Monday, April 1, 2013

Nhân đọc bài về tiếng Việt của BBC và VOA


Nhân đọc bài về tiếng Vit ca BBC và VOA

(Có điều chỉnh đôi chút so với bài đã đăng trên Calitoday.com ngày 29/3/2013)


Tôi rất thích thú theo dõi loạt bài của tác giả Đào Văn Bình trong phần TIẾNG VIỆT MẾN YÊU của Calitoday.com, nhất là bài “Trình độ Việt ngữ của BBC và VOA tiếng Việt. Trong tình hình các phương tiện truyền thông có nhiều vấn đề trong việc sử dụng tiếng Việt như tác giả chỉ ra mà nhà văn Nguyễn Quang Lập gọi là ‘làm rách tiếng Việt’ hay blogger DongPhung Việt nói là ‘cưỡng hiếp tiếng Việt’ thì những bài viết của tác giả rất cần thiết và rất đáng trân trọng. Tác giả đã có những nhận xét  và có nhiều góp ý rất tinh tế về việc sử dụng tiếng Việt nói chung, và của BBC và VOA nói riêng. Hầu hết các nhận xét này là xác đáng và các góp ý rất chân tình. Tuy nhiên cũng có vài nhận xét và góp ý có lẽ cần được bàn thêm. Trước khi đi vào các chi tiết cụ thể , xin được phép nêu lên một số điểm có tính chất chung hơn như sau:

i. Tiếng Việt là một ngôn ngữ sống nên không đứng yên mà luôn phát triển giống như các ngôn ngữ sống khác. Dĩ nhiên sự phát triển này không phải thẳng tắp mà có thể có những thăng trầm, có mặt tích cực cũng có chỗ tiêu cực. Cứ so sánh những bài viết thời Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của với thời Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh rồi thời Tự Lực Văn đoàn và ngày nay thì thấy rất rõ điều này. Nhiều từ mới đã nẩy sinh ra, những cách nói mới hình thành, có những từ cũ có nghĩa mới đặc biệt là khi thành thuật ngữ,và thậm chí có những từ đã hoặc đang chết…Theo từ điển Oxford, mỗi năm tiếng Anh có thêm hàng trăm từ mới (từ điển Oxford thêm khoảng 400 từ năm 2011), chưa kể nhiều từ cũ thay đổi nghĩa hoặc biến đi, tiếng Việt cũng thế nhưng có thể có mức độ thấp hơn (không có số liệu nhưng mức vài chục từ mới/năm chắc không đến nỗi quá đáng).

