong nhiều công trình viết bằng tiếng Anh và đã đi đến người đọc quốc tế. Dù vậy, có vẻ rằng những huyền thoại này sẽ được một ít nhà nghiên cứu có kiến ​​thức về tiếng phổ thông và một nhóm các chuyên gia Trung Quốc biết rất rõ. Tóm lại, điều đó gợi ra rằng ‘khảo cổ yêu nước' là lệch lạc sâu đậm và các chuyên gia nên thận trọng trước khi dựa vào nó để chuyển việc phán đoán về tranh chấp lãnh thổ.


------------------------------
 ẢNH BIA CHỦ QUYỀN  CHỦ QUYỀN 1902 

Bia triều Quang Tự (1882-1902) trên một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa

Nguồn: Thomas H. Hahn docu-Images. http://hahn.zenfolio.com/xisha/h1D468115#h1d468115.



CHUYẾN CÔNG TÁC  BÍ MẬT THÁNG 6/1937


Nguồn: Uỷ ban địa danh tỉnh Quảng Đông [Guang dong sheng di ming wei yuan hui], Sưu tập tư liệu về địa danh các đảo ở Nam Hải [Nan Hai zhu dao di ming zi liao hui bian], Nhà xuất bản bản đồ Quảng Đông [Guangdong sheng di tu chu ban she], 1987, p.289.

-----------------------------
Về tác giả: François-Xavier Bonnet là một nhà địa lí và một nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á đương đại Pháp (Irasec). Bên cạnh nhiều bài khác, ông đã xuất bản, "“ Geopolitics of Scarborough Shoal” (Địa chính trị bãi cạn Scarborough), tài liệu thảo luận Irasec ngày 14 tháng 11 năm 2012,



[1] Bài viết này đã được trình bày tại hội nghị biển Đông Nam Á (biển Đông), Trung tâm Luật Ateneo, Makati, 27 tháng 3 năm 2015.
[2]  Samuels, Marwyn S, Contest for the South China Sea, New York: Methuen, 1982, p.53
[3] Thất thập niên đại số 3 tháng 3/1973 được Hungdah Chiu and Choon-Ho Park trích dẫn trong, Legal Status of the Paracel and Spratly islands, Ocean Development and International Law, 1975, p. 25
[4] Han Zhen Hua, Lin Jin Zhi and Wu Feng Bin (edit), Sưu tập các tài liệu lịch sử về các đảo ở Nam Hải của chúng ta [Wo guo nan hai zhu dao shi liao hui bian/我国南海诸岛史料汇编 : Ngã quốc Nam hải chư đảo sử liệu hối biên] , Dong fang Chu ban she [東方出版社]: Đông phương xuất bản xã, 1988, p.210.
[5] Uỷ ban địa danh tình Quảng Đông [广东地名委员会/Guangdong sheng di ming wei yuan hui: Quảng Đông tỉnh địa danh uỷ viên hội], Sưu tập tư liệu về địa danh các đảo ở Nam Hải [南海诸岛地名资料汇编/Nan Hai zhu dao di ming zi liao hui bian: Nam hải chư đảo đia danh tư liệu hối biên], Nhà xuất bản bản đồ tỉnh Quản Đông [广东省地图出版社/Guangdong sheng di tu chu ban she: Quảng Đông tỉnh địa đồ xuất bản xã], 1987,
[6] Samuels, p.53
[7] Uỷ Ban, 1987, p.290
[8] Uỷ Ban, 1987, p.290
[9]  Uỷ Ban, 1987, p.291

Sunday, March 13, 2016

Cách Tập Cận Bình tìm kiếm lòng trung thành

 Seeking Loyalty Amongst the Four Key Groups – The Tactics of Xi’s Domestic Politics (Jamestown 8-3-16)

Tìm kiếm lòng trung thành trong bốn nhóm chính - Chiến thuật trong chính sách đối nội của Tập Cận Bình
China Brief quyển 16: số 5
Kerry Brown

Bản dịch của Phan Văn Song

“Siết chặt kỷ luật” “Trung thành với mục tiêu phấn đấu của Đảng” – Những yêu cầu cho lãnh đạo đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc là một đặc điểm thường xuyên của chính trị Trung Quốc, nhưng cuộc vận động mới nhất của  Tổng Bí thư ĐCSTQ Tập Cận Bình một số đặc điểm quan trọng.