ii. Những thứ mà trước đây ta nghe quen tai, cho là khuôn mẫu chưa chắc đã là khuôn mẫu hay cách nói đúng trong tiếng Việt. Để ý rằng chúng ta mới chuyển từ nền giáo dục chữ Hán sang nền giáo dục bằng chữ quốc ngữ[1] nên rõ ràng cách nói, cách viết của ta cũng cần phải có thời gian mới có thể thoát khỏi ảnh hưởng của nền Nho học này. Một ví dụ điển hình về ảnh hưởng này là trường hợp sau đây. Cuốn Việt Nam Văn phạm’ của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm[2] là một trong những cuốn ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên mà nhiều thế hệ chúng ta vẫn cho là mẫu mực. Tuy nhiên, éo le thay cuốn này lại có cái tên không theo trật tự tiếng Việt (lẽ ra phải là ‘Văn phạm Việt Nam’ hay đúng hơn là ‘Ngữ pháp tiếng Việt’), và một tác giả của nó là Phạm Duy Khiêm, khi ghi các chức danh kèm theo tên mình cũng không theo trật tự tiếng Việt là ‘Văn phạm học giáo sư, Sư phạm cao đẳng học đường cựu học sinh’(!) Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi nhiều từ hay cách nói ta quen dùng và cho là mẫu mực như Á châu, Tây phương, thánh kinh, dân ý, văn khoa, tuần dương hạm, chủ toạ đoàn, Quốc dân đảng, Tây Ninh đồng hương hội..., hoặc ngay cả tên cuốn sách mà tác giả cho là xương sống của văn chương Việt Nam thi văn hợp tuyển[3] và thậm chí tên nước của 2 miền trước đây VNCH, VNDCCH... cũng không tuân theo ngữ pháp tiếng Việt (trật tự từ theo ngữ pháp Tàu -phụ trước, chính sau)[4]. Còn cái tên trường mà tác giả từng theo học là Học viện Quốc gia hành chánh, dù có tiến bộ hơn không đến nỗi hoàn toàn theo trật tự tiếng Hán (Quốc gia Hành chánh Học viện). Tuy nhiên, cái tên này có lẽ cũng không phải hoàn toàn đúng theo trật tự tiếng Việt (đúng ra phải là Học viện Hành chánh Quốc gia - thử xét nếu chúng ta có một trường cấp tỉnh như thế ở Huế thì trường này chắc chắn phải có tên là Học viện Hành chánh Huế, chứ không phải là Học viện Huế Hành chánh theo kiểu tên trường của tác giả). Thế thì chúng ta cần ý thức chỉnh lại hay vẫn cho rằng cách nói cũ là mẫu mực?
Tôi cho rằng có lẽ ta phải theo cách nói ‘mới’ (thật ra không phải là ‘cách nói mới’ mà là ‘cách nói đúng’ hơn), tức là nên nói/viết theo đúng trật tự tiếng Việt (như châu Á, phương Tây, kinh thánh, ý dân, khoa văn, tàu tuần dương, đoàn chủ tịch, Hội đồng hương Tây Ninh), trừ những trường hợp có tính lịch sử thì đành phải chấp nhận cái sai của lịch sử (như VNCH, VNDCCH, QDĐ, VN thi văn hợp tuyển, Tự Lực Văn đoàn...).  Khá là chua xót khi tiếng Việt có những quy tắc riêng nhưng tới thế kỉ 21 này chúng ta vẫn còn nói/viết theo ngữ pháp Tàu.  Càng đau xót hơn nếu vài ba mươi năm sau hay lâu hơn nữa mà con cháu ta vẫn lập lại cái sai của chúng ta. Vì vậy, theo tôi chúng ta cần ý thức và cố thay đổi ngay bây giờ.

iii. Ngôn ngữ nào không ít thì nhiều cũng phải vay mượn từ ngữ, cách nói của ngôn ngữ khác. Tiếng Việt cũng không ngoại lệ, đặc biệt sau hàng ngàn năm Bắc thuộc ngôn ngữ ta đã vay mượn từ tiếng Hoa rất nhiều từ ngữ, có lẽ phải trên 50%, dĩ nhiên ta cũng có vay mượn một số của các nước láng ging khác nhưng mức độ khiêm tốn hơn. Sau này, tiếng Việt còn vay mượn thêm một số từ ngữ nữa từ tiếng Pháp khi bị họ đô hộ gần cả trăm năm, rồi tới thời Mĩ và cùng với xã hội phát triển, hội nhập toàn cầu ta cũng vay mượn thêm nhiều từ nữa từ tiếng Anh… Thế thì ta xử lí các từ vay mượn này thế nào?
Theo ý riêng, đối với những từ HV vay mượn mà trong tiếng Vit ta có từ tương đương thì có lẽ ta nên dùng từ tiếng Việt, ví dụ trong phần lớn trường hợp nên dùng tiếng Việt thay vì Việt ngữ, lớn/cao tuổi thay vì cao niên, quần áo lót thay vì nội y,… Trong vay mượn cố gắng chỉ mượn từ, không mượn cấu trúc (như đã ví dụ ở mục ii.) trừ khi không thể làm được kiểu như học sinh à sinh học, chính phủ à phủ chính…, hoặc khi cấu trúc vay mượn làm cách din đạt gọn rõ hơn kiểu như pháp trị (= cai trị theo luật pháp), công luận (= ý kiến chung của xã hội)…
Đối với những từ vay mượn từ nguồn Âu Mĩ (do không thể tạo ra từ tiếng Việt tương đương) thì theo kinh nghiệm lâu nay, ta có thể dùng cách phiên âm như phim (film), xà phòng (savon), cao su (caouthchouc)… hoặc để nguyên dạng, nhất là các tên riêng như Paris, London, Australia. Barrack Obama, Julia Gillard … Những từ mà tác giả có nêu như module, logic, blog, container… theo tôi, thuộc loại này. Ở đây cũng có một cách trước đây ta có dùng là phiên âm qua trung gian tiếng Tàu. Tuy nhiên, tôi cho rằng chúng ta không nên dùng cách này (trừ những trường hợp quá quen thuộc như Anh Pháp, Nga, Mĩ, Đức,…) vì lúc chuyển qua Hán Việt thì âm có thể khác rất xa với âm gốc (ví dụ Argentina phiên âm theo Tàu là ā gēn ting nghe khá gần âm gốc, còn chuyển sang âm HV thành Á Căng Đình thì không được như vậy…). Hơn nữa, cũng không có lí do để ta phải dùng một thứ tiếng khác làm trung gian ở đây.

iv. Xã hội, đời sống phát triển thì sẽ có nhiều điều mới, thứ mới xuất hiện. Do đó, ngôn ngữ cũng cần có các khái niệm mới, cách diễn đạt mới để phản ánh chúng. Chẳng hạn bây giờ xã hội đã chú ý đến vấn đề bình đẳng nam nữ, dân tộc… nên từ vựng cũng phải có sự thích ứng như ta thấy trong tiếng Anh (chairman à chairperson, spokesman à spokesperson…, hoặc có thêm từ Ms để chỉ phụ nữ nói chung không chú ý tình trạng gia đình), còn trong tiếng Việt hiện nay trong nước cũng có khuynh hướng dùng từ ‘cưới’ cho cả nam lẫn nữ, ít dùng các từ có tính miệt thị như bọn mọi, bọn mán … Hoặc trước đây thế giới làm gì có mì ăn liền, nhạc rap, computer, mobile phone, internet, ipad, DTV… thành ra trong ngôn ngữ cũng chưa có những từ tương ứng để chỉ những khái niệm này và những khái niệm có liên quan. Liên lạc với nhau thì hoặc là trực tiếp, bằng thư hay điện thoại… chứ làm gì có nói chuyện với nhau trực tuyến. Hoặc trong xã hội Việt Nam trước đây, cuộc sống còn cơ cực nên làm gì biết tới khái niệm/cách nói chân dài, model, hot boy, hot girl, siêu sao, gây sốt… hoặc việc học hành, làm ăn còn đàng hoàng nên làm gì có cà phê đểu, có bia ôm, chạy chức, chạy điểm, chạy bằng… Trước đây thế giới chưa chú trọng tới bảo vệ mội trường nên chúng ta không có các từ như năng lượng sạch, xe hybrid, trồng cây xanh[5]… Chẳng lẽ ta quay về sống với tiếng Việt thời trước 1975 hay trước nữa và không chấp nhận các từ mới, các cách nói ‘mới’ này. Thực tế dù chúng ta có chấp nhận hay không thì những từ mới và những cách nói mới đó vẫn tồn tại. Và những từ mới nào, cách nói mới nào không phù hợp qua thời gian sàng lọc sẽ bị số đông loại bỏ như chúng ta đã từng có kinh nghiệm.

Bây giờ xin được phép đi vào từng ví dụ cụ thể của tác giả trong bài viết:

1.      BBC tiếng Việt ngày 27/1/2013: "Nhạc sỹ Phạm Duy có tiền sử bệnh tim và từng qua hai lần giải phẫu tim." Câu này được tác giả chỉnh lại gọn nhẹ hơn là "Nhạc sĩ Phạm Duy đã từng bị bệnh tim và đã qua hai lần giải phẫu” Tuy nhiên tôi e rằng cách hiểu từ "tiền sử" của tác giả có phần cứng nhắc. Đây là một thuật ngữ ngành y có nghĩa ‘toàn bộ tình hình chung về sức khoẻ và bệnh tật đã qua của một bệnh nhân’. Một từ thông thường khi thành thuật ngữ thì có thể có ý nghĩa mới/khác như tôi có dịp nói qua trong mục i.