Những yêu cầu mới đây về lòng trung thành với Đảng Cộng sản Trung Quốc, và đặc biệt là với lãnh đạo chóp bu, đã gây sự chú ý mới đối với hiện tượng thông tin nội bộ quan trọng này. Tuy nhiên, việc nhấn mạnh vào lòng trung thành không phải là một hiện tượng mới ở Trung Quốc, và bối cảnh lịch sử cùng việc xem xét các cuộc vận động về lòng trung thành gần đây cho ta nền tảng hữu ích để hiểu một loạt các chuyến thăm viếng long trọng và các phát biểu mới đây dính dáng tới lòng trung thành với Đảng của Chủ tịch nước kiêm Tổng Bí thư ĐCSTQ Tập Cận Bình. Trở ngược lại các thế hệ lãnh đạo trước, chẳng hạn, trong thập niên 2000, thời Hồ Cẩm Đào, đã có nguyên tắc “3 tối thượng” (三个至上: tam cá chí thượng)– sự nghiệp của ĐCSTQ, lợi ích của nhân dân, và hiến pháp cùng luật pháp là tối thượng. Nhưng dưới thời Tập Cận Bình, việc đòi hỏi lòng trung thành, các nhóm nhắm tới trong cuộc vận động, và những cách mà lòng trung thành được diễn tả lại khác biệt. 
Sự xuất hiện của Tập Cận Bình tại Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) vào ngày 16 tháng 2 được coi là bằng chứng về sự quay trở lại với chính trị kiểu Mao. Một bản tin chính thức của Tân Hoa Xã bằng Tếng Anh chỉ đơn giản nêu rằng “[Tập Cận Bình] khuyến khích họ gắn bó với cơ sở hơn và nói về các chủ đề mà công chúng quan tâm” (Xinhuanet, ngày 19 tháng 2). Tuy nhiên, bản Tiếng Trung về cuộc họp đó còn thẳng tuột hơn, nêu rằng thông điệp chính mà ông chuyển tải trong khi gặp các nhà báo là phổ biến tốt hơn “những thông điệp của chủ nghĩa Mác, việc ủng hộ Đảng, và sứ mệnh cải cách” qua việc nói rằng truyền thông nhà nước là “sự phản ánh tiếng nói của người dân” và phải “bảo vệ quyền lực của Đảng và bảo vệ sự thống nhất của Đảng”.  Cuối cùng ông cũng thúc giục truyền thông phải “trung thực” (Xinhuanet, ngày 19 tháng 2). 
Viếng các trụ sở truyền thông nhà nước để thúc đẩy những “yêu cầu” này phải luôn được chuyển tãi chỉ là một phần của tiến trình thương thảo mà Tập Cận Bình đã can dự vào kể từ khi ông trở thành lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc. Các nhóm mà ông chuyên chú nhất trong việc truyền đạt các đòi hỏi khác nhau về lòng trung thành trước nhất là các đảng viên cộng sản, các nhóm dân chủ, những người tạo ra dư luận (bao gồm giới truyền thông) và kế đó là quân đội. Trong mỗi trường hợp, cách tiếp cận là khác biệt, giọng điệu đa dạng, nhưng nền tảng chủ yếu cho lời kêu gọi là như nhau: Trung Quốc đang trong giai đoạn có khả năng khủng hoảng, đang đối mặt với những thách thức rất lớn, tình hình quốc tế bấp bênh, do đó việc ủng hộ, phục vụ và sát cánh với Đảng là vì lợi ích quốc gia Trung quốc. 
Đối với đảng viên, đặc biệt là các đảng viên cấp cao, thông điệp này không bao giờ ngưng nghỉ. Trong năm 2013, phát biểu tại nhiều cuộc họp khác nhau trong Đảng, Tập Cận Bình đã quay trở lại chủ đề trong những lời đầu tiên khi trở thành Tổng bí thư hồi tháng 11 năm 2012: khoảng cách giữa đảng và những người mà đảng lãnh đạo đang tăng lên . Nhưng tới tháng 4 năm 2013, ông giải thích vì sao điều này lại xảy ra — đó là kết quả của các cuộc cải cách và thị trường hóa, những phiền nhiễu mà điều này đem lại, và các cách thức mà cán bộ “mua bán quyền lực” ở Trung Quốc thị trường và bị thị trường hoá, (CCTV.com, 19 tháng 4 2013). Cần phải có sự rõ ràng. Thị trường là ổn thoả cho của cải vật chất chứ không phải cho tài sản của Đảng (quyền lực và trách nhiệm cốt lõi của đảng). Đó là sự phỉ báng vai trò đặc quyền của Đảng trong xã hội. Tập Cận Bình nói, “Đảng phải quản lí tốt chính mình.” Gốc gác là vấn đề các quan chức Đảng, đặc biệt là các cán bộ lãnh đạo đảng (领导 干部: lãnh đạo cán bộ) có “nhiều vấn đề trong niềm tin, tư tưởng, và trong công việc” (CCTV.com, 23 tháng 11 năm 2014). 
Để khắc phục nhược điểm của Đảng, Tập Cận Bình đòi hỏi, “đảng viên ... phải có kỷ luật nghiêm ngặt về chính trị.” Một số cán bộ có thái đô rằng miễn họ nghĩ rằng bản thân mình đã hành xử tốt thì việc chẳng cần biết đến người khác nhắm đến cái gì là điều chấp nhận được. Việc thông đồng tự bảo vệ nhau như vậy trong tầng lớp quản lý đã gieo nọc độc vào trong công chúng (CCTV.com, 23 tháng 10 năm 2014). Sự giàu có, thành công kinh tế, và dáng vẻ bề ngoài tư bản đã ăn vào đầu một số cán bộ. Điều hợm hĩnh này và việc đánh mất mối liên lạc với người dân đích xác là những triệu chứng mà các nhà lãnh đạo chủ chốt và các nhà phân tích Trung Quốc đã xác định là nguyên nhân chính của sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô. 
Lãnh đạo Đảng, ngay trên chóp bu của ĐCSTQ, cần phải biết lợi ích tốt nhất của họ được phục vụ vào chỗ nào. Họ cần phải hiểu, như Tập Cận Bình nói trong một cuộc họp Bộ Chính trị vào giữa năm 2015, rằng họ có thể “có lên có xuống.” Họ không có quyền bất khả xâm phạm nào để giữ rịt vị trí đang có. Tác động là rõ ràng. Tập Cận Bình nói “Cán bộ tốt phải gần gũi với người dân”. Nhưng họ cũng đang bị đúc nắn bởi sự sợ hãi và lo lắng, bởi vì thời của kỷ luật và thêm một lớp phán xét đang phủ lên họ, không chỉ là về đem lại GDP cao mà còn về chứng minh tính chân thực, trung thành với sự nghiệp của Đảng (Xinhuanet, ngày 26 tháng 6 năm 2015). 
Nhóm dân chủ được coi như nhóm thứ hai cho cuộc vận động về lòng trung thành. Về chiến thuật, do tính bên lề về chính trị của mình họ chỉ có thể có vai trò một khi các viên chức đảng và các đảng viên đã nhận được điều muốn nhắn gửi. Với họ, lời kêu gọi của Tập Cận Bình đặt nặng hơn trên ý tưởng rằng đảng cộng sản có khả năng quản lý tốt chính mình cũng là vì lợi ích của họ. Nhưng cũng giống như họ, điều muốn nhắn gửi cơ bản dựa trên những lo lắng và băn khoăn về giai đoạn cốt yếu mà Trung Quốc hiện đang bước vào. Phát biểu với một nhóm các đảng viên Đảng Dân chủ yêu nước, người ngoài đảng, và nhiều nhân vật của các nhóm xã hội hồi tháng 7 năm 2015, Tập Cận Bình nói rằng mục tiêu chính bây giờ là ủng hộ sự ổn định, và “cải thiện chất lượng kinh tế.” Đây là mục tiêu chiến lược của Đảng. Ủng hộ nó là vì lợi ích của các nhóm này, Tập Cận Bình nói (Xinhuanet, ngày 30 tháng 7).
Đối với nhóm thứ ba, đặc biệt là giới truyền thông, và những người được coi là có vai trò trong việc hình thành công luận, chuyến viếng thăm CCTV hồi tháng 2 tiêu biểu cho cách tiếp cận này. Ở đây lòng trung thành được nhấn mạnh nhiều hơn ở ý tưởng về trách nhiệm, về việc truyền thông “ phản ánh tiếng nói của nhân dân”, và về việc có một loạt các nhiệm vụ bảo vệ, chủ yếu thông qua Đảng tới nhân dân. Trong ý kiến do Tập Cận Bình đưa ra vào cuối năm 2015 cho giới truyền thông, cũng có đòi hỏi thêm rằng họ phải hành động một cách yêu nước, và phải “yêu nước” (Xinhuanet, 31 Tháng 12 2015). Vì vậy, trong khi giới truyền thông và những người có ảnh hưởng không bị chê trách về hành xử sai trái trong tài liệu, về sử dụng sai đơn giản các ý tưởng và phản bội các giá trị cốt lõi, như họ đang bị Đảng lên tiếng phê phán, là một loại tham nhũng. 