2.      VOA tiếng Việt ngày 7/2/2013: "Các phần tử cực đoan đang đe dọa sẽ làm trật đường rầy tiến trình chuyển đổi sang dân chủ của Tunisia." Ở đây tác giả đã phân tích rất đúng lỗi dịch sát từng từ của VOA và đã đưa ra câu chỉnh thanh thoát hơn, " Các phần tử cực đoan đang đe dọa làm lệch tiến trình dân chủ của Tunusia.”

3.      BBC tiếng Việt ngày 8/2/2013: "Giáo sư Mỹ bị đòi đuổi việc vì chê VN".Đúng như tác giả nhận xét ‘đây là câu văn tối nghĩa, giống như một ông Tây, ông Mỹ không rành tiếng Việt mà nói tiếng Việt’ và đã đưa ra câu chỉnh ‘Việt’ hơn "Kêu gọi sa thải giáo sư Mỹ đã xúc phạm người Việt Nam."

4.      VOA ngày 7/2/2013; "Chuyện làm tình nguyện ở Mỹ". Đồng ý với nhận xét ‘câu văn không sai’ nhưng thêm ý ‘thiếu trình độ’ thì hơi nặng. Cũng đồng ý với câu chỉnh của tác giả thành "Chuyện phục vụ thiện nguyện ở Mỹ". Do chưa đọc được bài báo này nên tôi chưa rõ dùng ‘công việc tự nguyện’ hay ‘phục vụ thiện nguyên’ phù hợp hơn. Ở Australia, những người thất nghiệp đôi khi phải tự nguyện làm một vài công việc không lương nào đó mới được cấp tiền an sinh xã hội. Nếu coi các việc làm như vậy là phục vụ thiện nguyện e không thật đúng với nghĩa từ thiện nguyện.

5.      BBC ngày 10/2/2013: "Hà Nội cũng có kế hoạch đóng mới một tàu biển đa năng có khả năng chịu sóng lớn để làm tàu bệnh viện.". Đồng ý với tác giả, về mặt logic từ "mới" ở đây là thừa vì đóng tàu là đóng tàu mới rồi, không ai đóng tàu cũ cả. Tuy nhiên ngôn ngữ luôn có tính võ đoán và là của số đống nên logic nhiều khi cũng không có tác dụng. Trong các ngôn ngữ khác cũng có kiểu nói thừa như vậy như trong tiếng Anh người ta thường nói DVD disk, …. Có thể từ ‘đóng mới’ nằm trong trường hợp này chăng? Nếu quả vậy thì dù không phù hợp logic cá nhân chúng ta cũng không thể nào loại bỏ được như tôi có đề cập trong mục iv.

6.      VOA tiếng Việt ngày 10/2/2013: "Hơn một tỉ người châu Á trên khắp thế giới đã bước vào năm con Rắn bằng những màn pháo bông, ăn nhậu và đi thăm người thân." Tác giả đã nhận xét đúng về cách dùng từ ‘ăn nhậu’ là không thích hợp và câu chỉnh theo tôi là tốt hơn,"Hơn một tỉ người Châu Á khắp thế giới bước vào năm con Rắn bằng những màn đốt pháo bông, tiệc tùng và thăm viếng người thân." Theo ý riêng, nếu dùng từ ‘ăn chơi’ thay cho ‘tiệc tùng’ thì có lẽ cũng chấp nhận được, dĩ nhiên không sát nghĩa bằng từ ‘tiệc tùng’.

7.      VOA tiếng Việt ngày 10/2/2013: "Vùng đông bắc nước Mỹ bắt đầu dọn dẹp sau cơn bão tuyết hung bạo." Câu chỉnh của tác giả "Vùng Đông Bắc nước Mỹ bắt đầu dọn dẹp sau trận bão tuyết dữ dội.” là xác đáng. Dùng từ ‘hung bạo’ rõ ràng không hợp trong văn cảnh này.

8.      BBC tiếng Việt ngày 16/2/2013: “Xuất hiện ảnh hậu phẫu của Hugo Chavez”. Hình như tác giả hơi thiên lệch ở đây khi phê phán việc dùng từ ‘hậu phẩu’ trong khi chính ông cổ vũ dùng các từ như hải cảng, phi cảng, tuần dương hạm… và ‘vô tư’ dùng từ Việt ngữ. Theo ý riêng, từ ‘hậu phẩu’ mặc dù vay mượn nhưng có thể chấp nhận được vì làm gọn nhẹ cách diễn đạt như nêu trong mục iii ở trên (thay vì phải nói dài hơn là ‘sau khi giải phẩu’). Còn các câu chỉnh của tác giả, có vẻ cũng không trong sáng hơn vì chưa đủ ý so với câu gốc. Câu: "Ảnh Ô. Hugo Chavez sau cuộc giải phẫu" thiếu ý ‘xuất hiện’, còn câu "Ô. Hugo Chavez sau cuộc giải phẫu" không có ý nào nói lên sự xuất hiện của ảnh. Tôi chưa đọc bài nàycủa BBC nên ý kiến đóng góp này có thể chưa thật chính xác.

9.      BBC tiếng Việt ngày 16/2/2013: "Malaysia bắt giữ thượng nghị sỹ Úc". Đồng ý với nhận xét và câu chỉnh của tác giả "Malyasia chặn giữ thượng nghị sĩ Úc tại phi trường.” Tuy nhiên, có thể từ ‘tạm giữ’ hợp văn cảnh ở đây hơn.

10.  BBC tiếng Việt ngày 17/2/2013: "Bắc Hàn kỷ niệm ngày mất Kim Jong-il". Đồng ý với câu chỉnh của tác giả: "Bắc Hàn kỷ niệm ngày Kim Jong-il qua đời". Tuy nhiên có vẻ nhận xét rằng ‘đây là loại tiếng Việt kém cỏi, xem thường người đọc quá đỗi’ thì hơn khe khắc. Tôi cho rằng nếu BBC viết "Bắc Hàn kỷ niệm ngày mất của Kim Jong-il" hay “Bắc Hàn kỷ niệm ngày giổ Kim Jong-il" thì có lẽ cũng chấp nhận được. Còn dùng mất hay qua đời có lẽ cũng không khác biệt lắm về sắc thái ngữ nghĩa ở đây.
11.  BBC tiếng Việt ngày 18/2/2013: "Báo TQ phê Mỹ về Bắc Triều Tiên". Nhận xét của tác giả về từ "phê" là xác đáng. Đúng là trong văn nói của tiếng Việt hay tiếng nước ngoài, ta có thể nói tắt nhưng trong văn viết, nhất là dưới dạng chính thức, công cộng như thế này thì không nên dùng.

12.  BBC tiếng Việt ngày 18/2/2013: "Phim giá rẻ Trung Quốc gây sốt". Tác giả có nhận xét xác đáng về từ ‘giá rẻ’ nhưng có vẻ dị ứng với cách nói "gây sốt" mà tôi cho là khá hình tượng, nên dùng. Còn câu văn chỉnh là "Trung Quốc: Phim không tốn kém nhưng thành công bất ngờ" hình như chưa xứng hợp. Tác giả phê phán ‘giả rẻ’ và đề xuất thay bằng ‘ít tốn kém’ nhưng lại dùng ‘không tốn kém’(ý nghĩa khác hoàn toàn với ít tốn kém). Có thể cũng có vấn đề khi tác giả dùng cấu trúc câu có dấu “:” ở đây, tuy nhiên do tôi chưa đọc được bài của BBC nên khó góp ý chính xác.

13.  BBC tiếng Việt ngày 18/2/2013: "Phóng viên BBC đình công vì giảm việc làm". Đồng ý với nhận xét và câu chỉnh đầu của tác giả, "Phóng viên BBC đình công vì bị cắt giảm việc làm". Còn câu chỉnh sau "Phóng viên BBC đình công vì việc làm bị cắt giảm" có vẻ không phù hợp bằng (do từ bị không gắn trực tiếp với phóng viên mà gắn với việc làm).