Đối với nhóm thứ tư, quân đội, đường hướng đơn giản hơn. Ở đây lòng trung thành không phải được yêu cầu, cũng không phải thương lượng — nó là bắt buộc. Phát biểu với các lãnh đạo PLA vào ngày 11 tháng 1 năm 2016, Tập Cận Bình khẳng định rằng họ phải sát sao với Đảng, rằng họ cần phải phục vụ sự lãnh đạo thống nhất, trong đó nhiệm vụ có tính nguyên tắc của họ là để phục vụ quyền lực của Đảng, nghe lệnh của đảng, và có ý thức phục vụ cao (Tân Hoa Xã, 11 tháng 1 năm 2016). Họ có vai trò quan trọng trong phương trình “nước giàu, quân mạnh,” (富国强军: phú quốc cường quân) nhưng điều thú vị là Tập Cận Bình trong bài phát biểu của ông không đưa ra bối cảnh theo chủ đề cho lý do tại sao quân đội cần phải trung thành - chỉ việc họ phải trung thành. 
Đáng chú ý là trong ba năm qua, có một nhóm mà Tập Cận Bình dường như tác động với các đòi hỏi, yêu cầu và gợi ý về lòng trung thành tối thiểu nhất là các doanh nghiệp nhà nước và giới thương mại. Một ví dụ là bài phát biểu của Tập Cận Bình ngày 28 tháng 4 năm 2015 trước ngày lễ lao động (劳动节: lao động tiết; 1 tháng 5), trong đó ông đã yêu cầu công nhân cần đào sâu các giá trị xã hội chủ nghĩa, và các hiểu biết về văn hóa Trung Quốc, nhưng không đòi hỏi cụ thể về lòng trung thành (Xinhuanet, 28 tháng 4 năm 2015). Theo cái nhìn về chức năng của họ như một động lực tăng trưởng kinh tế hết sức quan trọng, đây là một sự khác biệt thú vị trong đối xử. Có phải vì vận mệnh kinh tế của họ được coi như là gắn liền với Đảng và sự kiểm soát của Đảng trên không gian kinh tế đến nỗi họ không cần phải được nói và trao truyền thẳng thừng một cách chính thức? Hay chỉ đơn giản là vì họ, với tư cách là các chủ thể kinh tế và thương mại (bao gồm cả các công ty nhà nước và ngoài nhà nước), không có vai trò quan trọng trong thế giới nhận thức của Đảng, và chỉ đơn giản là nằm vào nhóm thứ hai thuộc về các lực lượng phi chính trị. Hoặc cuối cùng là vì trên thực tế Đảng không có cách nào để yêu cầu sự trung thành của họ về ý thức hệ hay về thứ khác, bởi vì điều tốt nhất mà đảng có thể làm là cho phép họ có khoảng trống để làm ra nhiều sản phẩm để rồi sau đó hưởng các lợi ích do họ mang lại? 
Chiến lược kiểm soát không gian chính trị trong nước ở Trung Quốc trong ba năm qua được vạch ra theo hướng tìm kiếm lòng trung thành này. Đối với một số nhóm (các đảng viên) đó là kỷ luật nghiêm khắc thông qua việc săn lùng tham nhũng và xây dựng đảng; đối với những nhóm khác (ngoài Đảng) thông qua lời kêu gọi yêu nước và các mối đe dọa bị che khuất; thông qua truyền thông, đó là các đòi hỏi về trách nhiệm và “sự trung thực”, và đối với quân đội chỉ đơn giản là ra lệnh. Đảng thông qua Tập Cận Bình đã nói đủ rõ ràng. Câu hỏi đặt ra bây giờ là các đối tượng được nhắm tới có lắng nghe, và, quan trọng hơn là có hiểu được hay không? 
Kerry Brown là Giáo sư Nghiên cứu Trung Quốc và Giám đốc Viện Trung Quốc Lau tại Đại học King, London. Trước đó, ông là giáo sư Chính trị Trung Quốc và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Sydney. Quan tâm chính của ông là chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế của Trung Quốc hiện đại.
Li Linxi là một sinh viên tiến sĩ tại Viện Trung Quốc Lau.

Wednesday, March 9, 2016

Những giới hạn của chủ nghĩa tư bản với đặc trưng cộng sản

Những giới hạn của chủ nghĩa tư bản với đặc trưng cộng sản

(The Limits of Capitalism with Communist Characteristics)


BRAHMA CHELLANEY

Project Syndicate (04/03/2016)
(bản dịch đã đăng trên anhbasam ngày 10/3/2016)


NEW DELHI - Khi Tổng thống Mỹ Barack Obama đang chuẩn bị thực hiện chuyến thăm lịch sử tới Cuba, tương lai của hòn đảo do cộng sản cai trị này là đối tượng cho việc săm soi rông rãi. Một số nhà quan sát hi vọng rằng bước chuyển đổi về phía chủ nghĩa tư bản đang diễn ra vốn đã xảy ra rất từ ​​từ trong 5 năm qua theo chỉ đạo của Raúl Castro, đuơng nhiên sẽ dẫn Cuba tiến tới dân chủ. Kinh nghiệm cho thấy không phải vậy.

Trên thực tế, tự do hóa kinh tế còn xa mới là một con đường chắc chắn để đi tới dân chủ. Không có gì minh họa điều này tốt hơn là chế độ chuyên chế lớn nhất và lâu đời nhất của thế giới, Trung Quốc, nơi mà Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) duy trì sự độc tôn quyền lực, ngay cả khi các cải cách theo thị trường đã cho phép nền kinh tế nâng lên. (Kẻ hưởng lợi chính trong tiến trình này là quân đội Trung Quốc.)

Niềm tin rằng chủ nghĩa tư bản tự động mang lại dân chủ bao hàm một kết nối về ý thức hệ giữa hai hệ thống này. Nhưng sự thống trị của ĐCSTQ (hiện có tới 88 triệu đảng viên, nhiều hơn toàn bộ dân số nước Đức) không còn bắt nguồn từ ý thức hệ. Đảng, đại diện bởi nhóm đầu sỏ khép kín, vẫn trụ dai dẳng bằng cách sử dụng một loạt các công cụ - cưỡng chế, tổ chức, và tuởng thuởng - để ngăn cản sự xuất hiện của lực lượng đối lập có tổ chức.

Một tài liệu của đảng năm 2013, gọi là "văn bản số 9" đã liệt kê 7 mối đe dọa đến sự lãnh đạo của ĐCSTQ mà Tập Cận Bình có ý định triệt bỏ, trong đó có chấp nhận "nền dân chủ lập hiến phương Tây," đề cao các "giá trị phổ quát" về quyền con nguời, khuyến khích "xã hội dân sự", chỉ trích quá khứ của đảng theo lối "hư vô chủ nghĩa" , và thừa nhận các "giá trị tin tức phương Tây."

Tóm lại, chủ nghĩa cộng sản hiện nay chú trọng ít hơn vào cái thuộc bản chất của nó  (tức là ý thức hệ) và nhiều hơn vào cáì không thuộc về nó. Trên tất cả, đại diện của nó tìm mọi cách giữ lấy quyền lực chính trị - một nỗ lực đuợc sự phồn thịnh kinh tế do chủ nghĩa tư bản mang lại trợ giúp, qua việc giúp ngăn chặn đòi hỏi muốn thay đổi của công chúng .

Ở Việt Nam và Lào câu chuyện cũng tương tự. Cả hai bắt đầu phân cấp kiểm soát kinh tế và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân trong những năm cuối thập niên 1980, và bây giờ nằm trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất Châu Á. Việt Nam thậm chí còn là một thành viên của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Duơng (TTP) đang phôi thai. Nhưng nhà nước độc đảng này vẫn cố kết và tiếp tục dấn vào việc đàn áp chính trị mạnh bạo.

Mọi thứ dường như chưa sẵn sàng để thay đổi trong tuơng lai gần. Ở Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng có đầu óc cải cách, gần đây đã thất bại trong nỗ lực giành vị trí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản (lãnh đạo tối cao của đất nước); Đại hội lần thứ 12 đã bầu lại TBT đương nhiệm, Nguyễn Phú Trọng.