14.  BBC tiếng Việt ngày 7/12/2012: "Cấm quan chức Nga 'vi phạm nhân quyền' ". Đồng ý với nhận xét của tác giả. Về còn câu chỉnh "Trừng phạt các quan chức Nga vi phạm nhân quyền", do chưa đọc được bài báo này nên khó có ý kiến.

15.  VOA tiếng Việt ngày 28/2/2013: "Tàu không gian này sẽ kết nối với một môđun không gian thử nghiệm gọi là Thiên Cung 1." Tác giả dịch module thành bộ phận rời, bộ phận phụ. Tuy nhiên cách dịch này có vẻ chưa lột tả hết ý nghĩa của từ module (a self-contained unit of a spacecraft that performs a specific task or class of tasks in support of the major function of the craft, tạm dịch là một đơn vị có đủ bộ phận để tự hoạt động của một tàu vũ trụ thực hiện một hoặc lớp nhiệm vụ cụ thể phù trợ các chức năng chính của con tàu). Do đó, theo tôi nên dùng phiên âm môđun (như ta đã làm với từ cà phê, phim…) như VOA đã làm, hoặc dùng từ gốc module như ta thường dùng với tên các dược phẩm… Đồng ý với tác giả là đoạn văn " sẽ kết nối với một môđun không gian thử nghiệm gọi là Thiên Cung 1" khá tối nghĩa. Còn phần chỉnh, "sẽ ráp nối với một bộ phận thí nghiệm ngoài không gian gọi là Thiên Cung 1" có thể điểu chỉnh thêm một tí nữa, "sẽ ráp nối với một module thí nghiệm ngoài không gian có tên là Thiên Cung 1".

16.  VOA tiếng Việt ngày 28/2/2013: "Công dân cao niên Mỹ quan ngại về việc cắt giảm ngân sách". Đồng ý với câu chỉnh của tác giả "Người già ở Mỹ lo sợ việc cắt giảm ngân sách" đơn giản hơn, tuy nhiên có vẻ từ ‘lo sợ’ hình như chưa phù hợp bằng các từ ‘lo âu/lắng/ngại’ và cũng có thể từ ‘quan ngại’ lại đúng hơn (có nhiều khả năng từ gốc là concern).  Còn nhận xét của tác giả về cách dùng từ trong câu này là đúng nhưng có vẻ hơi nặng nề.

17.  BBC tiếng Việt ngày 18/3/2013: "Nhật Bản sẽ giúp phát hiện ra bất kỳ cú phóng tên lửa nào từ Bắc Hàn." Tôi rất phân vân với nhận xét của tác giả về từ “cú” ở đây vì tác giả không có đưa ra từ nào để thay thế. Còn bản thân tôi cố thử thay bằng các từ ‘đợt’, ‘loạt’, ‘phát’…đều cảm thấy chưa thật phù hợp. Có lẽ cuối cùng ta phải chấp nhận từ ‘cú’ của BBC, và thật ra đây cũng là một từ vay mượn từ tiếng Pháp (coup).

18.  VOA tiếng Việt ngày 19/3/2013: "Tội danh giết người có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù giam, tù chung thân hoặc tử hình." Tôi cho rằng dùng "khung hình phạt" là phù hợp trong văn cảnh này. Khi nói “khung” ta nghĩ tới có một khoảng có chặn dưới (ở đây là 12 năm) và chặn trên (ở đây là 20 năm), còn nếu dùng "mức” thì ta nghĩ tới một thời gian nhất định, chẳng hạn như “mức 15 năm.”

19.  BBC tiếng Việt ngày 18/3/2013: “Mỹ và Nga vẫn nắm giữ hai vị trí đầu tiên trong danh sách(xuất cảng vũ khí) này”. Đồng ý với nhận xét của tác giả về nghĩa của "đầu tiên" (nói về thời gian). Câu văn chỉnh "Mỹ và Nga vẫn nắm giữ vị trí hàng đầu trong danh sách xuất cảng vũ khí" là phù hợp. Thật ra, cũng có thể chỉ dùng từ ‘đầu’ thay vì dùng ‘hàng đầu’ hay ‘đứng đầu’ như tác giả đề nghị.