Ngoài việc cung cấp lợi ích vật chất đủ để giữ cho người dân hài lòng, chủ nghĩa tư bản giúp nhà nước do cộng sản cai trị tăng cuờng năng lực đàn áp nội bộ và kiểm soát thông tin. Một ví dụ là "Great Firewall [tuờng lửa] của Trung Quốc" , một hoạt động của chính phủ chuyên theo dõi và ngăn chặn các nội dung trên Internet, tạo ra một không gian thông tin ‘sạch sẽ’ về chính trị đối với công dân. Trung Quốc là nước lớn duy nhất trên thế giới có ngân sách an ninh nội bộ chính thức lớn hơn ngân sách quốc phòng chính thức.

Đối mặt với sự đảo lộn kinh tế hiện nay của Trung Quốc, kiểm soát thông tin đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để ngăn chặn những thách thức tiềm năng, lãnh đạo Trung Quốc đã ngày càng bịt miệng báo chí, qua việc hạn chế, đặc biệt là trong đưa những tin tức hay bình luận có thể gây ảnh hưởng xấu đến giá cổ phiếu hay tiền tệ. Tập Cận Bình đã yêu cầu các nhà báo phải thề " trung thành tuyệt đối" với ĐCSTQ, và theo sát sự lãnh đạo của họ về "tư tưởng, chính trị và hành động." Một tờ báo của nhà nước, cảnh báo rằng "tính hợp pháp của đảng có thể đi xuống," lập luận rằng "báo chí quốc gia là cốt yếu cho sự ổn định chính trị."

Rõ ràng, nơi mà người cộng sản coi là chỗ quyết định, sự phát triển của thị trường tự do cho hàng hóa và dịch vụ không nhất thiết dẫn đến sự xuất hiện của thị trường các ý tưởng. Ngay cả Nepal, một nước do cộng sản thống trị có tổ chức bầu cử, đã không thể chuyển dịch sự tự do hóa kinh tế thành một quá trình chuyển đổi dân chủ đáng tin cậy. Thay vào đó, nền chính trị của đất nước này vẫn còn trong trạng thái không ổn định, với các cuộc khủng hoảng chính trị và hiến pháp xói mòn tiếng thơm của nó như là một Shangri-La [địa đàng] và đe dọa biến nó thành một quốc gia lụn bại.

Có vẻ dân chủ và chủ nghĩa cộng sản loại trừ lẫn nhau. Nhưng chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản rõ ràng là không như vậy - và điều đó có thể rất nguy hiểm.

Trên thực tế, cuộc hôn nhân của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, do Trung Quốc đi đầu, đã sinh ra một mô hình chính trị mới thể hiện sự thách thức trực tiếp đầu tiên với nền dân chủ tự do tính từ chủ nghĩa phát xít: chủ nghĩa tư bản độc đoán. Với sự trỗi dậy ngoạn mục thành một cường quốc hàng đầu thế giới trong vòng chưa đầy một thế hệ, Trung Quốc đã thuyết phục các chế độ chuyên quyền ở khắp mọi nơi rằng chủ nghĩa tư bản độc đoán - hoặc, như các nhà lãnh đạo Trung Quốc gọi nó là "chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc" - là con đường nhanh nhất và êm ái nhất đi đến sự thịnh vượng và ổn định, ưu việt hơn nhiều so với nền chính trị bầu cử lộn xộn. Điều này có thể giúp giải thích vì sao việc lan tỏa dân chủ trên toàn thế giới gần đây đã chững lại.

Chuyến thăm Cuba sắp tới của Obama nên được chào đón như là một dấu hiệu của sự kết thúc chính sách cô lập vụng về của Mĩ - một diễn biến có thể mở đường cho việc dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại 55 năm đối với đất nước này. Nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng việc Cuba mở cửa kinh tế, đuợc thúc đẩy bởi sự xích lại gần do Obama khởi xướng, nhất thiết sẽ mở ra một kỉ nguyên chính trị mới ở Cuba.

------------------------------------
Brahma Chellaney, Giáo sư Nghiên cứu chiến lược tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lượcđóng ởNew Delhi và nhà nghiên cứu chính sách tại Robert Bosch Academy tại Berlin, là tác giả 9 quyển sách, trong đó có  Asian Juggernaut,(Juggernaut Châu Á) , Water: Asia’s New Battleground, (Nước: Chiến trường mới ở Châu Á), và Water, Peace, and War: Confronting the Global Water Crisis (Nước, hòa bình, và chiến tranh: Đối mặt với khủng hoảng nước toàn cầu).