20.  BBC tiếng Việt ngày 19/3/2013: “Ông (Tony Blair) còn được tin là đã cố vấn cho một số tập đoàn tài chính như JP Morgan và Zurich International.” Đồng ý với nhận xét và câu chỉnh của tác giả, “Còn có tin Ô. Tony Blair đã cố vấn cho một số tập đoàn tài chính như JP Morgan và Zurich International.” Ở đây, lỗi dịch thuật theo kiểu từng từ một là rõ ràng.

Tóm lại, theo nhận xét riêng thì chỉ có vào khoảng non nửa trong các ví dụ trên là có vấn đề cần chỉnh sửa, trong đó có vấn đề về dùng từ và cũng có vấn đề về đặt câu. Có lẽ đây là điểm yếu chung của những người sống ở nước ngoài vốn có vốn từ vựng tiếng Việt đang bị thui chột do ít sử dụng lại còn bị tiếng nói đang dùng chi phối. Do đó, những người làm công việc viết lách ở đây có lẽ cần cảnh giác nhiều hơn về điều này. Còn đối với các từ/cách dùng mới xuất hiện thì chúng ta cũng cần cân nhắc mức độ phù hợp để dùng. Dĩ nhiên, điều này tuỳ thuộc cái nhìn chủ quan của mỗi cá nhân nhưng mỗi người cố gắng đánh giá theo khả năng tối đa của mình thôi. Và chính việc nghiên cứu, tìm hiểu, học tập thêm sẽ giúp ta nâng cao khả năng đánh giá của mình và chắc chắn cũng giúp ta nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ.



[1] Mặc dù chữ quốc ngữ bắt đầu hình thành từ thế kỉ 17 nhưng nền giáo dục bằng chữ quốc ngữ chỉ thật sự bắt đầu phổ biến trong cả nước từ sau 1945 thôi.
[2] Nêu trường hợp này ra tôi không có ý phủ định công lao của các tác giả và sự cần thiết của cuốn sách trong giai đoạn ban đầu này nhưng rõ ràng do hạn chế nên lịch sử nên nội dung cuốn sách chủ yếu sao chép ngữ pháp Tây, Tàu hơn là ngữ pháp tiếng Việt. Hơn nữa, vào thời điểm đó hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt để dựa vào. Công trình có giá trị ‘Syntaxe De La Langue Viêtnamienne’ của L. Cadière mãi tới năm 1958 mới xuất bản nhưng cũng chưa được nhiều người chú ý.
[3] Ở đây tôi không có ý chối bỏ giá trị của cuốn sách này mà chỉ muốn cho thấy hạn chế về mặt ngôn ngữ do ảnh hưởng của nền giáo dục bằng chữ Hán thôi. Những học giả trước đó, đồng thời và thậm chí sau này đều có hạn chế này, ví dụ rất nhiều như Gia Định báo, Đông Dương tạp chí, Việt ngữ nghiên cứu, Việt Nam Sử lược, Tự Lực văn đoàn, Việt Nam thi nhân tiền chiến, Tối cao pháp viện....
[4] Thật ra, có những cách nói đúng ngữ pháp tiếng Việt như nước Nam để chỉ nước ta (như trong quốc ca của VNCH) hoặc dân Nam để chỉ dân Việt, dù có ý thức hoặc không cũng thể hiện óc lệ thuộc Tàu, cụ thể là chịu ảnh hưởng của tư tưởng ‘Hoa vi trung’ (Nam là so với trung tâm là Trung Hoa). Theo tôi những cách nói như vậy cũng cần loại bỏ, kể cả từ Nam trong tên nước Việt Nam. Không biết như thế có quá cực đoan không?
[5] trồng cây xanh theo tôi hiểu là trồng cây góp phần bảo vệ môi trường, không phải là trồng cây ăn trái và cũng không phải là trồng cây cảnh (= trồng kiểng) như vậy không thể bỏ chữ 'xanh' .

No comments: